Đề án Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực của công cụ lãi suất trong giai đoạn hiện nay

Download miễn phí Đề án Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu lực của công cụ lãi suất trong giai đoạn hiện nay





 Năm 2000, NHNN tiếp tục thực hiện việc quản lý và điều hành chính sách lãi suất tín dụng theo cơ chế lãi suất trần và lãi suất tái cấp vốn đối với các tổ chức tín dụng; trong khuôn khổ trần lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi cụ thể phù hợp với quan hệ cung cầu về vốn tín dụng từng giai doạn, nhằm mở rộng tín dụng, góp phần quan trọng vào việc kích thích tăng trưởng kinh tế trong năm.Trần lãi suất trong năm 2000 được điều chỉnh liên tục, phù hợp với chỉ số lạm phát, góp phần thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của Chính phủ thông qua cơ chế nới lỏng lãi suất tín dụng. Có thể nói, đây là năm NHNN điều chỉnh lãi suất tín dụng nhiều nhất từ trước tới nay, lãi suất năm 2000 luôn có xu hướng giảm sau các lần điều chỉnh.

 





Để tải tài liệu này, vui lòng Trả lời bài viết, Mods sẽ gửi Link download cho bạn ngay qua hòm tin nhắn.

Ket-noi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ket-noi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


tiền. Khi nhà nước muốn giảm lượng tiền trên thị trường xuống thì có thể thực bằng cách bán trái phiếu để thu tiền và ngược lại. Do đó khi mức cung tiền tệ tăng lên, lãi suất sẽ giảm xuống (hình 1), giá trái phiếu tăng lên do giá trị hiện tại của thu nhập trong tương lai có giá trị hơn gây ra hiệu ứng của cải và làm dịch chuyển hàm tiêu dùng lên trên- tiêu dùng sẽ tăng lên ở mỗi mức thu nhập. Trong trường hợp này, nếu có tín dụng tiêu dùng thì mức tiêu dùng cũng tăng lên bởi khả năng tín dụng và khả năng trả nợ vay tín dụng.
6) ảnh hưởng của công cụ lãi suất đối với tiết kiệm.
Phương trình kinh tế lượng sử dụng để kiểm nghiệm mối quan hệ giữa tiết kiệm S và lãi suất tiền gửi i và lãi suất thực ir trung bình năm của loại kỳ hạn 3 tháng ở Việt Nam từ 1989 đến 1996 (xem bảng II) cho kết quả sau:
S=9707,2205 – 134,64106 i + [Ma(1)=0,9206 , Backcast=1989]
(7,77) (-3,950) (13,79)
R2*= 0,95 ; Adj.R2= 0,92 ; DW=1,64 ; SMPL= 89 – 95
S=7106,131 – 129,381 ir
(7,3685) (-13,79)
R2 =0,7335 ; Adj. R2=0,68 ; DW=1,6 ;SMPL =89 – 95
Chú thích :
Ma(1) : Biến xử lý trung bình dịch chuyển.
Backcast=1989 :Số liệu so với năm 1989.
R2 :Trung bình bình phương các sai số
Adj : Adjuste _điều chỉnh
SMPL: Sample_mẫu chọn số liệu
Bảng 2 Các chỉ số tiết kiệm ,lãi suất danh nghĩa trung bình ,
lãi suất thực
Năm
Tiết kiệm(tỷ đồng
Giá 1989)
i danh nghĩa
(% năm)
ir thực tế
(% năm)
1989
-400
97,0
62,5
1990
2.443
54,0
13,4
1991
3.270
42,0
25,6
1992
4.500
35,5
17,9
1993
5.710
21,6
16,4
1994
6.969
16,8
2,4
1995
8.840
16,8
4,1
1996
13,5
9,0
Trong phương trình này, các hệ số ở biến i và ir âm, tức là khi lãi suất tiền gửi của hộ gia đình tăng lên sẽ làm cho nhu cầu về tiết kiệm giảm đi, hay nói theo cách tương đương là, khi lãi suất tiền gửi ngân hàng giảm thì tiết kiệm tăng lên. Điều này trái ngược với lý thuyết ‘kinh điển’ (về mặt lý thuyết khi lãi suất ngân hàng tăng lên thì chi phí cơ hội cho việc giữ tiền lên do vậy xu thế tiết kiệm tăng lên ), nhưng phản ánh đúng thực tế ở Việt nam thời gian qua. Vậy điều này cần giải thích như thế nào?
Thực ra, diễn biến tiết kiệm và lãi suất ở Việt nam không hẳn trái nghịch với quy luật kinh tế khách quan. Yếu tố tạo ra hiện tượng không bình thường này chính là vì lãi suất tiền gửi ở Việt nam thời gian qua rất khác biệt với lãi suất bình thường trong nền kinh tế thị trường đã ổn định. Do vậy dù lãi suất thị trường danh nghĩa giảm từ năm này qua năm khác, nhưng lãi suất thực nói chung vẫn còn cao, tác dụng hấp dẫn tiết kiệm vẫn còn lớn.
Như vậy có thể nói, trong mấy năm vừa qua tỷ lệ tiết kiệm ở nước ta tăng nhanh nhờ chủ yếu vào ổn định nền kinh tế và phần nào chính sách lãi suất dương hợp lý. Tuy nhiên mặc dù tỷ lệ tiết kiệm tăng nhanh nhưng mức tiết kiệm của nước ta vẫn còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và thấp xa so với nhu cầu đầu tư.
Phần II :
tác động trên thế giới và thực trạng
lãi suất ở Việt Nam thời gian qua
I. Tác động trên thế giới và diễn biến lãi suất ở Việt nam.
Trong xu hướng toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế, ngân hàng trung ương mỗi quốc gia khi tiến hành điều chỉnh lãi suất của mình trước hết phải xem xét tới diễn biến lãi suất trong khu vực và trên thế giới.
Mới đây tháng 4/1999, ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) đã tuyên bố cắt giảm mức lãi suất chiết khấu cơ bản từ 3% xuống còn 2,5%. Đồng thời mức lãi suất áp dụng cho các ngân hàng vay vốn trực tiếp của ECB cũng hạ từ 4,5% xuống 3,5%.
Các chuyên viên của Ngân hàng nhà nước Việt nam cho rằng, quyết định nói trên đã mở màn cho đợt cắt giảm lãi suất ở Châu Âu. Cũng trong tháng 4/1999 Ngân hàng trung ương Anh đã tuyên bố sẽ cắt giảm lãi suất Repo từ 5,5% xuống 5,25%. Uỷ ban chính sách tiền tệ Anh quốc cho biết, việc cắt giảm lãi suất được đưa ra trong điều kiện tỷ lệ lạm phát nằm dưới mức mục tiêu về tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Đây là cú cắt giảm lần thứ 6 của Ngân hàng trung ương Anh kể từ tháng 11/1999 và cũng là lần cắt giảm lãi suất nhiều nhất. Tiếp đến trong tháng 6 năm 1999 ngân hàng trung ương Anh quốc một lần nữa cắt giảm lãi suất xuống mức thấp trong vòng 22 năm gần đây, lãi suất giao dịch chính thức giảm từ 5,25% xuống 5%. Theo bước 2 ngân hàng trên Ngân hàng trung ương Thụy sỹ cũng đã cắt giảm lãi suất chiết khấu chủ chốt từ 1% xuống còn 0,5% và Ngân hàng trung ương Séc cắt giảm lãi suất từ 7,5% xuống 7,2%.
Các ngân hàng thương mại Việt nam huy động ngoại tệ để cho vay lại một phần, phần còn lại để gửi ra thị trường nước ngoài. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đã làm tăng rủi ro trên thị trường quốc tế. Các tổ chức tín dụng Việt nam đã phải thu hẹp hình thức đầu tư tại hầu hết các thị trường tiền gửi quốc té và việc đầu tư vào trái phiếu của chính phủ Mỹ được quan tâm hơn cả, sau đó là việc gửi tiền vào các ngân hàng nước ngoài có độ tín nhiệm từ AA trở lên và sang thị trường SIBOR, LIBOR. Loại hình đầu tư vào trái phiếu của chính phủ Mỹ thường chiếm tỷ trọng 25% –35% tổng số vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng và ngân hàng trung ương ra thị trường nước ngoầi, còn tiền gửi ngắn hạn vào thị trường SIBOR, LIBOR chiếm tỷ trọng 10%- 15%. Lãi suất trên các thi trường quốc tế giảm mạnh đã ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của các ngân hàng Việt nam.
Năm 1994, tại hội nghị giám đốc ngân hàng, chủ trương hạ lãi suất đã được công bố nhưng lại bãi bỏ vì tỷ lệ lạm phát vượt quá 10%. Ba năm sau, năm 1996 chúng ta mới hạ được lãi suất. Năm 1997, Ngân hàng nhà nước tiếp tục cắt giảm lãi suất. Sang năm 1998 Ngân hàng nhà nước đã có quyết định điều chỉnh hạ lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức kinh tế tại các tổ chức tín dụng và trần lãi suất cho vay bằng đồng USD nhằm hỗ trợ và cho giải pháp về quản lý và mở rộng tín dụng bằng đồng USD. Xu hướng lãi suất giảm thấp đã cho phép nền kinh tế thế giới cũng như Việt Nam phục hồi và đi lên (GDP năm 1999 tăng 9%, năm 2000 tăng 7,2%) nhưng cho đến thời điểm hiện nay, năm 2001 thì sự phát triển rất khả quan báo hiệu sự tăng trưởng khá và GDP tăng khoảng 6,7% so với năm 2000 ). Do mức lãi suất nội tệ hiện nay tuy ở mức cao so với nền kinh tế phát triển nhưng không phải là cao so với một số nước trong khu vực. Lãi suất thực của đồng Việt nam có xu hướng giảm so với năm 1997 (lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 năm phổ biến ở mức 10,2% - 10,56%, lạm phát năm 1997 là 3,6%, do đó lãi suất thực là 6,6% - 7%, năm 1998 lãi suất tiền gửi 1 năm là 12% nhưng lạm phát khoảng 10% nên lãi suất thực là 2% và năm 1999 mức lạm phát cũng tương tự như năm 1998. Do lạm phát tăng cao nên trong thời kù ngắn hạn vẫn chưa có sự thay đổi lãi suất cho vay tối đa đồng Việt nam vì việc tăng lãi suất sẽ gây khó khăn cho việc mở rộng tín dụng và giảm lãi suất sẽ không huy động được vốn ngân hàng. Như vậy hoạt động cho vay sẽ có sự lựa chọn hơn và chương trình kinh tế ưu đãi vẫn được hỗ trợ theo chính sách lãi suất ưu đãi hiện hành.
Với tác động của việc giảm lãi suất quốc tế và xu hướng phân tích như trên sẽ tăng sức ép giảm giá đối với đồng USD do các kho
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học ©