Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị viêm tụy cấp do tăng triglyceride

Chia sẻ luận văn thạc sĩ Y cho anh em:


Viêm tụy cấp là một quá trình tổn thương tụy cấp tính của tụy, bệnh thường xảy ra đột ngột với những triệu chứng lâm sàng đa dạng, phức tạp từ viêm tụy cấp nhẹ thể phù đến viêm tụy cấp nặng thể hoại tử với các biến chứng suy đa tạng nặng nề tỉ lệ tử vong cao.Ở Mỹ hàng năm có khoảng 250.000 trường hợp nhập viện vì viêm tụy cấp[32]. Ở Việt Nam trong những năm gần đây qua một số nghiên cứu và thống kê cho thấy viêm tụy cấp ngày càng gia tăng[16].
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ứng dụng trong y học(siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, máy xét nghiệm sinh hóa, huyết học…) đã giúp cho việc chẩn đoán bệnh viêm tụy cấp được đẽ dàng hơn,đánh giá mức độ nặng của bệnh tốt hơn, và biết rõ nguyên nhân gây ra bệnh để phục vụ cho công tác tiên lượng và điều trị được tốt hơn.Đồng thời với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ứng dụng trong y học, sự hiểu biết về cơ chế bệnh sinh của VTC đã rõ ràng tụy bị tổn thương do nhiều cơ chế và hậu quả giải phóng ra các cytokine như IL-1, TNF-α, IL-6, IL-8…, tăng phản ứng tế bào bạch cầu và các tế bào nội mạc mạch máu và tăng áp lực ổ bụng.Do đó điều trị viêm tụy cấp cũng có nhiều tiến bộ như điều trị nguyên nhân viêm tụy cấp (nhiễm khuẩn, do sỏi, rối loạn chuyển hóa mỡ …) và biện pháp can thiệp điều trị nguyên nhân như nội soi ngược dòng lấy sỏi, các biện pháp điều trị hỗ trợ, các biện pháp về hồi sức:bù dịch trong 48h đầu, lọc máu liên tục, thay huyết tương(PEX),lọc máu ngắt quãng…
Viêm tụy cấp ngày càng được tìm hiểu sâu hơn và tìm hiểu rõ hơn về bệnh cảnh lâm sàng, cơ chế của nguyên nhân gây ra.Có rất nhiều nguyên nhân gây ra viêm tụy cấp, đứng hàng đầu là do sỏi mật và nghiện rượu chiếm khoảng 80% viêm tụy cấp,tiếp sau đó là do tăng triglyceride đứng hàng thứ nhì chiếm khoảng 4% viêm tụy cấp (có những nghiên cứu lên tới 7%).Viêm tụy cấp do tăng triglyceride và là một nguyên nhân thường không được chú ý tới và hay bị bở qua trong chẩn đoán, nó chỉ được chú ý tới khi không tìm được các nguyên nhân khác hay tình cờ phát hiện (xét nghiệm thấy triglyceride rất cao) hay thấy mẫu mỡ máu đục như sữa.Cùng với sự phát triển của xã hội, chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao, nguy cơ mắc bệnh viêm tụy cấp do tăng triglyceride sẽ cao hơn.Vậy tại sao tăng triglyceride lại gây viêm tụy cấp? Mức độ tăng triglyceride bao nhiêu thì gây viêm tụy cấp? Nguyên nhân nào gây tăng triglyceride đến mức gây ra viêm tụy cấp? Triêu chứng lâm sàng và xét nghiệm có gì khác biệt so với viêm tụy cấp do các nguyên nhân khác? Điều trị viêm tụy cấp do tăng triglyceride có gì khác biệt so với viêm tụy cấp do các nguyên nhân khác?.

Hiện nay, viêm tụy cấp do tăng triglyceride đang được chú ý đến nhiều và đang được nghiên cứu sâu hơn.Ở Việt Nam chưa thấy có nghiên cứu nào về vấn đề này vì vậy chúng tui tiên hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị viêm tụy cấp do tăng triglyceride ” với mục tiêu sau:
1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng viêm tụy cấp tăng triglyceride máu.
2. Đánh giá điều trị viêm tụy cấp tăng triglyceride theo phác đồ tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh Viện Bạch Mai từ tháng 1/2009 đến tháng 12/2012.




CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 . Lipid máu
1.1.1. Các khái niệm về lipid máu[18] [14] [43] [55] [58] [59]
Lipid máu là một trong những thành phần cơ bản của sinh vật, thực vật, động vật.Trong cơ thể lipid chia thành hai loại: Lipid dự trữ và lipid màng.
- Lipid dự trữ chủ yếu là Triglycerid, tồn tại trong cơ thể với lượng thay đổi.Lipid dự trữ được tạo thành một phần do thức ăn, một phần do nguồn gốc nội sinh bởi quá trình tổng hợp từ glucid hay protid.
- Lipid màng gồm chủ yếu là: Phospholipid và cholestrerol, là thành phần không đổi của tổ chức chiếm 10% trọng lượng khô của tổ chức.
Các axit béo có thể trao đổi tự do và tạo thành các lipid khác nhau của tế bào.
1.1.1.1. Triglyceride:
Glyceride là este của glycerol và 3 axit béo, là chất trung tính. Glycerol có ba chức rượu, tùy theo một, hai, ba chức rượu của glycerol được este hóa bởi axit béo mà tạo nên monoglyceride, diglyceride, triglyceride.Trong đó phần lớn là triglyceride(TG) còn monoglyceride và diglyceride chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. TG được tổng hợp ở gan và mô mỡ qua con đường glycerolphosphat, 90% TG trong huyết tương có nguồn gốc ngoại sinh.Sau bữa ăn TG dưới dạng chylomicrons sẽ tăng cao trong 1- 2 giờ đầu cao nhất sau 4-5 giờ sau đó sẽ được chuyển hóa hết sau 8 giờ.
TG được tổn hợp từ gan sẽ được phóng thích vào huyết tương trong tiểu phân lipoprotein có tỷ trọng rất thấp VLDL.

Hình 1.1: Phân tử tryglyceride
1.1.1.2. Cholesterol (CT): Là tiền chất của hormon steroid, axit mật, là thành phần cơ bản của màng tế bào.
- CT được hấp thu ở ruột non, gắn vào chylomycrons và được vận chuyển tới gan. CT có tác dụng ngược điều hòa tổng hợp chính của nó bằng cách ức chế men Hydroxymethyl Glutaryl CoA reductaza (HMG CoA reductaza).
1.1.1.3. Phospholipid (PL): Được tổng hợp ở hầu hết các mô, chủ yếu ở gan, phần còn lại được hấp thu ở ruột PL là hành phần cơ bản của màng tế bào, góp phần tạo nên vỏ bọc của lipoprotein.
1.1.1.4. Axit béo tự do: Gắn kết với albumin, là nguồn năng lượng chính của nhiều cơ quan (tim, não, các mô ) gồm các axit béo no và không no.
1.1.2. Lipoprotein
Trong máu tuần hoàn cơ thể người, lipid chính bao gồm cholesterol toàn phần (cholesterol tự do và cholesterol este), triglycerid (TG), phospholipid, và acid béo tự do. Để lipid có thể vận chuyển được trong dòng máu, nó phải được kết hợp với protein đặc hiệu tạo nên lipoprotein (LP) tan trong nước, các protein này được gọi là “apolipoprotein” hay “apoprotein”. Albumin là chất vận chuyển chính của các acid béo tự do, các lipid khác được lưu hành trong máu dưới dạng các phức hợp lipoprotein [17], [6], [16],[12], [38].


Xem link download tại Blog Kết nối!
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học ©