Khảo sát trường từ vựng, ngữ nghĩa về quê hương và thời cuộc trong Tuyển tập Mười năm của nhà báo Phan Quang

Link tải miễn phí luận văn
Bước đầu khảo sát trường từ vựng - ngữ nghĩa về quê hương và thời cuộc trong Tuyển tập Mười năm của nhà báo Phan Quan
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích và nội dung nghiên cứu 6
4. Ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu 6
5. Bố cục 7
NỘI DUNG 8
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO LUẬN VĂN 8
1.1. Từ, nghĩa của từ và trường từ vựng ngữ nghĩa 8
1.1.1. Từ 8
1.1.2. Nghĩa của từ 12
1.1.2.1. Quan điểm về nghĩa của từ 12
1.1.2.2. Các thành phần nghĩa 16
1.1.3. Trường từ vựng ngữ nghĩa 19
1.2. Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa 21
1.2.1. Tính hệ thống của trường từ vựng - ngữ nghĩa 21
1.2.2. Các loại trường từ vựng - ngữ nghĩa 22
1.2.2.1. Trường nghĩa biểu vật 23
1.2.2.2. Trường nghĩa biểu niệm 24
1.2.2.3. Trường nghĩa tuyến tính 25
1.2.2.4. Trường liên tưởng 26
1.3. Giá trị biểu đạt của trường từ vựng - ngữ nghĩa 26
1.3.1. Giá trị biểu đạt hiện thực khách quan 26
1.3.2. Giá trị biểu đạt tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo 29
Tiểu kết chương 1 31

Chương 2. TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VỀ QUÊ HƯƠNG 32
2.1. Ngữ liệu của trường từ vựng - ngữ nghĩa về quê hương 32
2.1.1. Tổng quan về tài liệu khảo sát 32
2.1.2. Phân loại các từ 32
2.1.3. Nhận xét 34
2.2. Sự phân bố về các tiểu trường theo chủ đề quê hương 35
2.2.1. Tiêu chí phân lập các tiểu trường 35
2.2.2. Các tiểu trường nói về chủ đề quê hương 35
2.3. Giá trị biểu đạt của các trường về quê hương 36
2.3.1. Trường từ về địa danh quê hương - đất nước 36
2.3.2. Trường từ về quan hệ thân tộc 38
2.3.3. Trường từ về sinh hoạt truyền thống, tâm linh 40
2.3.4. Trường từ về cảnh vật quê hương gắn với kỷ niệm tuổi thơ 42
2.3.5. Nhận xét chung 47
2.3.5.1. Nỗi lòng của người con xa quê hương 47
2.3.5.2. Từ ngữ thân thuộc, bình dị 51
Tiểu kết chương 2 55
Chương 3. CÁC TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA VỀ THỜI CUỘC 57
3.1. Ngữ liệu của các trường từ vựng - ngữ nghĩa về thời cuộc 57
3.1.1. Tổng quan về tài liệu khảo sát 57
3.1.2. Phân loại các từ 57
3.1.3. Nhận xét 60
3.2. Sự phân bố về các tiểu trường theo chủ đề thời cuộc 61
3.2.1. Tiêu chí phân lập các tiểu trường 61
3.2.2. Các tiểu trường về chủ đề thời cuộc 61
3.3. Giá trị biểu đạt của các trường về thời cuộc 62
3.3.1. Trường từ về thiên tai dịch bệnh 62
3.3.2. Trường từ về tệ nạn xã hội 64
3.3.3. Trường từ về mục tiêu phát triển đất nước 66
3.3.4. Trường từ về hướng phát triển của đất nước 68
3.3.5. Nhận xét chung 71
3.3.5.1. Cập nhập thời sự nóng hổi 71
3.3.5.2. “Quyền năng và trách nhiệm” của một nhà báo 72
3.3.5.3. Tầm nhìn của một chính khách 77
Tiểu kết chương 3 79
PHẦN KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 88

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nhà báo Phan Quang là nhà báo lớn của nền báo chí Việt Nam. Tên thật của ông là Phan Quang Diêu, sinh năm 1928 tại xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ông bắt đầu viết báo từ năm 1948. Ông từng làm việc tại báo Cứu quốc liên khu IV, báo Nhân Dân, là tổng biên tập của tạp chí Người làm báo, chủ nhiệm Tuần báo Nhà báo và Công luận, ban Tuyên huấn Trung ương. Ông thường được gọi với cái tên đầy trân trọng là “ông quan làm báo” vì đã nắm giữ rất nhiều các chức vụ quan trọng như: Thành viên Ban lãnh đạo Liên đoàn báo chí các nước ASEAN, Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội các khóa 8, 9 và 10, Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, Tổng giám đốc đài tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch hội Nhà báo Việt Nam.
1.2. Bên cạnh sự nghiệp báo chí vô cùng lớn lao, độc giả còn biết đến ông với vai trò là một nhà văn có nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau. Nhà báo lớn mang “nghề báo nghiệp văn” này đã dịch và giới thiệu các tác phẩm Nghìn lẻ một ngày, Nghìn lẻ một đêm, Những ngôi sao ban ngày, 12 sử thi huyền thoại, Sử thi huyền thoại Đông Tây, ông còn cho ra mắt độc giả 6 tập ký (Quê hương, Thơ thẩn Paris, Bên mộ vua Tần, Đồng bằng sông Cửu Long, Miền Trung ngày ấy chưa xa, Du ký), 2 tập tiểu luận (Về diện mạo báo chí Việt Nam, Nghề báo nghiệp văn), 2 tập truyện thiếu nhi (Một mình giữa đại dương, Chinh phục Hymalaya), 1 cuốn tuyển tập (Phan Quang tuyển tập) và 3 tập dáng trong nước và nước ngoài (Những người tui quý mến, Phác họa chân dung). Các tác phẩm này không phải là “cuộc dạo chơi” sang làng văn chương của một nhà báo bởi chúng đã chứng minh được sức sống bền bỉ của mình trong lòng độc giả, cụ thể cuốn Nghìn lẻ một ngày đã được in lần thứ sáu, Nghìn lẻ một đêm tái bản lần thứ hai mươi lăm…
1.3. Năm 2008 cuốn Phan Quang tuyển tập mười năm ra mắt độc giả. Có thể nói đây là “cái nhìn toàn cảnh” về sự nghiệp cầm bút của ông trong giai đoạn mười năm gần đây. Tuyển tập này chọn lọc một số bài viết của ông trong giai đoạn từ 1998 - 2008, tất cả đều đã được đăng trên các báo, tạp chí hay đã được in thành sách. Tuyển tập mười năm được chia làm năm phần, trong đó có một phần quan trọng là Quê hương và thời cuộc. Qua các bài viết nhà báo đã giành những tình cảm sâu đậm để nói về quê hương Bình Trị Thiên và đất nước Việt Nam, đồng thời cũng nêu lên những vấn đề lớn của thời cuộc bằng cái nhìn của một chính khách.
1.4. Ở Việt nam việc vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học vào nghiên cứu tác phẩm báo chí đã có những tiền lệ, các công trình đó thường là nghiên cứu về mặt hành chức của các tác phẩm báo. Lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa rất ít khi được áp dụng vào nghiên cứu tác phẩm báo chí, có chăng như ông Đỗ Hữu Châu đã chỉ ra việc nghiên cứu trường liên tưởng trong tác phẩm văn học mà thôi. Vậy nên, chúng tui sẽ tiến hành thử nghiệm việc nghiên cứu tác phẩm báo chí áp dụng lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa. Do dung lượng của cuốn ttmn quá dài, nên chúng tui đã khoanh vùng phạm vi nghiên cứu trong phần 5 - Quê hương và thời cuộc.
1.5. Với những lý do đó chúng tui đã chọn đề tài “Bước đầu khảo sát trường từ vựng - ngữ nghĩa về quê hương và thời cuộc trong Tuyển tập mười năm của nhà báo Phan Quang” để nghiên cứu về tác phẩm của ông bằng cách tiếp cận ngôn ngữ học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa được đưa ra bởi hai nhà ngôn ngữ người Đức J.Trier và L.Weisgerber. Trước đó thì đã có những lý thuyết khẳng định về quan hệ giữa các từ trong một ngôn ngữ.
Ở Việt Nam giáo sư Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm và có nhiều công trình về lý thuyết trường. Định nghĩa trường của ông được rất nhiều người chấp nhận và sử dụng phổ biến: Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa.
- Năm 1973, ông có công trình “Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa”.
- Năm 1975, Giáo sư Đỗ Hữu Châu tiếp tục trình bày cụ thể về trường và việc nghiên cứu từ vựng.
Các công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu đã cung cấp một hệ thống lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa. Thực chất hiện giờ lý thuyết về trường từ vựng - ngữ nghĩa ở Việt Nam tồn tại nội dung sau:
Trường từ vựng ngữ nghĩa được chia làm bốn loại căn cứ vào các loại ý nghĩa của từ bao gồm: Trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng.
Các nhà nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết này để nghiên cứu tiếng Việt. Đặc biệt, trường nghĩa liên tưởng được áp dụng nhiều khi nghiên cứu tác phẩm văn học. Ví dụ một số công trình tiêu biểu như:
- Năm 1988, Nguyễn Đức Tồn có luận án PTS “Trường từ vựng bộ phận cơ thể người”.
- Năm 1996, Nguyễn Thúy Khanh có luận án PTS “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật”.
- Năm 1999, Đinh Thị Oanh bảo vệ luận văn Thạc sĩ “Cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ thuộc trường “thực vật”.
- Năm 2002, Nguyễn Đức Tồn xuất bản công trình “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt”. Ở chương thứ 8 đã chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa của trường gọi thực vật.
- Năm 2007, GS. TS. Đỗ Thị Kim Liên có bài báo “Trường ngữ nghĩa biểu hiện quan niệm về nữ giới trong tục ngữ Việt” (Đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 6 (140) - 2007).
- Năm 2007, Phan Thị Thúy Hằng bảo vệ luận văn Thạc sĩ “Trường từ vựng tên gọi các loại cây trong ca dao của người Việt”.
- Năm 2008, Lê Thị Thanh Nga bảo vệ luận văn Thạc sĩ “Đặc điểm lớp từ ngữ thuộc trường nghĩa chỉ vật dụng - biểu tượng tình yêu trong ca dao tình yêu lứa đôi”.
- Năm 2009, TS. Hoàng Anh, Nguyễn Thị Yến có bài báo “Trường nghĩa ẩm thực trong các bài báo viết về bóng đá” (Đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 7 (165) - 2009).
- Năm 2010, Trần Thị Mai có bài báo “Trường từ vựng chỉ không gian trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận” (Đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2 (171+172) - 2010)

Ở các công trình trên lý thuyết trường được vận dụng vào nghiên cứu với vai trò là cơ sở tập hợp từ để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu khác nhau. Như các công trình của tác giả Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Thúy Khanh, Phan Thị Thúy Hằng, Đỗ Thị Kim Liên tập hợp các trường từ để nghiên cứu về đặc trưng văn hóa. Tác giả Đinh Thị Oanh nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ về mặt ngữ nghĩa nhưng chỉ gói gọn trong phạm vi các vị từ. Tác giả Lê Thị Thanh Nga thì nghiên cứu về mặt đặc điểm của từ ngữ. Tiến sĩ Hoàng Anh và Lê Thị Yến nghiên cứu trường nghĩa ẩm thực trong các bài viết về bóng đá để chỉ ra sự sinh động trong cách sử dụng từ ngữ. Bài viết của tác giả Trần Thị Mai áp dụng lý thuyết trường từ vựng ngữ nghĩa để nghiên cứu về ngôn ngữ thơ.


Xem link download tại Blog Kết nối!
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học ©