Báo cáo thực tập tại công ty thương mại và dịch vụ Hoàng Gia

Download miễn phí Báo cáo thực tập tại công ty thương mại và dịch vụ Hoàng Gia





*Phương pháp định mức lao động của doanh nghiệp phần lớn là các định mức của công ty giao đánh giá là các định mức của ngành và nhà nước. Đó là các định mức có tính tổng hợp.

*Định mức lao động trong các doanh nghiệp nhà nước là cơ sở để kế hoạch hóa lao động, tổ chức sử dụng lao động phù hợp, nhiệm vụ của doanh nghiệp là để xây dựng đơn giá tiền lương và trả lương gắn liền năng suất chất lượng kết quả công việc của người lao động. Khi xây dựng định mức chung, doanh nghiệp đồng thời phải xác định độ phức tạp lao động và cấp bậc công việc bình quân theo phương pháp gia quyền.

 





Để tải tài liệu này, vui lòng Trả lời bài viết, Mods sẽ gửi Link download cho bạn ngay qua hòm tin nhắn.

Ket-noi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ket-noi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


n đối và các khoản thu chi.
- Phòng kinh doanh
- Phòng kỹ thuật
- Phòng tài vụ
- Phòng tổ chức lao động
*Kế toán của công ty gồm:
+ Kế toán trưởng
+ Kế toán tổng hợp
+ Kế toán thanh toán theo dõi công nợ
+ Thủ quỹ.
Hội đồng quản trị
Ban giám đốc
Phòng kỹ thuật
Phòng đối ngoại
Phòng tổ chức hành chính
Phòng kế hoạch
Phòng tổ chức kế toán
Phòng kinh doanh
Phòng tài vụ
Phòng tổ chức lao động
Sơ đồ
IV. Những thuận lợi và khó khăn của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm vừa qua.
1. Thuận lợi:
Là 1 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, đã trải qua 5 năm hình thành và phát triển. Công ty đã có những cố gắng và nỗ lực quyết tâm trụ vững trong nền kinh tế thị trường. Được kết hợp với sự khéo léo của ban giám đốc, cùng sự chỉ đạo của phòng ban trong những năm qua, đã giúp cho doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả kinh tế. Hàng năm lợi nhuận tăng lên.
2. Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi đã nêu trên. Công ty cũng gặp phải không ít khó khăn do yếu tố chủ quan và khách quan mang lại.
- Về chi phí mua hàng hóa: trong khi tiến hành hoạt động kinh doanh, công ty vẫn chưa tìm được hàng hóa đạt tiêu chuẩn, gây nên khó khăn cho công tác tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác, thị trường than của công ty cho đến nay mới chỉ ở phạm vi nhỏ, chưa mở rộng vì vậy công ty cần phát huy về mọi mặt.
3. Một số kết quả hoạt động của doanh nghiệp đã đạt được trong những năm qua.
Trong hoạt động kinh doanh than năm 2002. Công ty đã biết khai thác thế mạnh là sự tín nhiệm của bạn hàng đối với mặt hàng. Trình độ chuyên môn cao, nên thu hút được nhiều hợp đồng làm cho doanh số bán hàng của công ty tăng hơn so với năm 2002. Từ đó nâng cao được hiệu quả, hoạt động kinh doanh của công ty đồng thời do công ty có sự quan tâm chú ý trong quản lý, kiểm soát các khoản chi phí một cách hợp lý nên năm 2002 tăng được lợi nhuận cho công ty. Bên cạnh đó, công ty luôn có một đội ngũ kiểm tra, giám sát chất lượng đáng tin cậy cho nên trong quá trình kinh doanh , giá trị hàng hóa kém chất lượng không đáng kể. Do vậy uy tín của công ty trên thị trường được đảm bảo.
Năm 2002, nhờ hoạt động kinh doanh có lãi, công ty đã nâng cao được đời sống vật chất của nhân viên, khuyến khích được nhân viên tận dụng những khả năng của mình để giúp đỡ cho công ty phát triển vững chắc. Có thể nói năm 2002 và năm 2003, công ty đã cố gắng và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.
Kết quả hoạt động kinh doanh
STT
Chỉ tiêu
2002
2003
1
Tổng doanh thu
35.690.205.139
35.916.897.025
2
Tổng chi phí sản xuất kinh doanh (GVHB)
31.114.276.998
31.312.136.884
3
Lợi nhuận kinh doanh
97.266.720
135.416.664
4
Tổng lợi nhuận trước thuế
149.405.251
169.224.189
5
Tỉ số chi phí kinh doanh
87%
87%
6
Tỉ suất lợi nhuận
0,41%
0,47%
7
Vốn kinh doanh bình quân
13.649.377.614
14.324.689.112
8
Hệ số sinh lợi của vốn kinh doanh
1,09%
1,18%
9
Tổng số lao động đến 31/12
52
60
10
Thu nhập bình quân người/tháng
530.000
590.000
Nhìn vào các chỉ tiêu kinh tế trên ta thấy tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng phát triển. Doanh thu tăng từ đó, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng dẫn đến thu nhập của người lao động cũng được nâng cao.
Phần II: Báo cáo thực trạng tình hình quản lý công tác tổ chức lao động tiền lương
I. Một số vấn đề lý luận chung về lao động tiền lương
Trong bất kỳ một hình thái kinh tế xã hội nào, một nền sản xuất cũng phải có 3 yếu tố cơ bản là sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Chính vì vậy công tác tổ chức lao động trong công ty là 1 vấn đề vô cùng quan trọng và phức tạp nhất là nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong cơ chế thị trường, các đơn vị hạch toán kinh tế.
Người lao động bỏ sức lao động của mình kết hợp với tư liệu lao động tác động lên đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Khi đó họ sẽ nhận được ở người chủ của mình một thù lao để tái sản xuất sức lao động và khoản thù lao này chính là tiền lương.
Như vậy: tiền lương (hay tiền công) là số tiền thù lao, lao động phải trả cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đóng góp để sản xuất sức lao động bù đắp hao phí lao động của họ trong quá trình sản xuất sức lao động, bù đắp hao phí lao động của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Tiền lương là phạm trù kinh tế gắn với lao động tiền tệ và nền sản xuất hàng hóa, tiền lương là đòn bẩy kinh tế quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động, có tác dụng khuyến khích người lao động tích cực sản xuất và gắn bó với doanh nghiệp.
Theo quan điểm mới của Đảng và Nhà nước ta, tiền lương phải được trả theo đúng giá trị sức lao động. Điều đó có nghĩa là:
- Tiền lương phải theo đúng cấp bậc công việc
- Tiền lương cao hay thấp là tùy thuộc vào kết quả sản xuất của đơn vị
- Phải gắn chặt tiền lương với tiền lương danh nghĩa là: Điều đó có nghĩa là khi có sự biến đổi về giá cả hàng hóa. Đặc biệt là hàng tiêu dùng thiết yếu doanh nghiệp phải có trách nhiệm bù đắp sự chênh lệch về giá đó ngoài lương.
- Doanh nghiệp phải đảm bảo trả lương đúng thời hạn
- Trong cùng 1 đơn vị đảm bảo công bằng hợp lý.
2. Vai trò của tiền lương
Tiền lương là một phạm trù kinh tế thuộc về lĩnh vực quan hệ sản xuất. Do đó tiền lương hợp lý sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ để thúc đẩy sản xuất phát triển và ngược lại nó sẽ kìm hãm sản xuất. Mặt khác, ta còn thấy trong các mặt quản lý doanh nghiệp, nội dung quản lý phức tạp, khó khăn nhất đó là mặt quản lý con người mà cơ sở để phát sinh ra sự phức tạp khó khăn đó chính là vấn đề phân phối. Có thể nói: muốn cho các mặt quản lý đi vào nề nếp và đạt hiệu quả cao, một vấn đề quan trọng là phải có 1 chế độ tiền lương hợp lý. Xét về mặt kinh tế thuần túy, tiền lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định và phát triển kinh tế gia đình. Nếu tiền lương đảm bảo đủ trang trải và có tích lũy, sẽ tạo điều kiện cho người lao động yên tâm phấn đấu làm việc, đó chính là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển và ngược lại.
Về mặt chính trị – xã hội tiền lương không chỉ ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm của người lao động đối với doanh nghiệp mà còn đối với xã hội. Nếu tiền lương cao sẽ ảnh hưởng tích cực ngược lại, họ sẽ tha thiết với doanh nghiệp, chán nản công việc, oán trách xã hội, thậm chí mất lòng tin vào xã hội, vào tương lai.
3. Chức năng của tiền lương
Như phân tích trên đã trình bày, ta thấy tiền lương giữ vững vai trò quan trọng trong công tác quản lý, trong đời sống và cả về mặt chính trị xã hội. Để giữ được vai trò quan trọng trên, tiền lương phải thể hiện được 4 ***cơ bản sau:
Tiền lương phải đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động
Đây cũng là yêu cầu thấp nhất của tiền lương phải nuôi sống người lao động, duy trì sức lao động của họ.
Đảm bảo vai trò kích thích của tiền lương, vì sự thúc ép của tiền lương, người lao động phải có trách nhiệm cao đối với công việc, tiền lương phải tạo ra niềm đam mê nghề nghiệp vì tiền lương người lao động tự phải không ngừng bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt.
Bảo đảm vai trò điều phối lao động tiền lương: với tiền lương thỏa đáng người lao động tự nguyện nhận mọi công việc được giao dù ở đâu, làm gì.
*Vai trò quản lý lao động của tiền lương: Doanh nghiệp còn sử dụng tiền lương không chỉ với mục đích tạo điều kiện vật chất cho người lao động mà còn với mục đích khác là: thông qua việc trả lương mà kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo ý đồ của mình, đảm bảo tiền lương chi ra phải đem lại hiệu quả và hiệu quả rõ rệt.
Cũng như một người được trả lương rất thấp nhưng tính lương ngày lại cao và lương giờ rất cao vì không làm đủ ngày trong tháng và giờ trong ngày quy định. Tiền lương mà giám đốc công ty chi và trong trường hợp này rõ ràng là không hiệu quả. Doanh nghiệp phải tính toán rất kĩ từng đồng lương chi ra để quản lý lao động chặt chẽ.
II. Thực trạng tình hình quản lý công tác tổ chức lao động tiền lương trong công ty
1. Tổ chức lao động
1.1. Cơ cấu lao động trong doanh nghiệp:
Theo số liệu thống kê, tổng số cán bộ CNV là 210 người trong đó:
- Lao động trực tiếp : 110 người
- Lao động gián tiếp: 100 người
Công ty Thương Mại và Dịch vụ – Hoàng Gia là 1 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với qui mô lớn nên đòi hỏi công ty cần có 1 lượng lao động nhất định (kể cả lao động trực tiếp lẫn lao động gián tiếp). So với mấy năm trước đây, công ty đã có 1 đội ngũ công nhân trẻ, năng động sáng tạo, họ đã góp 1 phần lớn trong sự trưởng thành của công ty.
Công tác tổ chức lao động trong công ty nhìn chung là khoa học, hợp lý, tận dụng triệt để khả năng của cán bộ CNV.
- Phòng tổ chức: 40 người
- Phòng kế hoạch: 39 người
- Phòng kĩ thuật: 15 người
- Phòng kế toán: 5 người
- Văn phòng: 55 người
- Đối ngoại: 20 người
- Kinh doanh: 28 người
- Ban lãnh đạo: 1 giám đốc (1 phó giám đốc, 1 trợ lý giám đốc)
- Phòng bảo vệ: 5 người
Cơ cấu công nhân trong công ty nhìn chung là hợp lý. Đa số công nhân trong công ty hiện nay là từ bậc 3 trở lên.
Những công việc khó được giao cho những công...

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học ©