Sự vận động của Việt nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO

Download miễn phí Tiểu luận Sự vận động của Việt nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO





Quy trình ra quyết định của WTO tiếp tục truyền thống của GATT là đồng thuận chứ không phải bằng bỏ phiếu. Phương pháp này theo WTO, là nhằm đảm bảo cho quyền lợi của các thành viên được coi trọng, "mặc dù có khi họ có thể đồng thuận vì lợi ích chung của hệ thống thương mại đa phương". Nhưng nếu không đạt được đồng thuận thì thoả thuận WTO cho phép đầu phiếu theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và mỗi nước một phiếu. Như vậy, có thể coi, ít ra về hình thức, WTO hình như rất dân chủ.

 Thoả thuận WTO quy định bốn trường hợp bỏ phiếu:

 - Một đa số phiếu ba phần tư có thể thông qua một diễn dịch của bất kỳ hiệp định thương mại đa phương nào.

 - Cũng bằng đa số đó, Hội nghị bộ trưởng có thể quyết định cho một thành viên nào đó lùi thời gian thi hành một hiệp định đa phương nào đó.

 - Những quyết định bổ sung một số điều khoản của các hiệp định thương mại có thể được thông qua nếu được tất cả các thành viên hay được một số hai phần ba chấp thuận, tuỳ theo tính chất của vấn đề. Tuy nhiên, các điều khoản bổ sung đó chỉ có hiệu lực đối với các thành viên đã chấp nhận chúng.

 - Việc kết nạp thành viên mới phải được đa số hai phần ba của Hội nghị cấp bộ trưởng tán thành.

 





Để tải tài liệu này, vui lòng Trả lời bài viết, Mods sẽ gửi Link download cho bạn ngay qua hòm tin nhắn.

Ket-noi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn


Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ket-noi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí

Tóm tắt nội dung tài liệu:


ách 162 triệu fránc thuỹ sy(số liệu nam 2004).Tổng giám đốc:Supâchai Panitchpakdi(Thái Lan).
2-Mục tiêu và chức năng chủ yếu của WTO.
2.1 Mục tiêu của WTO.
Mục tiêu của WTO là khuyến khích tăng dần tự do hoá thương mại thông qua hoạt động đàm phán và thực thi hàng loạt các thoả thuận thương mại đa phương. Đây là mục tiêu to lớn của WTO và nó được thể hiện xuyên suốt, thống nhất trong tất cả các Hiệp định của WTO. Chẳng hạn, Hiệp định đa phương đầu tiên về thương mại trong dịch vụ đã giải thích rõ nghĩa vụ của các thành viên như phạm vi thi hành, đối xử quốc gia, tiếp cận thị trường và đưa ra một khuôn khổ cho tiến trình tự do hoá trong thương mại dịch vụ. Rõ ràng tất cả các điều trên đều nhằm phục vụ cho mục tiêu tự do hoá thương mại.
Có thể thấy rõ nhất mục tiêu này là ở chỗ WTO đã cấm phân biệt đối xử giữa các thành viên, giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước. Chẳng hạn, theo Điều I về đãi ngộ tối huệ quốc - MFN, các thành viên phải đối xử với sản phẩm của các thành viên khác không kém hơn sự đối xử bất cứ quốc gia nào khác. Một hình thức thứ hai về không phân biệt đối xử gọi là "đối xử quốc gia", yêu cầu một khi hàng ngoại đã vào một thị trường phải được đối xử không kém thuận lợi so với hàng nội.
Biểu hiện rõ ràng hơn cả trong mục tiêu này chính là vấn đề cắt giảm thuế quan. Từ năm 1948, sau khi GATT thành lập, trải qua các vòng thương lượng đã tiến hành giảm thuế từng bước, đến vòng cuối cùng, vòng Uruguay thuế đã được giảm mạnh hơn, đồng thời tăng đáng kể số lượng các mặt hàng cần được giảm thuế. Tính ra, theo WTO, trong vòng 5 năm đã cắt giảm được 40% thuế quan đánh vào các mặt hàng công nghiệp nhập vào các nước phát triển, từ mức thuế bình quân 6,3% giảm xuống còn 3,8%, đưa giá trị hàng công nghiệp nhập khẩu được miễn thuế ở các nước phát triển từ 20% lên 44%.
Ngoài ra, trong lời mở đầu văn bản khai sinh WTO còn bao gồm một số mục tiêu phi thương mại như: mức sống cao hơn và toàn dụng lao động, còn các thoả thuận của nó ảnh hưởng tới nhiều chính sách quốc gia về kinh tế và xã hội, chẳng hạn như đầu tư, an ninh lương thực và cả y tế. Trong thực tế các cuộc thương thuyết này đều bị chi phối bởi các lợi ích thương mại của các nước thành viên nên quá trình đàm phán thường rất khó khăn và quyết liệt.
2.2. Chức năng chủ yếu của WTO.
Trước hết , với bản chất pháp lý của mình,WTO co nhiệm vụ điều hành và quản lý các hiệp định thương mại quốc tế Đây la một trong nhưng chức năng quan trọng nhất của WTO vì no thể hiện dược quyền hạn và sức mạnh của WTO
Thú hai đối với các cuộc thương lượng,đàm phán mậu dịch,ƯTO chính là diễn đàn cho các vòng đàm phán thương mại
Thứ ba là với tư cách như một trọng tài,WTO luôn tìm kiếm các giải pháp xử lý tranh chấp thương mại có hiệu quả.
Thư tư la chức năng giám sát các chính sách thương mại quốc gia.đây là chức năng khá quan trọng của WTO vì nó vừa giám sát các quốc gia thành viên xem có thực hiện đúng các hiệp định đã ký kết không,vừa giam sát các quốc gia chưa phải thành viên nhưng đang trong tiến trình đàm phán gia nhập.
Cuối cùng la sự hợp tác với các tổ chức quốc tế khác liên quan tới hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu.
3.Cac nguyên tăc cơ bản của WTO.
Các hiệp định của tổ chức Thương mai Thế giới(WTO)rất nhiều và phức tạp bao gồm cả nông nghiệp,dệt may,ngân hàng,viễn thông,nông nghiệp và thực phẩmTuy nhiên xuyên suốt các hiệp định này là những nguyên tắc,và chung đươc coi là nền tảng của hệ thống thưong mại đa phương .
3.1.Nguyên tắc không phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế.
Mỗi thành viên sẽ dành cho sản phẩm của một thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà thành viên đó dành cho sản phẩm của 1 nước thứ 3(Đãi ngộ Tối huệ quốc-MFN)Tuy nhiên vẫn có một số ngoại lệ trong nguyên tác này.Chẳng hạn các nước có thể thiết lập một hiệp định tự do áp dụng đối với những hàng hoá giao dịch trong một nhóm quốc gia,phân biệt với hàng từ bên ngoài nhóm.
3.2 Thương mại ngày càng được tự do hơn thông qua đàm phán.
Các hàng rào thương mại dần được loại bỏ,cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh,nâng cao sức cạnh tranh hay chuển đổi cơ cấu.Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thoả thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương.Đến nay đã có 8 vòng đàm phán kể từ khi GATT được hình thành vào năm 1947.
3.3 Sự thâm nhập thị trường ngày càng tăng và co thể dụ đoán trước.
Đôi khi cam kết không tăng một cách tuỳ tiện các hàng rào thương mại (thuế quan và phi thuế quan khác)đem lại sự an tâm rất lớn cho các nhà đầu tư.Với sự ổn định,dễ đoán ,thì việc đầu tư sẽ được khuyến khích,việc làm sẽ được tạo ra nhiều hơn và khách hàng sẽ được hưởng lợi từ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường .Hệ thống thương mại đa phương là 1 nỗ lực lớn của chính phủ tạo ra môi trường thương mại ổn định và có thể dự đoán.
Hệ thống thương mai này cũng cố gắng cải thiện khả năng dẽ đoán và sự ổn định theo những cách khác .Một trong những cách làm phổ biến là ngăn chặn sử dụng han nghạch và các biện pháp khác của các nước hạn chế hàng nhập khẩu..Bên cạnh đó,WTO cũng giúp các nguyên tắc thương mại của các nươc trở nên rõ ràng và minh bạch hơn
3.4 Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày cang bình đẳng.
WTO đôi khi được miêu tả như là một hệ thống “thương mại tự do”,tuy nhiên điều đó không hoàn toàn chính xác .Hệ thống này vẫn cho phép sự tồn tại của thuế quan và trong một số trường hợp nhất định, vẫn cho phép có các biện pháp bảo hộ.Như vậy nói một cách chính xác hơn thì WTO đem lai một sự cạnh tranh lành mạnh và công bàng hơn.
WTO cũng có thể han chế tác động tiêu cực của các bien pháp cạnh tranh không bình đảng như bán phá giá , trợ cấp hay dành các đặc quyêbf cho một số doanh nghiệp nhât định.
3.5.Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi.
Các ưu đãi này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển một số quỳen và không phải thực hiện một số quyền và không phải thực hiện một số nghĩa vụ hay thời gian quá độ dài hơn dể điều chỉnh chính sách.
Qua các vòng đàm phán ,lợi ích của các quốc gia,đặc biệt là các nước phát triển đã tăng lên khá nhiều.Sau vòng đàm phán uruguay,các nươc giàu trong WTO đã cam kết sẽ rỗng mở hơn nữa đối với hàng hoá xuất khẩu từ các nước kém phát triển và trợ giup kỹ thuật cho các nước này.Gần đây những nứoc phát triển đã bắt đầu cho phép nhập khẩu tự do,không thuế không hạn nghach đối với tất cả những sản phẩm từ hầu hết các quốc gia kém phát triển trong WTO.
4Tổ chức và hoạt động của WTO
4.1. Cơ cấu tổ chức của WTO.
Hội nghị cấp bộ trưởng là cơ quan quyền lực tối cao của WTO, gồm thay mặt của tất cả các thành viên, ít nhất hai năm họp một lần và có thể ra quyết định về mọi vấn đề thuộc bất kỳ hiệp định thương mại đa phương nào.
Công việc thường ngày do một số cơ quan sau đây chịu trách nhiệm: Đại hội đồng, cũng bao gồm các thành viên, có trách nhiệm báo cáo cho Hội nghị cấp Bộ trưởng. Đại hội đồng điều hành công việc thường xuyên nhân danh Hội nghị cấp bộ trưởng, thành lập hai bộ phận chuyên trách là Cơ quan xử lý tranh chấp (DSB) và Ban kiểm điểm chính sách thương mại (TPRB).
Đại hội đồng giao trách nhiệm cho 3 cơ quan chức năng sau:
- Hội đồng mậu dịch về hàng hoá.
- Hội đồng mậu dịch về dịch vụ.
- Hội đồng mậu dịch về các phương diện liên quan đến sở hữu trí tuệ.
Các hội đồng này hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ được giao, có các tiểu ban giúp việc. Biên chế của Ban thư ký có 500 người, đứng đầu là Tổng giám đốc và bốn Phó tổng giám đốc. Ngân sách của WTO do đóng góp của các thành viên tính theo tỷ phần của mỗi nước trong tổng kim ngạch thương mại thế giới.
4.2. Hoạt động của WTO.
Quy trình ra quyết định của WTO tiếp tục truyền thống của GATT là đồng thuận chứ không phải bằng bỏ phiếu. Phương pháp này theo WTO, là nhằm đảm bảo cho quyền lợi của các thành viên được coi trọng, "mặc dù có khi họ có thể đồng thuận vì lợi ích chung của hệ thống thương mại đa phương". Nhưng nếu không đạt được đồng thuận thì thoả thuận WTO cho phép đầu phiếu theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và mỗi nước một phiếu. Như vậy, có thể coi, ít ra về hình thức, WTO hình như rất dân chủ.
Thoả thuận WTO quy định bốn trường hợp bỏ phiếu:
- Một đa số phiếu ba phần tư có thể thông qua một diễn dịch của bất kỳ hiệp định thương mại đa phương nào.
- Cũng bằng đa số đó, Hội nghị bộ trưởng có thể quyết định cho một thành viên nào đó lùi thời gian thi hành một hiệp định đa phương nào đó.
- Những quyết định bổ sung một số điều khoản của các hiệp định thương mại có thể được thông qua nếu được tất cả các thành viên hay được một số hai phần ba chấp thuận, tuỳ theo tính chất của vấn đề. Tuy nhiên, các điều khoản bổ sung đó chỉ có hiệu lực đối với các thành viên đã chấp nhận chúng.
- Việc kết nạp thành viên mới phải được đa số hai phần ba của Hội nghị cấp bộ trưởng tán thành.
5.Thủ tục gia nhập WTO.
Bất kỳ một quốc gia hay lãnh thổ nào có đủ quyền tự quản trong các chính sách thương mại đều có thể gia nhập Tổ chức thưong mại Thế g...

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học ©