Quỹ nhàn rỗi trong bảo hiểm xã hội

Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết Nối
A.LỜI MỞ ĐẦU
“Mỗi năm nhà nước bỏ ra 10.000 tỷ đồng để trả lương cho khoảng 1 triệu người về hưu trước ngày 1/1/1995. Những người nghỉ hưu sau đó thì với mức đóng như hiện nay chỉ 10-15 năm nữa sẽ dẫn đến chi vượt thu, quỹ bảo hiểm xã hội phá sản”. Đó là thông tin được đưa ra tại buổi thảo luận về dự án Luật bảo hiểm xã hội được Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận vào tháng 8 năm 2005.
Để giải bài toán quỹ phá sản, dự luật bảo hiểm xã hội đã đề ra một loạt chính sách. Thứ nhất, tăng mức đóng bảo hiểm xã hội của cả chủ sử dụng và lao động từ năm 2010 mỗi năm lên 0,5%, tức khoảng 2016 thì tổng mức đóng góp của cả chủ và lao động là 26%. Thứ hai, giảm chi phí quản lý quỹ từ 3,6% như hiện nay xuống mức lý tưởng 2%. Thứ ba, chấm dứt chế độ nghỉ hưu sớm (trước 1999 tuổi nghỉ hưu bình quân của nam là 57,1, nữ 51,9; sau năm 1999 giảm tương ứng còn 54,8 và 49,2). Biện pháp cuối cùng là tiền nhàn rỗi của quỹ được đầu tư và cho vay để bảo toàn và tăng trưởng.
Trước thực tế đó, với vốn kiến thức đã học cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Lê Thị Xuân Hương em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “quỹ nhàn rỗi trong Bảo hiểm xã hội” làm bài tiểu luận của mình.
Như ta đã biết trong hoạt động bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng thường xuất hiện thuật ngữ “quỹ nhàn rỗi”. Chính vì thế mà bài tiểu luận này được thực hiện với mục đích làm sáng tỏ những thắc mắc xoay quanh vấn đề “quỹ nhàn rỗi” như: Thuật ngữ “quỹ nhàn rỗi trong bảo hiểm xã hội” là gì? ,Quỹ này dùng để làm gì?,…
Kết cấu bài tiểu luận ngoài lời nói đầu và kết luận gồm:
I.Lí luận chung về quỹ nhàn rỗi trong BHXH.
II.Đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH.


B.NỘI DUNG
I-LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUỸ NHÀN RỖI TRONG BẢO HIỂM XÃ HỘI.
1.Quỹ Bảo hiểm xã hội.
Trong đời sống kinh tế - xã hội , người ta thường nói đến rất nhiều loại quỹ khác nhau như: quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lương, quỹ tiền thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ tiết kiệm... Tất cả các loại quỹ này đều có một điểm chung là tập hợp các phương tiện tài chính hay vật chất khác cho những hoạt động nào đó theo mục tiêu định trước với những quy định/quy chế nhất định. Quỹ lớn hay nhỏ biểu thị khả năng về mặt phương tiện và vật chất để thực hiện mục tiêu đề ra.
Tất cả các loại quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lượng tĩnh tại tại một thời điểm mà còn luôn luôn biến động theo hướng tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và giảm đi ở đầu ra với các khoản chi như một dòng chảy liên tục. Có thể hình dung quỹ như một bể chứa nước, trong đó đầu vào có nước luôn chảy để nước trong bể ngày càng nhiều lên còn đầu ra là quá trình sử dụng nước làm cho nước trong bể vơi dần đi. Để bảo đảm cho đầu ra ổn định, người ta thiết lập một lượng dữ trữ. Tương tự như với bể nước, đầu vào phải nhiều hơn đầu ra thì trong bể mới luôn luôn có nước. Bởi vậy, để quản lý và điều hành được một quỹ nào đó thì không phải chỉ quản lý được khối lượng tĩnh của nó tại một thời điểm, mà quan trọng hơn là phải quản lý được lưu lượng của nó trong một khoảng thời gian nhất định. Tương tự như vậy, quỹ BHXH cũng được hình thành từ các nguồn thu khác nhau và được sử dụng để chi trả các trợ cấp BHXH cho người thụ hưởng và các chi phí quản lý khác theo quy định của pháp luật. Vì vậy, quỹ BHXH phải được tính toán sao cho nguồn thu phải đủ lớn và phải "chảy" vào "bể" liên tục để đảm bảo các chi phí - "đầu ra" của BHXH không chỉ hiện tại mà cả trong tương lai. Khi mức "chảy" ra lớn, những người hoạch định phát triển BHXH phải tìm cách để tăng nhiều hơn mức "chảy" vào.
Theo những quan niệm về quỹ nói chung như trên, thì quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH (có thể bao gồm người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước trong một số trường hợp) và các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hay mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hay bị mất việc làm và chi phí cho các hoạt động nghiệp vụ BHXH.
Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng; nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
2.Quỹ nhàn rỗi trong bảo hiểm xã hội.
Tỷ lệ thu BHXH từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động so với tổng chi ngày càng tăng từ 34,2% của quý IV/1995 lên 70,5% năm 2000. Điều đó nói lên rằng, công tác thu nộp BHXH đã góp phần quan trọng vào việc hình thành đượ quỹ BHXH tập trung, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước, làm giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước trong việc chi trả các chế độ BHXH đồng thời tạo điều kiện cho cơ quan BHXH Việt Nam chủ động trong việc số tiền tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng trong quỹ BHXH vào đầu tư tăng trưởng quỹ. Số tiền này được hình thành từ khoản chênh lệch thu-chi quỹ BHXH hàng năm được phản ánh rõ nét trong đồ thị dưới đây:
Đồ thị chênh lệch thu – chi quỹ BHXH
(từ quý IV/1995 đên năm 2000)

Qua đồ thị chênh lệch thu-chi quỹ BHXH ở trên ta thấy khoản chênh lệch này tăng lên qua các năm 2.186,5 tỷ đồng năm 1996 lên 3.974,7 tỷ đồng năm 2000, tăng bình quân hàng năm là 447,1 tỷ đồng. Đây là kết qủa rất đáng mừng trong thời kì đổi mới cơ chế quản lí BHXH Việt Nam, nó đã tạo cho quỹ BHXH một khoản tiền tạm thời nhàn rỗi ngày càng lớn, một phần trong đó sẽ được đem vào đầu tư sinh lời và tạo ra một nguồn thu mới cho quỹ BHXH.
Như vậy, do đặc thù người tham gia BHXH đóng phí trong một thời gian dài và thường là rất lâu sau họ mới được hưởng các chế độ trợ cấp dài hạn (như hưu trí, tuất...), đồng thời số người tham gia đóng phí và hưởng tại một thời điểm thường có chênh lệch dương (đôi khi khá lớn) nên quỹ BHXH tại một thời điểm nhất định có số tiền kết dư lớn.Và thuật ngữ “quỹ nhàn rỗi” cũng bắt nguồn từ đó...
II-ĐẦU TƯ TĂNG TRƯỞNG QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI.
1.Mục đích đầu tư.
Nhìn lai hệ thống bảo hiểm xã hội trên thế giới ta thấy: Ở nước Đức không thực hiện đầu tư tăng trưởng quỹ. Nếu trong năm quỹ bị mất cân đối, thu không đủ chi, ngân sách Nhà nước cấp bù để đảm bảo đời sống cho người về hưu;Đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước trong khu vực hầu hết áp dụng mô hình quản lý quỹ dài hạn. Nhiều nước như: Philippin, Malaysia, Singapore... đã xây dựng kế hoạch cân đối quỹ đến năm 2010 - 2020.
Đối với nước ta, do kinh tế chưa phát triển, ngân sách Nhà nước chưa có điều kiện trợ cấp hàng năm cho quỹ BHXH thì áp dụng mô hình cân đối quỹ dài hạn cho 2 chế độ hưu trí và tử tuất là phù hợp nhất. Đây là hai chế độ dài hạn, vì người lao động phải đóng BHXH trong một thời gian dài 15 - 30 năm, khi đủ tuổi đời, đủ số năm đóng BHXH mới được hưởng trợ cấp. Vì vậy, trong thời gian đầu quỹ BHXH luôn còn tồn tích một khối lượng tiền tệ nhàn rỗi. Số tiền tạm thời nhàn rỗi này được Chính phủ cho phép thực hiện các biện pháp đầu tư tăng trưởng quỹ.
Nguồn quỹ nhàn rỗi trong BHXH cần được đầu tư tăng trưởng, vì :
- Trong quá trình hoạt động các nguồn thu của BHXH, bao gồm thu do các đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, đóng góp của Nhà nước trong một số trường hợp và các nguồn thu hợp pháp khác. Các nguồn thu này khi đưa vào quỹ BHXH có một bộ phận được chi dùng ngay (cho các trợ cấp BHXH ngắn hạn) ; nhưng phần lớn dùng để chi trả cho các trợ cấp BHXH dài hạn mà tính từ khi đóng phải hàng chục năm sau mới phải chi (nếu tính riêng cho một người). Đối với những hệ thống BHXH trẻ (như Việt Nam), số người đóng góp hiện tại lớn hơn nhiều so với số người hưởng BHXH hiện tại, thì số tiền chưa được dùng ngay rất lớn. Đây được gọi là phần nhàn rỗi tương đối của quỹ BHXH. Theo quy luật tiền tệ, phần nhàn rỗi của quỹ BHXH không được để đóng băng mà phải được đưa vào lưu thông, phải được đầu tư để tránh những rủi ro về tiền tệ như lạm phát và các rủi ro khác. Do vậy, đầu tư trước hết là để đảm bảo giá trị của phần vốn này, mặt khác phần sinh lời thực tế (sau khi đã trừ đi lạm phát) sẽ làm tăng quy mô của quỹ BHXH, góp phần cải thiện cho các trợ cấp BHXH cả trợ cấp dài hạn và trợ cấp ngắn hạn ; đồng thời đảm bảo cho các hoạt động của BHXH được tốt hơn cả trong hiện tại và tương lai.
- Do thiết kế kỹ thuật, có tính tới yếu tố thu nhập hiện thời của người lao động, nên phí BHXH chỉ là phí tối thiểu. Nếu tính riêng cho một người lao động thì phần đóng góp của anh ta/chị ta không đủ chi trả cho họ từ sau khi nghỉ hưu cho đến khi họ chết. Chính vì vậy, trong kỹ thuật tính phí BHXH phải dựa trên số đông và có tính đến các yếu tố đầu tư. Do vậy, nếu không đầu tư tăng trưởng quỹ thì quỹ BHXH không thể chi dùng đủ cho tương lai, trong khi nhu cầu thụ hưởng của người lao động ngày càng cao theo thời gian.
- Là một bộ phận của tài chính quốc gia, muốn nền kinh tế tăng trưởng, cải thiện đời sống chung cho nhân dân, các nguồn lực tài chính phải được huy động tối đa, do vậy sự huy động phần nhàn rỗi của quỹ BHXH vào nền kinh tế là yêu cầu có tính khách quan, vừa góp phần tăng trưởng quỹ, vừa góp phần tăng vốn cho nền kinh tế. Thông qua việc đầu tư vốn vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế hay các thị trường tài chính (thông qua mua cổ phiếu, trái phiếu...), xã hội quỹ BHXH đã cung cấp một lượng vốn lớn và đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và tăng trưởng nền kinh tế; góp phần lành mạnh hóa thị trường tài chính của đất nước.
- Khi quỹ BHXH ổn định và tăng trưởng, phần chi từ ngân sách Nhà nước cho BHXH sẽ giảm đi và ngân sách Nhà nước sẽ có điều kiện để tập trung chi vào các mục tiêu trọng yếu khác như chi cho đầu tư phát triển, chi nâng cao đời sống xã hội, phúc lợi công cộng..., trong đó có một bộ phận là những người đã và đang tham gia BHXH cũng được hưởng lợi với tư cách là một công dân.
2.Nội dung đầu tư.


Xem link download tại Blog Kết nối!
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học ©