Bài giảng Giới thiệu môn giải phẫu bệnh học

Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết Nối
Mục tiêu học tập
1. Trình bày được nội dung và đặc điểm của môn giải phẫu bệnh học
2. Nêu được 5 phương pháp chính của giải phẫu bệnh
3. Nêu được giá trị của phương pháp tế bào họcvà kỹ thuật chọc hút tế bào bằng kim nhỏ
I. ÐỊNH NGHĨA
Giải phẫu bệnh học là khoa học về các tổn thương, hay nói một cách cụ thể hơn , mổ xẻ phân
tích các bệnh tật về mặt hình thái cũng như cơ chế. Do đó ở nhiều nước người ta không gọi là
giải phẫu bệnh học mà gọi ngắn gọn là bệnh học gồm cả mô bệnh lẫn tế bào bệnh.
Tổn thương là những biến đổi gây nên do bệnh tật, biến đổi không chỉ về hình thái mô
tả được qua các giác quan, mà cả về hóa học, men học, hiển vi điện tử học, v.v...biểu hiện
bằng những rối loạn chức năng.
Hình thái là những đặc điểm phát hiện và mô tả được qua sự quan sát của các giác
quan, căn bản là con mắt, nhưng cũng có thể là những giác quan khác. khi nhìn bằng mắt
thường thì gọi là đại thể. Nhìn với kính hiển vi thì gọi là vi thể . Với kính hiển vi điện tử thì
gọi là siêu vi thể.
II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA MÔN GIẢI PHẪU BỆNH HỌC
Giải phẫu bệnh học, như mọi chuyên khoa không thể tách rời khỏi y học trong nước
cũng như thế giới.
1. Giai đoạn y học kinh nghiệm ( trước năm 1850) là giải phẫu bệnh chỉ mô tả mà không hiểu
ý nghĩa của tổn thương.
2.Giai đoạn giải phẫu bệnh học bệnh căn (từ 1850 -1900) bắt đầu tìm ra nguyên nhân và cơ
chế của các tổn thương.
3.Giai đoạn giải phẫu bệnh học kinh điển (1900 -1950) với các phương pháp cắt nhuộm
thông thuờng và kính hiển vi quang học.
4.Giai đoạn giải phẫu bệnh học hiện đại (từ 1950 cho đến nay) thăm dò sâu sắc bằng những
phương pháp hiện đại như mô hóa học miễn dịch, kính hiển vi điện tử kết hợp với sự định vị,
dẫn đường của siêu âm, CT, MRI.
III.NỘI DUNG CỦA MÔN GIẢI PHẪU BỆNH
Kinh điển người ta chia giải phẫu bệnh học ra hai phần:
1. Giải phẫu bệnh học đại cương
học những tổn thương chung cho mọi bệnh tật mọi cơ quan, bao gồm những nhóm bệnh căn:
-Viêm
-U hay bướu
-Chuyển hóa, dinh dưỡng, nội tiết, miễn dịch.
-Bệnh di truyền, bẩm sinh.
2.Giải phẫu bệnh học bộ phận hay cơ quan
Học những tổn thương riêng của từng cơ quan, bộ máy như bộ máy hô hấp , tiêu hóa, bộ máy
thần kinh v.v...mà những bệnh cũng chỉ nằm trong bốn nhóm bệnh căn bản của giải phẫu bệnh
đại cương.
IV.PHƯƠNG PHÁP CỦA GIẢI PHẪU BỆNH HỌC
2
1. Phương pháp đại thể
2. Phương pháp vi thể bao gồm tế bào học và mô bệnh học
3. Phương pháp h óa mô, hóa tế bào
4. Phương pháp men học, miễn dịch học
V. ÐẶC ÐIỂM CỦA MÔN GIẢI PHẪU BỆNH HỌC
-Tính cụ thể: cơ sở "vật chất" của bệnh tật là những tổn thương được mô tả rõ ràng,
đầy đủ.
-Tính chính xác khó sai lầm, từ vị trí phát hiện do mắt thường đến những chi tiết trông
thấy qua kính hiển vi,
-Tính khách quan: thường ít bị các suy nghĩ chủ quan làm sai lạc.
-Tính tổng hợp: đầy đủ khi khám nghiệm tử thi một cách toàn diện, hay khi phân tích
những thông tin vi thể và những thông tin khác của lâm sàng và cận lâm sàng, để đi đến một
kết luận dứt khoát.
V. GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP TẾ BÀO HỌC VÀ KỸ THUẬT CHỌC
HÚT TẾ BÀO BẰNG KIM NHỎ
1. Ðịnh nghĩa
Phương pháp tế bào học là một khoa học về hình thái tế bào ứng dụng vào việc phát hiện và
chẩn đoán bệnh.
2.Các phương pháp xét nghiệm tế bào học
Chẩn đoán tế bào bệnh học gồm có các phương pháp sau:
2.1. Tế bào học bong (Cytologie exfotiative)
Nhằm xét nghiệm tế bào ở các dịch, chất tiết của cơ thể ví dụ dịch màng phổi, màng tim,
màng bụng v.v...Các chất dịch này thường được quay ly tâm, sau đó lấy cặn để phết lên lam
kính, sau đó cố định, nhuộm và đọc.
2.2. Xét nghiệm tế bào học bằng phương pháp áp (apposition)
Thường áp dụng với các tổn thương hở ở da, niêm mạc mà tay có thể tiếp cận được.
ví dụ cổ tử cung, niêm mạc miệng, môi.
2.3. Xét nghiệm tế bào học bằng phương pháp chọc hút tế bào bằng kim nhỏ
Ðược áp dụng với hầu hết các khối hay tổ chức mà kim có thể với tới.
Trong 3 phương pháp nói trên, phương pháp tế bào học chọc thường được sử dụng nhiều nhất
và hiệu quả nhất.
3. Giá trị phục vụ của phương pháp
Ðể đánh giá vấn đề này, hội nghị các chuyên gia hàng đầu thế giới về phát hiện ung
thư 1968 tại Genève ghi nhận:
- Ưu điểm:
+ Ðơn giản: thực hiện được nhanh chóng, dễ dàng với phương tiện tối thiểu, ít gây khó
chịu. có thể áp dụng rộng rãi ở bất kỳ tuyến y tế nào với độ an toàn cao.
+ Nhậy: có khả năng phát hiện bệnh sớm với tỷ lệ âm tính giả thấp, kết quả rõ ràng.
+ Ðáng tin cậy: bởi tỷ lệ (+) giả thấp.
+ Có hiệu suất: áp dụng cho nhiều bệnh ở nhiều vị trí khác nhau.
+ Tiết kiệm: ít tốn công , của, thời gian, chi phí( Chỉ bằng 1% của mô bệnh học ), ít
tốn bệnh phẩm.
- Nhược điểm: So với sinh thiết thì chọc hút tế bào bằng kim nhỏ: + Rất khó lấy bệnh phẩm ở nhừng tổn thương xơ cứng.
+ Không cho biết đặc điểm cấu trúc mô học của tổn thương.
+ Nếu kỹ thuật không chuẩn xác, những tế bào dễ bị tổn thương khi ngoáy kim hay dàn
phiến đồ quá mạnh làm tế bào bị vỡ, bào tương tan rã tạo ra những hình ảnh thoái hóa giả
tạo. Dưới đây là bảng so sánh giữa các phương pháp:
∆ (+) ∆ (± ) ∆ sai( -)
Lâm sàng 30-35% 40-45% 25-30%
Tế bào học 85-87% 10-12% 3-7%
Mô bệnh học 86-88% 7-10% 6-8%
Trong nghiên cứu khoa học, chẩn đoán của giải phẫu bệnh còn được coi như tiêu
chuẩn vàng (gold standard).
4. Kỹ thuật chọc hút tế bào bằng kim nhỏ
Ðây là kỹ thuật được sử dụng phổ biến ở nước ta trong khoảng 2 chục năm trở lại đây
4.1.Chỉ định
Chỉ định chọc hút tế bào bằng kim nhỏ rất rộng rãi cho mọi tổn thương dạng u, viêm ở các cơ
quan như mô mềm, xương, khớp, hạch cũng như các cơ quan nội tạng như phổi ,gan, thận
v.v...
4.2.Chống chỉ định
Hầu như không có chống chỉ định tuyệt đối, chỉ không nên làm khi:
-bệnh nhân có cơ địa dễ bị chảy máu, máu lâu đông(đối với khối u nội tạng)
-Bệnh nhân đang ở trạng thái nguy kịch: cao huyết áp nặng, đau thắt ngực, sốt cao do
nhiễm trùng, nhiễm độc.
Cần thận trọng trong các trường hợp sau:
-Bệnh nhân có trạng thái hay cơ địa thần kinh nhạy cảm, dễ bị kích thích.
-Do vị trí đặc biệt của tổn thương dễ gây choáng như: tinh hoàn, đầu núm vú
4.3.Khả năng tai biến: trên thực tế tai biến rất ít gặp
-Choáng nhẹ nhất thời: 1%
-Chảy máu nhẹ 10%( tương đương tiêm bắp) .
-Di căn ung thư : tương đương với thăm khám thông thường.
4.4.công cụ và phương tiện:
-Bơm tiêm: tốt nhất là loại 20 ml
-Kim tiêm: chọn độ dài thích hợp vị trí của tổn thương
Ngoài ra công cụ còn có lam kính, pice, bông cồn70 độ, ống nghe, máy đo huyết áp. thuốc
trấn tĩnh, thuốc tê.
4.5.Thủ tục cần thiết trước khi tiến hành lấy bệnh phẩm
-Nghiên cứu kỹ hồ sơ bệnh án, lưu ý đến tuổi, giới.
-Khám kỹ vùng tổn thương
-Giải thích tính chất an toàn và nhẹ nhàng của xét nghiệm
4.6.Chọc hút lấy bệnh phẩm
- Khử trùng như thường lệ
- Gây tê: hầu hết không cần thiết trừ trường hợp cá biệt u ở tinh hoàn, họng. Ðối với
trẻ nhỏ không giải thích được, phản ứng mạnh, nên dùng thuốc trấn tĩnh trước 30 phút. 100
BỆNH CỔ TỬ CUNG
Mục tiêu học tập
1- Trình bày được vị trí giải phẫu và cấu trúc mô học bình thường của cổ tử cung.
2- Mô tả và phân tích được 4 loại viêm cổ tử cung.
3- Định nghĩa và mô tả được loạn sản, ung thư biểu mô tại chỗ và ung thư biểu mô xâm
nhập cổ tử cung.
I. NHẮC LẠI VỀ GIẢI PHẪU VÀ CẤU TRÚC MÔ HỌC CỔ TỬ CUNG
- Cổ tử cung là phần nối liền tử cung với âm đạo, còn thân tử cung là nơi phát triển và chứa
đựng bào thai. Cổ tử cung có dạng như miệng cá, đường kính từ 2-4cm ở người phụ nữ chưa
sinh đẻ hay đẻ nhiều. Nếu bộc lộ bằng mỏ vịt, cổ tử cung có màu hồng nhạt và trung tâm là lỗ
cổ tử cung.
-Lỗ cổ tử cung chia tử cung làm 2 phần: phần trên âm đạo và phần nằm trong âm đạo và hai
phần đó được xem như cổ trong và cổ ngoài tử cung. Cổ ngoài được lợp bởi biểu mô lát tầng
không sừng hóa, còn cổ trong lợp bởi biểu mô trụ đơn.
- Biểu mô lát tầng gồm nhiều lớp: lớp đáy gồm các tế bào hình khối vuông, nhân bầu dục và
có trục vuông góc với màng đáy. Lớp cận đáy với các tế bào bầu dục hay đa diện, giữa các tế
bào có các cầu nối liên bào. Lớp vảy (Malpighi) gồm 6-12 hàng tế bào sáng, bào tương nhiều
và cầu nối liên bào rõ rệt. Lớp bề mặt gồm các tế bào dẹt, nhân vón nhỏ.
- Biểu mô trụ đơn: gồm một hàng tế bào hình trụ cao, nhân nằm cực đáy và bào tương chứa
nhiều chất nhầy.
II. VIÊM CỔ TỬ CUNG
1. Viêm cổ tử cung không do nhiễm trùng
Hầu hết các viêm xảy ra do tác nhân cơ học hay hóa học và gây một phản ứng viêm không
đặc hiệu. Các tác nhân có thể là những chất trong thuốc rửa âm đạo hay các chất lạ như vòng
nâng tử cung, vòng tránh thai.
- Viêm cổ tử cung cấp: có xung huyết, mô đệm bên dưới phù nề và xâm nhập nhiều BCĐN.
Về lâm sàng, cổ tử cung sưng đỏ.
- Viêm cổ tử cung mạn: có xâm nhập nhiều lympho bào ở mô đệm kèm tương bào, mô bào,
tăng sinh tổ chức xơ, có khi tạo nang lympho.
2. Viêm cổ tử cung do nhiễm khuẩn
Viêm cổ tử cung do nhiễm khuẩn bao gồm: liên cầu nhóm B, lậu cầu, xoắn khuẩn giang mai,
Chlamydia Trachomatis, Gardnerella vaginalis, Actinomyces, trực khuẩn lao, nhiễm virus, do
nấm (Aspergillus, Candida Albicans), do ký sinh trùng (Amíp, Trichomonas vaginalis)...
2.1. Viêm cổ tử cung do vi khuẩn
Đây là nguyên nhân phổ biến thường gặp, xảy ra trên một cổ tử cung teo đét lớp biểu mô,
chấn thương, do thay đổi độ pH. Viêm do vi khuẩn thường đi kèm với viêm nội mạc thân tử
cung, viêm vòi trứng và viêm phúc mạc qua nhau và thai nhi.

Xem link download tại Blog Kết nối!
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học ©