Chuyên đề Sỏi tụy

Link tải luận văn miễn phí cho ae Kết Nối
CẦN THƠ, 2012

BỘ Y TẾ


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

LÊ KẾ NGHIỆP


SỎI TỤY
Chứng chỉ: NGOẠI GAN - MẬT - TỤY

CHUYÊN ĐỀ CAO HỌC

Người hướng dẫn khoa hoc:
BSCK2. NGUYỄN VĂN TỐNG

CẦN THƠ, 2012


MỤC LỤC
PHỤ BÌA …………………………………………………………………………

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CTMS-A: chụp cắt lớp điện toán xoắn ốc
ERCP: nội soi mật tụy ngược dòng
ESWL: tán sỏi ngoài cơ thể
MRCP: cộng hưởng từ mật tụy
NXB: nhà xuất bản
Pp: page to page
Tr: trang


DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Các phần của tụy
Hình 2: Hình ảnh tụy và liên quan tại chỗ
Hình 3: Các ống tụy và hệ thống đường mật
Hình 4: Động mạch gan, tụy, tá tràng và lách
Hình 5: Hình thể ngoài sỏi tụy
Hình 6: Vị trí đau của sỏi tụy
Hình 7: Hình ảnh calci hóa tụy và sỏi tụy
Hình 8: Hình siêu âm cắt ngang của tụy
Hình 9: Hình ảnh chụp cắt lớp của viêm tụy mạn, dãn ống tụy, với hình ảnh sỏi
trong ống tụy, và vôi hóa nhu mô
Hình 10: Hình ảnh dãn ống tụy chính qua ERCP
Hình 11: Sỏi ống tụy chính bằng chụp MRCP
Hình 12: Mở ống tụy lấy sỏi
Hình 13: Kỹ thuật lấy sỏi qua nội soi mật tụy ngược dòng

Hình 14: Máy tán sỏi ngoài cơ thể



ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tụy mạn tính là một thể lâm sàng thường gặp nhất đặc trưng bởi đau
bụng dai dẳng và tái phát. Có rất nhiều nguyên nhân do rượu, di truyền và tự
phát. Sự hiện diên calci hóa tụy được xem là đặc trưng của bệnh viêm tụy mạn
và có thể thấy ở hơn 90% bệnh nhân viêm tụy do rượu trong thời gian dài [8].
Sỏi ống tụy có thể gây tắc nghẽn đường ra của các tiền mẹn tụy tiếp theo teo
tế bào acinar và xơ hóa tiến triển tuyến tụy. Tắc nghẽn ống tụy chính là nguyên
nhân tái phát các đợt viêm tụy và đau bụng mạn tính. Phục hồi dòng chảy ống
tụy cho thấy cải thiện chức năng sinh lý của tụy [8].
Sỏi tụy vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của viêm tụy mạn. Viêm tụy mạn
có sỏi là bệnh lý nặng, gây nhiều biến chứng, gây khó khăn trong công tác điều
trị [4].
Do đó hiểu rõ về sỏi tụy sẽ giúp các bạn sĩ lâm sàng nhận định và có hướng
điều trị đúng, hạn chế biến chứng nhằm tăng tỉ lệ thành công trong điều trị,.
Đó là lý do chúng tui viết chuyên đề này, với các mục tiêu:
1. Khái quát về sỏi tụy
2. Cơ chế hình thành, giải phẫu bệnh và sinh lý bệnh
3. Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
4. Các phương pháp điều trị

1


NỘI DUNG
1. KHÁI NIỆM SỎI TỤY:
Sỏi tụy phát triển từ sự lắng đọng canxi trong tuyến tụy và có thể chặn dòng
chảy của các enzyme tiêu hóa từ tuyến tụy vào ruột non.
Sỏi tụy chủ yếu xảy ra ở bệnh nhân bị viêm tụy mãn tính, một tình trạng
viêm thường liên quan đến lạm dụng rượu lâu dài [4].
2. VÀI NÉT LỊCH SỬ:
Sỏi tụy lần đầu tiên được quan sát và ghi nhận bởi Graaf, vào năm 1667. Sau
đó, Morgagni (1765) và Cawley (1788) công bố kết quả khám nghiệm tử thi của
sỏi [10].
Capparelli (1883) lần đầu tiên sử dụng phẫu thuật để loại bỏ sỏi tụy. Ông ghi
nhận trường hợp của một nữ nam tước bị một áp xe phía trên rốn sau nhiều ngày
đau bụng vùng thượng vị. Áp xe vỡ, thoát mủ và có sỏi. Kết quả lỗ rò tụy kéo dài
trong sáu năm và hơn 100 sỏi thoát ra. Lỗ rò sau đó đóng tự nhiên, nhưng phát
triển bệnh tiểu đường và tử vong ngay sau đó [10].
Ông Pearce Gould, người Anh, năm 1891, sau tám năm, thành công loại bỏ
sỏi từ ống Wirsung, nhưng ở phẫu thuật lần hai 17 ngày sau khi phát hiện và lấy
bỏ một sỏi lớn ở gần tá tràng, tắc nghẽn cả ống Wirsung và ống mật chủ. Tuy
nhiên, bệnh nhân đã chết vì “kiệt sức”, 12 ngày sau khi phẫu thuật lần hai [10].
Năm 1902, Moynihan chẩn đoán và lấy bỏ thành công một sỏi tụy qua tá
tràng. Các triệu chứng mà ông mô tả trong thành công đầu tiên này là trường hợp
sỏi trong ống tụy không có áp xe như sau: "mất dần sức khỏe, phá hủy dần dần,
sắc tố không đều trong da với những mảng màu cafe-au-lait, chúng rất giống như
các sắc tố bệnh da nổi đốm dạng sợi, các triệu chứng đau thượng vị dai dẳng và

2


lo lắng, băn khoăn của một loại đau bụng gan không nghiêm trọng, và không
theo dõi, cho đến khi sự việc quá muộn, vàng da, sau đó luôn luôn vô hiệu mặc
dù không thể nhầm lẫn, và đau đi qua từ phía trước của bụng đến giữa lưng.
Không có rét run hay bất kỳ sự than phiền cảm giác nóng hay lạnh. Phân thỉnh
thoảng có bọt và 'nhờn'. Kiểm tra, dưới gây mê, một số sưng không xác định có
thể được cảm nhận ở trên rốn và một ít cho cả hai bên đường giữa, mặc dù chủ
yếu là ở bên phải [10].
Năm 1925, Seeger ghi nhận 23 trường hợp phẫu thuật sỏi tuyến tụy và các
trường hợp trong đó 80 sỏi tụy đã được tìm thấy qua khám nghiệm tử thi [10].
Sau Seeger, William và James (1939), đã ghi nhận thêm 42 trường hợp phẫu
thuật, bao gồm tổng số là 65 trường hợp phẫu thuật mở trong 55 năm. Hơn một
nửa trong số họ đã xảy ra trong suốt 14 năm. Trong số 65 trường hợp này sỏi đã
được loại bỏ qua mổ mở là 58 trường hợp, với tỷ lệ tử vong của phẫu thuật là
17.2% (10 trường hợp tử vong). Tỷ lệ tử vong toàn bộ trong số 65 trường hợp là
18.4%. Kể từ khi 80 trường hợp khám nghiệm tử thi của Seeger vào năm 1925,
William và James đã tìm thấy 30 trường hợp khám nghiệm tử thi thêm trong y
văn. Ngoài ra còn có 28 trường hợp, trong đó đã được thực hiện chẩn đoán bằng
X quang, và vì nhiều lý do không được phẫu thuật khi đó [10].
Loeper và Bioy báo cáo các trường hợp bất thường của một người đàn ông
trẻ tuổi bị tiểu đường, người đã tìm thấy một sỏi có hình dạng không đều trong
phân của anh ta, không được hiển thị trên X quang, 24 giờ sau cơn đau. Và sau
đó không xuất hiện cơn đau nào nữa, đồng thời nước tiểu của anh ta cũng không
có đường [10].

3



Xem link download tại Blog Kết nối!
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học ©