Tài liệu Luận văn - Một số biện pháp tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm xây dựng tại Công ty TNHH Xây dựng tại Công ty TNHH Xây dựng và Thương mại Hoàng An - Pdf 10

Luận văn
Một số biện pháp tiết kiệm chi phí và
hạ giá thành sản phẩm xây dựng tại
Công ty TNHH Xây Dựng và Thương
Mại Hoàng An
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH –
HĐH nhằm xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN.
Nền kinh tế Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới với nhiều cơ hội và thách
thức. Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữu
làm cho tình hình cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt hơn. Các doanh nghiệp
muốn thắng thế trong cạnh tranh và đạt được mục tiêu của mình thì phải tiến
hành nghiên cứu thị trường để sản phẩm sản xuất ra có đủ chất lượng với giá cả
hợp lý.
Trong xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt cùng với sự khan hiếm của các
nguồn lực, việc giảm chi phí kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm là nhu
cầu bức thiết của bất cứ đơn vị, tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh nào. Các
doanh nghiệp nhà nước, tư nhân, hộ gia đình kinh doanh, hợp tác xã, các doanh
nghiệp nước ngoài hay liên doanh đều coi đó là nhiệm vụ chiến lược để tồn tại
và phát triển cho dù mục đích của mỗi loại hình doanh nghiệp có khác nhau
ngoài mục đích chung trên là lợi nhuận . Đối với doanh nghiệp nhà nước, trước
đây trong thời kỳ bao cấp , hoàn toàn sản xuất theo mệnh lệnh, kế hoạch nhà
nước rót xuống. Sau đại hội VI của đảng (1986) và tiếp tục hoàn thiện, phát triển
đường lối đổi mới trong các đại hội VII và VIII, doanh nghiệp nhà nước ngày
càng được tự chủ hơn. Do đó với các doanh nghiệp này việc giảm chi phí kinh
doanh không ngoài mục đích tăng lợi nhuận ( với doanh nghiệp nhà nước sản
xuất kinh doanh), mang lại sản phẩm rẻ có chất lượng tốt cho mọi người (với
doanh nghiệp nhà nước công ích) và tiết kiệm chống lãng phí và sử dụng hiệu
quả nguồn lực cuả quốc gia.
Còn với loại hình doanh nghiệp khác, quản lý được tốt các chi phí cũng
đều là tiền đề của hạ giá thành sản phẩm. Nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp cho

chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà nội, ngày 27 tháng 02 năm 2006
Sinh viên
Nguyễn Hồng Vân
4
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ
CHI PHÍ KINH DOANH VÀ
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.1. Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
a. Khái niệm
Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của một doanh nghiệp là tạo ra
những sản phẩm nhất định và tiêu thụ những sản phẩm đó trên thị trường nhằm
thu được lợi nhuận. Nhưng bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh thì cũng đều phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định.
Các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trước hết là các chi phí cho việc
sản xuất sản phẩm. Trong khi tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp phải tiêu hao
các vật tư như: Nguyên vật liệu, hao mòn máy móc, thiết bị, các công cụ dụng
cụ, các khoản chi phí về tiền lương hay tiền công cho người lao động.
5
Như vậy, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ hao phí về vật chất và lao động mà các doanh nghiệp phải bỏ
ra để sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí này phát sinh
có tính chất thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm nên gọi
là chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp ngoài việc sản xuất, chế biến còn phải tổ chức tiêu thụ sản
phẩm. Trong quá trình này doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những khoản chi phí

Mỗi doanh nghiệp kinh doanh khác nhau thì đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất là khác nhau. Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi giới hạn mà chi
phí cần tập hợp nhằm phục vụ cho việc thông tin kiểm tra chi phí và tính giá
thành sản phẩm .
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất cần thiết cho công tác
hạch toán kế toán chi phí sản xuất sao cho phù hợp với đặc điểm tình hình
hoạt động sản xuất, đặc điểm quy trình sản phẩm và đáp ứng yêu cầu quản lý
chi phí của doanh nghiệp. Từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức
tài khoản và mở sổ chi tiết đều phải theo đúng đối tượng kế toán chi phí đã
xác định.
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong ngành sản xuất
nói chung và trong kinh doanh xây lắp nói riêng thường căn cứ vào:
- Đặc điểm quy trình công nghệ của việc sản xuất sản phẩm (việc sản xuất sản
phẩm là giản đơn hay phức tạp, liên tục hay song song)
- Loại hình sản xuất sản phẩm ( sản xuất đơn chiếc hay hàng loạt)
- Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp .
- Đặc điểm tổ chưc bộ máy quản lý (hay yêu cầu quản lý ).
- Đơn vị tính giá thành trong doanh nghiệp
Tổ chức sản xuất là quá trình sản xuất thi công của các doanh nghiệp
XDCB có những đặc điểm riêng so với những ngành nghề khác nên đối tượng
7
kế toán chi phí sản xuất thường được xác định là từng công trình, bộ phận thi
công hay đơn đặt hàng.
Trên thực tế, các doanh nghiệp xây lắp hiện nay thường tập hợp chi phí
theo công trình hoặc hạng mục công trình.
Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần
thiết và quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Có xác định
đúng đối tượng hạch toán, tập hợp chính xác các khoản chi phí phát sinh phù
hợp với đặc điểm tổ chức và sản xuất của doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức
tốt công tác chi phí.

Phân loại các chi phí của doanh nghiệp thành các yếu tố chi phí như trên
có ý nghĩa lớn trong quản lý chi phí. Nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại
chi phí để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất theo
yếu tố ở Bảng thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập
dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, tính
toán nhu cầu vốn đầu tư cho kỳ sau.
Hai là, phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng của chi phí.
Cách phân loại này dựa vào mục đích công dụng của chi phí nơi phát sinh
chi phí và nơi gánh chịu chi phí để phân chia chi phí sản xuất thành các khoản
mục khác nhau. Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất được chia
thành:
• Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu,
nhiên liệu, dụng cụ sản xuất trực tiếp dùng vào việc chế tạo sản phẩm hàng hóa
dịch vụ.
• Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ các khoản tiền lương, tiền công,
các khoản phụ cấp có tính chất lương, các khoản chi BHXH, BHYT, KPCĐ của
nhân công trực tiếp sản xuất trong doanh nghiệp.
9
• Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí được sử dụng ở các phân
xưởng, bộ phận kinh doanh như: Tiền lương và phụ cấp lương của quản đốc,
nhân viên phân xưởng, chi phí tài sản cố định thuộc phạm vi phân xưởng, chi phí
vât liệu, công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền phát sinh
ỏ phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất.
• Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu
thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ như: Chi phí tiền lương, phụ cấp trả lương cho
công nhân bán hàng, tiếp thị, vận chuyển, bảo quản, các chi phí khấu hao
phương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, các chi phí dịch vụ mua ngoài, các
chi phí bằng tiền khác (như: Bảo hành sản phẩm, quảng cáo).
• Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí cho bộ máy quản lý
doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp như:

Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được xu hướng biến đổi
của từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xác
định được sản lượng hoà vốn cũng như quy mô kinh doanh hợp lý để đạt được
hiệu quả cao nhất.
1.1.2.Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm và ý nghĩa của giá thành sản phẩm
Trong sản xuất kinh doanh chí phí mới là mặt thứ nhất thể hiện sự hao phí
đã chi ra. Để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, chi phí
phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ
bản trong quá trình sản xuất. Đó là, kết quả sản xuất thu được biểu hiện dưới
hình thái tiền tệ, quan hệ so sánh đó đã hình thành nên chỉ tiêu “Giá thành sản
phẩm”.
11
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh
nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm
hay một khối lượng sản phẩm nhất định.
Có nhiều loại doanh nghiệp sản xuất ra cùng sản phẩm nhưng do trình độ
quản lý khác nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau. Chính vì vậy mà giá
thành sản phẩm mang tính cá biệt đối với từng doanh nghiệp.
Trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh, giá thành sản phẩm có
một ý nghĩa hết sức quan trọng thể hiện trên các mặt sau:
• Giá thành là thước đo mức hao phí về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,
là căn cứ để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh. Muốn lựa chọn sản xuất một
loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải nắm bắt được nhu cầu thị trường,
gía cả thị trường và mức hao phí sản xuất loại sản phẩm đó. Trên cơ sở như vậy
mới xác định được hiệu quả sản xuất loại sản phẩm đó để lựa chọn và quyết định
khối lượng sản xuất tối ưu.
• Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát
tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả các biện pháp tổ
chức, kỹ thuật. Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp

thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
• Giá thành thực tế: Được xác định khi quá trình sản xuất, chế tạo
sản phẩm đã hoàn thành và được xác định trên cơ sở lượng chi phí sản xuất thực
tế đã phát sinh trong kỳ. Giá thực tế phản ánh tổng hợp kết quả phấn đấu của
doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Nó là cơ sở để
xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là căn cứ để
13
xây dựng giá thành kế hoạch cho kỳ sau, đảm bảo cho giá thành kế hoạch ngày
càng sát thực và hợp lý.
1.1.2.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
*Phương pháp thứ nhất: Phương pháp tính giá thành giản đơn :
Phương pháp tính giá thành giản đơn còn gọi là phương pháp tính trực tiếp
phương pháp này áp dụng thích hợp với những sản phẩm, công việc có quy trình
công nghệ sản xuất giản đơn khép kín, tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất
ngắn và xen kẽ liên tục, đối tượng tính giá thành tương ứng phù hợp với đối
tượng kế toán tập hợp CPSX, kỳ tính giá thành định kỳ hàng tháng (quý) phù
hợp với kỳ báo cáo . Ví dụ tính giá thành sản phẩm điện, nước, bánh kẹo, than
quặng, kim loại .
Trường hợp cuối kỳ có nhiều sản phẩm dở dang & không ổn định, cần tổ
chức đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ theo phương pháp thích hợp. Trên cơ
sở số liệu CPSX đã tập hợp trong kỳ & chi phí của sản phẩm dở dang đã xác
định, tính giá thành sản phẩm hoàn thành cho từng khoản mục chi phí theo công
thức:
Z = C + D
đk
- D
ck
Giá thành đơn vị sản phẩm tính như sau: z=
Trong đó:

Q
i
là sản lượng sản xuất thực tế của sản phẩm i
Tính quy đổi sản lượng thực tế ra sản lượng tiêu chuẩn
Q = ∑Q
i
x H
i
Trong đó Q: Tổng sản lượng thực tế hoàn thành quy đổi ra sản lượng sản
phẩm tiêu chuẩn.
Tính tổng giá thành & giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm

Z
i
=
z
i
=
15
D
đ
k
+ C - D
ck
x Q
i
H
i
Q
Z

lượng lợn thịt, còn có sản phẩm phụ là phân bón.
Trong qui trình sản xuất, kêt quả sản xuất thu được sản phẩm đủ tiêu chuẩn
chất lượng qui định, còn có sản phẩm hỏng không sửa chữa được, mà các khoản
thiệt hại này không được tính cho sản phẩm hoàn thành.
16
Đối với các phân xưởng sản xuất phụ có cung cấp sản phẩm hoặc lao vụ lẫn
cho nhau, cần loại trừ ra khỏi giá thành của sản phẩm, lao vụ phục vụ cho sản
xuất chính hoặc bán ra ngoài.
Trong các trường hợp này, đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ qui trình
công nghệ sản xuất, còn đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính, sản phẩm
hoàn thành và sản phẩm lao vụ phục vụ cho các bộ phận không phải là sản xuất
phụ.
Muốn tính được giá thành của các đối tượng tính giá thành, phải lấy tổng chi
phí sản xuất đã được tập hợp loại trừ chi phí của sản phẩm phụ, chi phí thiệt hại
sản phẩm hỏng không được tính trong giá thành sản phẩm, chi phí phục vụ lẫn
nhau trong nội bộ các phân xưởng sản xuất phụ. Công thức tính giá thành của
sản phẩm là:
Z = C + D
đk
- D
ck
- C
lt
Trong đó:
Z: Là tổng giá thành của đối tượng tính giá thành.
C: Là tổng chi phí sản xuất đã tổng hợp.
Dđk và Dck: Là chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ.
Clt: Là chi phí cần loại trừ ra khỏi tổng giá thành của các đối tượng tính
giá thành.
Để đơn giản tính toán chi phí loại trừ (Clt) thường được tính như sau:

+ + C
n
- D
ck
z = z/Q
tp
*Phương pháp thứ năm: Phương pháp tính giá thành liên hợp:
Là kết hợp nhiều phương pháp tính giá thành khác nhau như kết hợp phương
pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ, phương pháp cộng chi
phí, phương phương pháp tính giá thành liên hợp áp dụng đối với doanh nghiệp
sản xuất hoá chất, dệt kim, đóng giầy, may mặc.
*Phương pháp thứ sáu: Phương pháp tính giá thành theo định mức:
Ap dụng: Doanh nghiệp xây dựng được định mức kinh tế kỹ thuật hoàn
chỉnh.
z
tt
= z
đm
± chênh lệch do thay đổi định mức ± chênh lệch thoát ly định mức.
1.2. Chi phí quản lý kinh doanh và giá thành sản phẩm
1.2.1. Sự cần thiết phải quản lý chi phí kinh doanh và giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp
Trong công tác quản trị doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý quan tâm vì
18
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông qua những thông tin về chỉ tiêu chi phí sản xuất kinh doanh do bộ
phận kế toán cung cấp, những người quản lý doanh nghiệp nắm được chi phí sản
xuất của từng bộ phận, từng khoản mục, từng loại sản phẩm, lao vụ cũng như

xuất kinh doanh, thúc đẩy sự sáng tạo, tìm tòi phương án giải quyết công việc có
hiệu quả.
Để phát huy hết vai trò của mình, việc tổ chức hạch toán kinh tế chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải đạt được những yêu cầu:
- Phản ánh kịp thời, chính xác toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong quá
trình sản xuất . Tính toán chính xác, phân bổ kịp thời giá thành xây lắp theo đối
tượng tính giá thành .
- Phân bổ hợp lý các chi phí sản xuất theo từng khoản mục vào các đối
tượng tập hợp chi phí, áp dụng phương pháp tính giá thành thích hợp.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật liệu, lao động
sử dụng máy, kiểm tra dự toán chi phí gián tiếp, phát hiện kịp thời các khoản
mục chi phí chênh lệch ngoài định mức, ngoài kế hoạch, đề ra các biện pháp
ngăn ngừa kịp thời.
- Kiểm tra việc thực hiện giá thành theo từng khoản mục chi phí, theo từng
hạng mục công trình, vạch ra các khả năng tiềm tàng và đề ra các biện pháp hạ
giá thành sản phẩm.
- Thông qua ghi chép, phản ánh tính toán để đánh giá có hiệu quả sản
xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Kịp thời lập báo cáo kế toán về chi phí
và lập giá thành theo quy định của cơ quan chủ quản cấp trên.
20
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình chi phí kinh doanh và giá thành
sản phẩm
Với các yêu cầu trên, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, lựa chọn phương pháp
tập hợp chi phí sản xuất và phân bổ chi phí sản xuất thích hợp
- Xác định đúng đối tượng tính giá thành và lựa chọn phương pháp tính
giá thành thích hợp.
- Xây dựng quy tắc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của doanh
nghiệp. Quy định trình tự công việc, phân bổ chi phí cho từng đối tượng, từng

chi phí kinh doanh là công cụ chủ yếu cung cấp thông tin kinh tế bên trong bộ
máy quản trị doanh nghiệp làm cơ sở cho việc ra quyết định quản trị nên nó trở
thành một công cụ chủ yếu không thể thiếu của quản trị doanh nghiệp. Quản trị
là quan trọng do vậy khi ra quyết định mà quản trị phải đảm bảo tính chính xác
và có hiệu quả của quyết định đề ra.
Muốn làm được điều đó cần phải tính đến các vấn đề chi phí kinh doanh
mà bản chất nó là mô tả các quá trình có ý nghĩa kinh tế diễn ra trong kinh
doanh.
Trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động trong một lĩnh vực
thì doanh nghiệp ngoài việc cạnh tranh với nhau bằng chất lượng còn cạnh tranh
cả về giá cả mà đấu thầu trong xây dựng là một điển hình. Vấn đề đặt ra cho các
doanh nghiệp là phải giảm tối đa các khoản chi phí để hạ giá thành mà vẫn đảm
bảo được chất lượng để có thể cạnh tranh, tồn tại và đứng vững trên thị trường.
Muốn chiến thắng trong cạnh tranh, một vấn đề quan trọng mà bất cứ
doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào cũng phải quan tâm là giảm chi phí
sản xuất. Hạ thấp chi phí không những chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp mà còn là nguồn tích luỹ chủ yếu cho nền kinh tế. Con đường duy nhất
để doanh nghiệp đứng vững trong nền kinh tế thị trường là phải thường xuyên
cải tiến mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của thị trường, nâng cao chất lượng sản
22
phẩm và hạ được giá thành. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hạ giá thành là
con đường cơ bản để tăng doanh lợi, nó cũng là tiền đề để tăng sức cạnh tranh
của doanh nghiệp trên thị trường kể cả trong và ngoài nước, góp phần cải thiện
đời sống vật chất cho người lao động. Ta có thể thấy ý nghĩa cụ thể của việc hạ
giá thành là:
• Hạ giá thành sẽ trực tiếp làm tăng lợi nhuận, nếu giá thành sản phẩm
thấp so với giá bán trên thị trường thì doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận
trên một đơn vị sản phẩm càng cao. Mặt khác, gía thành sản phẩm thấp thì doanh
nghiệp có thể hạ được giá bán nhờ đó mà tăng khối lượng tiêu thụ, thu được
nhiều lợi nhuận.

i =1
M
z
∑(S
i1
x Z
io
)
n
i =1
Trong đó:
M
z
: Mức hạ giá thành sản phẩm hàng hóa so sánh được
Zi
0
: Giá thành đơn vị kỳ báo cáo
Zi
1
: Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch
Si
1
: Số lượng sản phẩm kỳ kế hoạch
T
z
: Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm so sánh được
Như vậy, trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, việc tiết kiệm chi phí hạ giá
thành sản phẩm của các ngành nghề sẽ mang lại sự tiết kiệm lao động xã hội. Nó
sẽ làm tăng tổng số lợi nhuận của các doanh nghiệp đồng thời cũng làm tăng
ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp. Chính vì vậy tiết

tối ưu làm cho lượng chi phí bỏ ra hợp lý nhất; phân công bố trí lao động đúng
ngành, đúng năng lực lao động sẽ làm tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả
kinh tế góp phần tích cực vào việc hạ giá thành sản phẩm.
Việc phát huy đầy đủ vai trò của quản lý tài chính cũng ảnh hưởng rất lớn
tới khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Việc tổ chức đầy đủ
vốn, đảm bảo kịp thời với chi phí sử dụng vốn thấp nhất sẽ tạo điều kiện cho
doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội kinh doanh có hiệu quả. Việc phân phối,
sử dụng hợp lý, tăng cường kiểm tra giám sát sử dụng vốn sẽ tạo điều kiện sử
dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả cao, bảo toàn và phát triển được
vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó có tác động đến việc tiết kiệm chi phí
sản xuất góp phần tích cực hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
c. Nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của
doanh nghiệp
25

Trích đoạn Nhân tố giá cả Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động của công ty SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY Tình hình sử dụng vốn và nguồn vốn của công ty Cơng tác tập hợp chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thàn hở Công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status