Tiểu luận
Một số vấn đề về đổi mới kế
hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã
hội ở Việt Nam
MỤC LỤC
PH N IIẦ 15
M T S V N I M I K HO CH 5 N M VI T NAMỘ Ố Ấ ĐỀĐỔ Ớ Ế Ạ Ă Ở Ệ 15
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay xu thế hội nhập khu vực, thế giới và sự phát triển không ngừng của phương
thức sản xuất đã chi phối ngày càng mạnh mẽ vào nền kinh tế xã hội của tất cả các quốc
gia trên toàn thế giới, và Việt Nam cũng không nằm ngoài sự chi phối đó .Nền kinh tế
nước ta kể từ khi công cuộc đổi mới được tiến hành, kinh tế thị trường ngày càng phát triển
mạnh mẽ theo nhiều chiều hướng khác nhau.Điều đó đã đặt ra cho các cơ quan Nhà nước
về quản lý kinh tế phải không ngừng đổi mới và hoàn thiện các công cụ, chính sách quản
lý và điều tiết nền kinh tế , từ đó tạo ra một mức độ can thiệp hợp lý của Nhà nước vào nền
kinh tế.
Thực tế đã chứng minh rằng, bằng công tác kế hoạch hoá Nhà nước ta đã thực sự có
trong tay một công cụ hiệu quả trong việc điều tiết thị trường qua đó gián tiếp điều tiết nền
kinh tế. Do vậy đổi mới và hoàn thiện công tác kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân trở
thành một vấn đề hết quan trọng trong công cuộc đổi mới nền kinh tế nước ta. Khi công tác
kế hoạch hoá được đổi mới và hoàn thiện phù hợp với trình độ phát triển của thị trường, sẽ
tạo ra một sự hợp lý về mối quan hệ giữa kế hoạch và thị trường, từ đó phân định rõ ràng
“sân chơi” của chúng trong một nền kinh tế có định hướng như của Việt Nam.
Vấn đề đổi mới và hoàn thiện công tác kế hoạch hoá ở nước ta luôn là vấn đề được quan
tâm chú ý ở tất cả các giai đoạn phát triển, vấn đề này luôn được đề cập ở tất cả các kỳ họp
đại hội của Đảng. Thông qua việc phân tích bản chất của công tác kế hoạch hoá và thực
trạng của nền kinh tế nước ta và những yếu tố tác động khác qua từng thời kỳ nhất định,
chúng ta đã xác định được những công việc phải làm để đổi mới và hoàn thiện công tác kế
hoạch hoá ở Việt Nam. Và như Đảng và Nhà nước đã xác định thì đổi mới công tác kế
hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội là trọng tâm của công cuộc đổi mới kế hoạch hoá
phát triển kinh tế xã hội.
lược về thời gian và không gian lãnh thổ, xây dựng khung vĩ môvề tổ chức không gian để
chủ động hướng tới mục tiêu đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững trong tương lai.
Kế hoạch phát triển là một công cụ quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc dân,
nó là sự cụ thể hoá các mục tiêu định hướng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội theo
từng thời kỳ bằng hệ thống các mục tiêu chỉ tiêuvà chỉ tiêu biện pháp định hướngpt và hệ
thống các chính sách, cơ chế áp dụng trong thời kỳ kế hoạch.
Chương trình và dự án phát triển kinh tế xã hội được xem như là một công cụ triển
khai thực hiện các kế hoạch phát triển nhằm giải quyết các vấn đề bức xúc về kinh tế và xã
hội. Là một phương pháp kế hoạch hoá được áp dụng nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam
cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế phương pháp kế hoạch hoá quản lý theo
các chương trình dự án mà trọng tâm là các chương trình quốc gia cũng được áp dụng rộng
rãi từ những năm 1992.
Tóm lại khi xem xét hệ thống kế hoạch hoá dưới góc độ nội dung ta thấy được rằng
kế hoạch hoá là một quá trình liên tiếp nhau, bổ trợ nhau và thể hiện mối quan hệ định
hướng và thực hiện giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống kế hoạch hoá.
Khi chúng ta xem xét hệ thống kế hoạch hoá ở góc độ thời gian thì hệ thống kế hoạch
hoá lại được phân chia thành 3 loại kế hoạch chủ yếu là: Kế hoạch dài hạn; kế hoạch trung
hạn và kế hoạch ngắn hạn.
1.1. Kế hoạch dài hạn.
Khi nói kế hoạch dài hạn ta có thể hiểu đó là những chiến lược phát triển kinh tế xã
hội có khoảng thời gian từ 10 đến 20 năm. Và ngoài chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10
năm, 20 năm chúng ta còn có thể có các chiến lược phát triển kinh tế xã hội có thời gian
dài từ 20 đến 25 năm và chúng được gọi là “tầm nhìn”. Để tạo thuận lợi cho việc xây dựng
và bố trí các chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho10 năm, “tầm nhìn thường có nội dung
tổng quát hơn, linh động hơn hay mềm hơn và có tính chất định tính hơn so với chiến lược
phát triển kinh tế xã hội. Điều quan trọng của việc phân định giữa chiến lược phát triển
kinh tế xã hội và tầm nhìn là phải thống nhất về mục tiêu định hướng của chúng sao cho
những bước đi trước “thuận” và tạo tiền đề cho bước đi sau đồng thời có khả năng hiệu
chỉnh khi cần thiết.
Một kế hoạch dài hạn thường có nội dung để giải đáp những câu hỏi: Chúng ta đang
khu vực kinh tế tư nhân.
1.3. Kế hoạch ngắn hạn (kế hoạch năm- kế hoạch tác nghiệp).
Trong hệ thống kế hoạch phát triển thì kế hoạch 5 năm là công cụ chính sách định
hướng còn kế hoạch hàng năm là công cụ thực hiện. Đặc biệt nếu thực hiện kế hoạch 5
năm theo hình thức “cuốn chiếu” thì kế hoạch hàng năm thực chất sẽ là một phần định
hướng của kế hoạch 5 năm. Vì vậy, vai trò hay chức năng đầu tiên của kế hoạch năm là cụ
thể hoá kế hoạch 5 năm, phân đoạn kế hoạch 5 năm để từng bước thực hiện kế hoạch 5
năm. Quy mô và sự cấu thành của kế hoạch năm vì thế chủ yếu đươc quyết định bởi ngân
sách, các chỉ tiêu kế hoạch 5 năm, các tiến trình trong nghiên cứu khả thi và những dự án
triển khai trong thời kỳ trước. Bên cạnh đó kế hoạch năm còn là công cụ để điều chỉnh kế
hoạch 5 năm có tính đến đặc điểm của từng năm. Ngoài ra, kế hoạch hàng năm còn đóng
vai trò độc lập quan trọng, nó có thể bao hàm các nhiệm vụ, các chỉ tiêu chưa được dự kiến
trong kế hoạch 5 năm, bảo đảm tính linh hoạt, nhạy bén của kế hoạch hoá nói chung.
2. Kế hoạch 5 năm trong hệ thông kế hoạch hoá phát triển kinh tế-xã hội.
2.1. Khái niệm và nội dung cơ bản của kế hoạch 5 năm.
Kế hoạch 5 năm là sự cụ thể hoá các chiến lược phát triển kinh tế xã hội và quy
hoạch phát triển trong lộ trình phát triển dài hạn của đất nước. Kế hoạch 5 năm xác định
các mục tiêu chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội trong thời kỳ kế hoạch
và xác định các cân đối, các chính sách phân bổ nguồn lực, vốn cho các chương trình phát
triển của khu vực kinh tế Nhà nước và khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế tư
nhân. Nội dung chủ yếu của việc lập kế hoạch 5 năm bao gồm:
- Xác định nhiệm vụ tổng quát và các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế –xã
hội của đất nước trong giai đoạn 5 năm như: Mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, huy động tiết kiệm, các chỉ tiêu về phúc lợi xã hội …
- Xác định các chương trình và lĩnh vực phát triển . Các vấn đề được đưa vào chương
trình và lĩnh vực phát triển có sự lựa chọn, nó thực sự phải là các vấn đề nổi cộm, trọng
yếu cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Các chương trình phát triển chính là cơ
sở hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu phát triển của kỳ kế hoạch 5 năm.
- Phần xây dựng các giải pháp lớn của kế hoạch 5 năm sẽ bao gồm 2 nội dung cơ bản:
Một là xác định các cân đối vĩ mô chủ yếu: Cân đối vốn đầu tư, cân đỗi xuất nhập
có trách nhiệm thực hiện mục tiêu chung một cách tốt nhất, không để xảy ra tình trạng
thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao rồi bắt người đi sau
(nhiệm kỳ sau) phải giải quyết hậu quả do chính mình gây ra.
Kế hoạch 5 năm là khoảng thời gian đủ ngắn để đảm bảo tính chính xác của các mục
tiêu đề ra. Do sự biến động không ngừng của nền kinh tế, sự phát triển mạnh mẽ không
ngừng của nền sản xuất xã hội cũng như việc hiện đại hoá các công cụ dự báo…dẫn đển
rủi ro cao đối với các chỉ tiêu của các kế hoạch dài hạn.
Đối với kế hoạch 1 năm thì khoảng thời gian 1 năm không đủ để đánh giá những phát
sinh của chương trình dự án. Những chương trình dự án khi hoàn thành đôi khi chưa bộc lộ
hiệu quả hay những phát sinh ngay mà phải trải qua một thời gian đi vào sử dụng do vậy
trong vòng một năm không thể nhận biết được điều đó. Trong khi đó kế hoạch 5 năm đủ
dài để đánh giá các chính sách giải pháp, chương trình dự án…và tiến hành sử lý những
phát sinh.
Trong quá trình lập kế hoạch thì công việc thu thập, sử lý thông tin đòi hỏi một thời
gian khá dài do vậy kế hoạch hàng năm sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề đó bởi vì
quá trình thu thập, sử lý thông tin sẽ làm ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện các hoạt động của
kế hoạch đề ra.
Khi nghiên cứu vai trò của kế hoạch 5 năm dưới góc độ nội dung ta thấy: Trước hết
nội dung của kế hoạch 5 năm là sự cụ thể hoá các mục tiêu định hướng, các “ tầm nhìn”
của các chiến lược phát triển kinh tế xã hội nội dung được đề cập trong kế hoạch 5 năm là
các vấn đề được lựa chọn, nó thực sự là các vấn đề nổi cộm, trọng yếu cho sự phát triển
bền vững cho sự phát triển của nền kinh tế. Trong hệ thống chỉ tiêu của mình kế hoạch 5
năm xác định rõ các cân đối vĩ mô chủ yếu: Cân đối vốn đầu tư, cân đỗi xuất nhập khẩu,
cán cân thanh toán quốc tế, cân đối sức mua toàn xã hội; xác định các khả năng thu hút vốn
cả trong và ngoài nước, đồng thời xác định những quan hệ lớn về phân bổ đầu tư giữa các
vùng kinh tế, giữa công nghiệp, nông nghiệp và các lĩnh vực văn hoá, xã hội; xác định các
quan hệ cung cầu một số hàng hoá vật tư chủ yếu. Ngoài ra kế hoạch 5 năm còn xây dựng,
hoàn thiện những vấn đề cơ chế quản lý, các chính sách kinh tế, về hiệu lực bộ máy quản
lý và các vấn đề tổ chức thực hiện.
Do vậy khi hệ thống chỉ tiêu và các giải pháp của kế hoạch 5 năm được đảm bảo thì
Hệ thống chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm chủ yếu mang tính định hướng phát triển
như: tốc độ tăng trưởng kỳ kế hoạch, tỉ trong công nghiệp nông nghiệp và dịch vụ trong
GDP; tỷ trọng lao động xã hội làm việc trong các ngành nói trên; thu nhập bình quân đầu
người; tốc độ tăng trưởng năng suất lao động; kim ngạch xuất khẩu v v
1.5 Xây dựng các cân đối vĩ mô chủ yếu trong nền kinh tế.
Đây cũng là một nội dung quan trọng của công tác kế hoạch hoá. Kế hoạch 5 năm
xây dưng và bảo đảm một số cân đối lớn:
- Cân đối vốn đầu tư phát triển.
- Cân đối thanh toán quốc tế.
- Cân đối ngân sách Nhà nước.
- Cân đối lao động-việc làm.
- Cân đối tích luỹ-tiêu dùng.
- Cân đối cung- cầu một số vật tư hàng hoá chủ yếu.
1.6 Xác định các chương trình phát triển kinh tế xã hội chủ yếu.
Các kế hoạch 5 năm có thể được triển khai bằng các kế hoạch hàng năm, các chương
trình phát triển kinh tế. Do vậy trong nội dung của kế hoạch 5 năm cần xác định những bộ
phận triển khai chủ yếu.
1.7. Xác định các chính sách, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch.
Đây là một phần rất quan trọng của bản kế hoạch, nếu không đề ra các chính sách, giải
pháp thì tất cả các công đoạn ở trên không có tác dụng. Các giải pháp chỉ ra cách thức hoạt
động nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
2. Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch 5 năm.
Một nội dung quan trọng không thể thiếu của kế hoạch nói chung và kế hoạch 5 năm
nói riêng đó là xây dựng hệ thống chỉ tiêu. Hệ thống chi tiêu trong kế hoạch phát triển
được hiểu là thước đo cụ thể nhiệm vụ cần đạt được trong thời kỳ kế hoạch. Các thước đo
này thể hiện cả về số lượng và chất lượng. Nó cho phép xác định nội dung cơ bản của quá
trình phát triển kinh tế, các bộ phận cấu thành cụ thể của nó và được Nhà nước sử dụng dể
thực hiện quá trình điều tiết nền kinh tế. Có nhiều cách phân loại hệ thống chỉ tiêu kế
hoạch:
- Đứng trên góc độ phạm vi tính toán, hệ thống chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu kế hoạch
việc làm mới v v
- Đứng trên góc độ quản lý, hệ thống kế hoạch có chỉ tiêu pháp lệnh, chỉ tiêu hướng
dẫn và chỉ tiêu dự báo. Chỉ tiêu pháp lệnh được Quốc hội và Chính phủ phê duyệt và trở
thành bắt buộc phải hoàn thành trong thờ kỳ kế hoạch. Chỉ tiêu hướng dẫn thường mang
tính định hướng hoạt động của các ngành, dịa phương, các đơn vị kinh tế và dùng để phân
tích, so sánh đánh giá mức độ phát triển của các đối tượng kế hoạch hoá. Các chỉ tiêu dự
báo ở tầm vĩ mô làm cơ sở luận chứng cho các chỉ tiêu pháp lệnh phê chuẩn và được xem
như các số liệu, thông tin kinh tế cho các đơn vị kinh tế, các ngành, địa phương và các cơ
quan có liên quan tham khảo.
-Theo phạm vi đơn vị đo lường, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch gồm có các chỉ tiêu hiện vật và
chỉ tiêu giá trị. Chỉ tiêu hiện vật xác định mặt vật chất của sản xuất, được đo lường
bằng các đơn vị đo hiện vật như: Cái, trọng lượng, kích thước, dung tích v v Chỉ tiêu
hiện vật có tác dụng xác định cụ thể quy mô của sản xuất và dịch vụ, nó đưa ra khả
năng thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa mục tiêu sản xuất sản phẩm với khối lượng
nhu cầu cung cấp các hàng hoá trung gian. Chỉ tiêu giá trị đo lường cácnhiệm vụ, mục
tiêu và quy mô phát triển của nền kinh tế dưới hình thái tiền tệ,nó được sử dụng để
hình thành các cân đối vĩ mô, cá con số phản ánh tổng hợp nội dung phát triển kinh tế,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hướng phát triển của các ngành, vùng v v
-Ngoài các cách phân loại chủ yếu trên, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch còn được chia thành chỉ
tiêu tương đối và chỉ tiêu tuyệt đối; chỉ tiêu phản ánh chất lượng và số lượng. Tất cả
các chỉ tiêu đều góp phần tăng cường tính định lượng trong kế hoạch hoá phát triển.
Tuy vậy, để thích ứng với các điều kiện thường xuyên biến đổi của kinh tế thị trường
và theo yêu cầu phát triển ngày càng cao của đời sống, xã hội, các kế hoạch phát triển
hiện nay đặt trọng tâm vào các chỉ tiêu xã hội, các chỉ tiêu giá trị, cá chỉ tiêu mang tính
chất hướng dẫn và dự báo.
3. Một số phương pháp xây dựng và quản lý KH 5 năm PTKT-XH.
3.1. Phương pháp truyền thống.
Xây dựng và quản lý các KH 5 năm theo phương pháp truyền thống đã được áp
dụng từ rất lâu trong hệ thông kinh tế xã hội chủ nghĩa, và ngày nay nền kinh tế nước ta
vẫn còn áp dụng dưới những hình thức khác nhau. Đặc trưng của phương pháp này, như
mớilại được đưa vào khuôn khổ trung hạn. Ví dụ như kế hoạch 2001-2005 rồi đến kế
hoạch 2002-2006, v v
Thứ hai, các con số kế hoạch được tính theo những mục tiêu tổng thể, bao gồm kế
hoạch chính thức cho một năm hiện hành, kế hoạch dự tính cho năm tiếp theo và dự báo
cho kế hoạch ba năm còn lại. Mức độ chi tiết cụ thể và chính xác của các con số kế hoạch
các năm sau phụ thuộc vào số lượng, độ tin cậy và khr năng cập nhật thông tin.
Thứ ba, cuối mỗi năm của thời kỳ kế hoạch, trên cơ sở kết qủa thực hiện kế hoạch và
những dự báo, thông tin mới, quá trình xây dựng kế hoạch 5 năm thời kỳ cuốn chiếu mới
lại được thực hiện với các nội dung: xây dựng kế hoạch chính thức cho năm tiếp theo (năm
đầu của thời kỳ mới); điều chỉnh và chính xác hoá thêm chao những dự báo kế hoạch của
năm thứ 2,3,4 và dự báo sơ bộ kế hoạch năm cuối cùng (năm thứ 5 của thời kỳ mới). Đi
kèm theo các chỉ tiêu kế hoạch là những dự kiến về cơ hội, thách thức của thời kỳ kế hoạch
và những kiến nghị, giải pháp cụ thể phù hợp với các diễn biến xảy ra.
Phương pháp "cuốn chiếu" với các nội dung tổng quát nêu trên sẽ khắc phục được
tính nhất thời và không phù hợp mục tiêu kế hoạch với sự đổi thay thường xuyên của môi
trường. Theo phương pháp này việc xây dựng và triển khai kế hoạch 5 năm sẽ không còn
mang tính chất “ thời vụ” mà nó tiếp tục được thời sự hóa để phù hợp với hoàn cảnh và
những yêu cầu mới đặt ra. Các chỉ tiêu kế hoạch sẽ đủ độ tin cậy cho các nhà quản lý và
lãnh đạo sử dụng với tư cách là công cụ định hướng vĩ mô nền kinh tế quốc dân, làm cho
kế hoạch thực hiện tốt chức năng tổ chức can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế thị
trường, đương đầu với khó khăn, biến động bất thường từ thế giới bên ngoài. Ngoài ra, do
các khuôn khổ 5 năm KH 5 năm kế tiếp nhau luôn có 4 năm kế hoạch trùng nhau nên tính
liên tục giữa các kế hoạch 5 năm, các chính sách, chương trình được thực hiện gối đầu giữa
các kế hoạch đó sẽ được đảm bảo.
Tóm lại xây dựng và quản lý kế hoạch 5 năm theo mô hình "cuốn chiếu" là thực sự
thích ứng trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Tuy vậy, đây là một
hướng tiếp cận rất mới. Để vận dụng thành công phương pháp này ở Việt Nam, phải có sự
chuẩn bị về mọi mặt, trong đó những vấn đề sau đây được nhấn mạnh:
Một là, thực hiện tốt chức năng “ tiếp cận từ trên xuống” của công tác kế hoạch hoá
bằng cách nâng cao chất lượng của dự bao kinh tế vĩ mô, sử dụng các công cụ, phương
(1976-1980) và kế hoạch 5 năm lầnIII (1981-1985). Do trong giai đoạn này nước ta áp dụng
cơ chế kế hoạch hoá tập trung theo mô hình của một số nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô,
Trung Quốc…nhưng do cơ chế đó không còn phù hợp kết hợp với sự dập khuôn trong xây
dựng hệ thống chỉ tiêu kế hoạch (đánh giá không đung thực trạng nền kinh tế, cách phân bổ
nguồn lực thiếu hợp lý, các chỉ tiêu kế hoạch chạy theo thành tích, quá thiên về chỉ tiêu hiện
vật và phần lớn là chỉ tiêu pháp lệnh…) do vây các kế hoạch 5 năm lầnI và lầnII không đạt
được mục tiêu, trong khi nền kinh tế đang dần rơi vào khủng hoảng.
Giai đoạn sau 1986 đến nay.
Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12-1986) đã xác dịnh đường lối đổi mới kinh tế với
nội dung cơ bản là phát triển sản xuất hàng hoá với sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế, dưới sự quản lý của Nhà nước bằng cơ chế chính sách, pháp luật và các công cụ khác
theo đinh hướng XHCN. Điều đó cũng có nghĩa là nền kinh tế chấp nhận thị trường, do vậy
lúc này kế hoạch hoá trở thành một công cụ hết sức cần thiết để Nhà nước điều tiết thị
trường. Với ý nghĩa kế hoạch là cương lĩnh thứ 2 của Đảng, Đại hôi Đảng VI đề ra phương
hướng, nhiêm vụ và mục tiêu cho kế hoạch 5 năm 1986-1990. Trải qua quá trình đổi mới và
phát triển nền kinh tế, cho đến nay đã có các kế hoạch 5 năm lầnV(1991-1995), kế hoạch 5
năm lần VI(1996-2000) và hiện nay chúng ta đang trong quá trình hoàn thành kế hoạch 5
năm lần VII (2001-2005).
2. Những nhận xét chung về tình hình xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm ở nước
ta.
2.1. Những hiệu quả đạt được.
Đối với thời kỳ trước những năm 1986.
Trong thời kỳ 1955 đến 1985, chúng ta đã qua những mốc lớn như các kế hoạch
khôi phục và phát triển kinh tế, thực hiện cải tạo XHCN ở miền Bắc, rồi chuyển sang kế
hoạch thời chiến, tiếp đó là kế hoạch xây dựng và phát triển kinh tế trên phạm vi cả nước.
Có thể nêu một số nhận xét về công tác kế hoạch hoá thời kỳ đó như sau:
Cơ chế kế hoạch hoá pháp lệnh đã quán triệt đường lối cải tạo, xây dựng và phát triển
kinh tế cũng như đường lối kinh tế của Đảng theo nhận thức về mô hình xã hội chủ nghĩa do
các nghị quyết của Đảng xác định trong thời gian đó.
Cơ chế kế hoạch hoá pháp lệnh có nhiều khuyết tật như bây giờ chúng ta nhìn lại và dễ
kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị tiền tệ, thu hẹp mất cân đối ngân sách, giảm mức tăng
dân số, cải thiện phần đời sống của phần lớn hộ gia đình…
2.2. Một số vấn đề tồn tại.
Mặc dù việc đổi mới kế hoạch hoá trong thời gian qua có tiến bộ đáng kể nhưng do
nhiều lý do, kết quả đổi mới của kế hoạch hoá còn hạn chế, thậm chí ở cả trung ương và địa
phương xu hướng giữ lại hoặc trở lại kế hoạch hoá kiểu cũ vẫn còn khá mạnh, ngay trong
một bộ phận của Nhà nước và một phần dư luận của công chúng không khí bao cấp còn
nặng. Vấn đề đổi mới kế hoạch hoá gắn bó rất chặt với đổi mới quản lý Nhà nước, do vậy
nếu không giải quyết đồng bộ thì đổi mới kế hoạch hoá không dễ dàng đi vào cuộc sống.
Quá trình đổi mới kinh tế trong thời gian qua đã giảm bớt sự bao cấp trong nền kinh
tế, đặc biệt là bao cấp trong ngân sách, song một số hình thức bao cấp khác lại xuất hiện ở
những lĩnh vực khác như: khoanh nợ, xoá nợ, cấp đất,… Những nội dung bao cấp này
thường được thể hiện trong nội dung kế hoạch hoặc hoạt động điều hành kế hoạch.
Nhiều văn bản chính sách đã khẳng định chuyển hướng từ kế hoạch hiện vật sang kế
hoạch định hướng song trên thực tế nội dung kế hoạch vẫn chưa chú ý đúng mức đến những
cân đối lớn của toàn nền kinh tế, một số Bộ, địa phương vẫn coi trọng những dự án, những
chương trình cụ thể. Xu thế “kế hoạch hiện vật” và ỷ lại vào cấp trên có chiều hướng gia
tăng: các địa phương, các ngành cố gắng xin thật nhiều dự án, nhiều chương trình; những
phần đóng góp vào ngân sách cho nền kinh tế không tương xứng với vốn đầu tư được bổ
sung. Mặt khác, kế hoạch không chỉ chịu sự ảnh hưởng của các cơ quan trong hệ thống mà
còn chịu sự tác động của nhiều tổ chức khác ngoài hệ thống kế hoạch, điều đó làm cho kế
hoạch, đặc biệt là kế hoạch đầu tư càng bị phân tán hơn. Bên cạnh đó, kế hoạch còn phải
thông qua quá nhiều cấp nên thường có xu thế “chia đều”, tiếp tục tác động làm tăng sự
phan tán đồng thời làm giảm hiệu quả của đầu tư.
Các thông tin kinh tế-xã hội không chính xác, thiếu ăn khớp và không được phân
tích đầy đủ trong quá trình xây dựng kế hoạch đã làm cho nội dung kế hoạch nhiều khi
không phù hợp với thực tế. Nguồn lực thường được đánh giá cao, nhu cầu thị trường trong
nước và nước ngoài không được dự bao chính xác với sự nóng vôi, chủ quan đã làm cho nội
dung kế hoạch phần nào còn mang tính duy ý chí.
Hiện nay vẫn còn không ít hạn chế bắt nguồn từ bản chất của nền kinh tế chuyển đổi, từ
thức cũng như mức độ can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế do vậy đổi mới công tác kế
hoạch hoá là một yêu cầu đối với Nhà nước ta.
Thực tế một số nước trên thế giới đã rất thành công với các phương pháp xây dựng và
quản lý kế hoạch 5 năm kiểu mới đặc biệt là sử dụng phương pháp “cuốn chiếu” như Cộng
hoà Pháp; Nhật Bản,Đức hay gần nhất là Trung Quốc…
Điều đó buộc chúng ta không thể không thử nghiệm áp dụng vào nền kinh tế nước nhà
đúng vào khi chúng ta đang tìm một sự đổi mới trong công tác kế hoạch hoá.
PHẦN III
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI KẾ HOẠCH 5 NĂM Ở VIỆT NAM
I. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI.
1. Quan điểm đổi mới.
Trước tiên có thể nói quan điểm đổi mới của kế hoạch 5 năm cũng nằm trong quan
điểm đổi mới công tác kế hoạch mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.
- Quan đổi mới và hoàn thiện công tác kế hoạch hoá phải đặt kế hoạch hoá trong cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN:
Như vậy, đổi mới kế hoạch hoá phải ăn khớp với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói
chung, phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Việc sử dụng công cụ kế hoạch hoá phải phú hợp với cơ chế thị trường.
- Đổi mới cong tác kế hoạch hoá trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước với hội nhập quốc tế:
Kế hoạch hoá phải đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế phù hợp
với xu thế hội nhập, toàn cầu hoá ngày càng gia tăng đối với nền kinh tế Việt Nam.
- Đổi mới kế hoạch hoá phải đảm bảo mối tương quan hợp lý giữa phát triển kinh tế
với tiến bộ và công bằng xã hội. Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tién bộ và công bằng
xã hội. Các chính sách xã hội đều phải giải quyết theo tinh thần xã hội hoá. Công tác kế
hoạch hoá phải góp phần thiết thực giải quyết tốt một số vấn đề cấp bách như: xoá đói giảm
nghèo, thất nghiệp…
- Đổi mới toàn diện hệ thống kế hoạch hoá kinh tế vĩ mô trong đó đổi mới và hoàn
thiện kế hoạch 5 năm làm nhiệm vụ trọng tâm. Đổi mới để kế hoạch 5 năm thực sự là công
cụ trung tâm trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội .
hoach phát triển ).
Trong quá trình phác thảo các kế hoạch thực hiện cần có nhiều phương án khác nhau để
đối phó với những thay đổi bất ngờ khách quan.
Cần phân tích các chính sách hiện hành từ đó hoàn thiện các chính sách hiện hành và đề
xuất các chính sách giải pháp mới.
2.2 Trong công đoạn tổ chức và thực hiên kế hoạch.
Trước hết để hoàn thành các mục tiêu đã đề ra thì mọi cá nhân cơ quan ban ngành có liên
quan đến quá trình thực hiện kế hoạch cần tuyệt đối trung thành với những công việc của
từng bộ phận cụ thể. Cần tiến hành các công việc đúng tiến độ, đúng chất lượng và đảm
bảo hiệu quả kinh tế –xã hội cao nhất có thể. Trong phân công tổ chức thực hiên cần bố trí
đúng người đúng việc, tránh sự trùng lặp công việc, chức năng quyền hạn cũng như nghĩa
vụ.
Trong quá trình thực hiện cần liên kết chặt chẽ giữa các kế hoạch theo ngành, địa phương
và vùng lãnh thổ với nhau, từ đó phát huy sức mạnh của toàn xã hội vào thực hiện từ đó
tạo thành hệ thống kế hoạch tổng thể kinh tế quốc dân.
Kế hoạch kinh tế quốc dân là kế hoạch cho mọi thành phần kinh tế trong xã hội két quả
của viêc thực hiện kế hoạch phụ thuộc vào sự huy động mọi nguồn lực toàn xã hội, phụ
thuộc vào sự nỗ lực của các tầng lớp trong xã hội. Chính vì vậy, quá trình xây dựng và điều
hành thực hiện kế hoạch cần có sự tham gia của mọi giới, mọi ngành đặc biệt là giới khoa
học và doanh nghiệp.
2.3 Trong giám sát, đánh giá thực hiện kế hoạch.
Trong giám sát đánh giá cần chú ý mọi công đoạn của việc thực hiện kế hoạch, khi có
những biểu hiện lệch hướng mục tiêu hay có những tác động nhiễu cần đề xuất giải pháp
can thiệp kịp thời.
Cần giám sát, đánh giá trung thực, thẳng thắn nêu ra những tồn tại, hạn chế tình trạng
bao che từ đó xem lại vấn đề và rut ra bài học cho những lần sau.
III. CÁC KIẾN NGHỊ
1. Cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách, pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho
công cuộc đổi mới kế hoạch hoá nói chung và KH 5 năm PTKT-XH nói riêng.
2. Cần coi công cuộc đổi mới nền kinh tế là của toàn dân, do vậy toàn dân cũng phải tích
Một số tài liệu tham khảo khác…