Tài liệu Nhà đầu tư chứng khoán - Pdf 10

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Phân loại nhà đầu tư chứng khoán
Quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của các
nhà đầu tư
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 2
A. KHÁI NIỆM NHÀ ĐẦU TƯ
1. Khái niệm đầu tư (investment):
Đầu tư thực chất là thuật ngữ có nguồn gốc từ kinh tế chứ không phải thuật ngữ pháp lý. Do
vậy khi tìm hiểu về khái niệm này, chủ yều là các khái niệm của kinh tế học nhiều hơn.
Thuật ngữ này được hiểu và giải thích còn rất khác nhau, chưa có sự nhất quán ngau trong
sách báo kinh tế ở nước ta. Theo từ điển Bách khoa việt nam (1995), đầu tư là “hành động bỏ vốn
vào 1 doanh nghiệp, 1 công trình hay 1 sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách,
vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị mới, hoặc thực hiện việc hiện đại hoá,
mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng”. Cách định nghĩa này
nhằm nhấn mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình thái biểu hiện và động lực của đầu tư, nhưng
không làm rõ được bản chất của đầu tư cũng như chưa phản ánh được nội dung của đầu tư.
Trong giáo trình “kinh tế đầu tư” của Trường đại hcọ Kinh tế quốc dân, do PGS.TS Nguyễn
Ngọc Mai chủ biên thì:” Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những cái gì đó ở hiện tại ( tiền, sức lao
động, của cải vật chất, trí tuệ ) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương
lai” . Định nghĩa này nêu được dặc tính khái quát của đầu tư là hành vi bỏ vốn trong hiện tại
nhằm đạt lợi ích trong tương lai. Tuy nhiên cách tiếp cận này có thể gây nhầm lẫn với hành vi lao
động bình thường (bỏ sức lao động) với hành vi đầu tư của nhà đầu tư.
Theo Luật đầu tư 2005 thì “ Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình
hoặc vô hình để hình thành các hoạt động đầu tư”. Cách định nghĩa này chưa rõ ràng khi sử dụng
thuật ngữ “ hoạt động đầu tư” để giải thích thuật ngữ Đầu tư.
Trong cuốn sách “ Về chính sách khuyến khích đầu tư ở Việt Nam” do PGS.TS Trần Thị
Minh Châu chủ biên có nêu ra các nội dung cơ bản của hành vi đầu tư, đó là:
• Đâu tư là hành động mang tính tích luỹ, có nghĩa răng để đầu tư nhà đầu tư phải có
vốn và họ phải hy sinh 1 phần tiêu dùng sinh hoạt.
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 3
• Mục đích của đầu tư luôn là giá trị lớn hơn trong tương lai. Bất cứ khoản vốn đầu tư

chứng khoán”. Nhưng khái niệm này cũng chỉ là 1 khái niệm chung chung, mới chỉ ra được các
đối tượng có thể trở thành nhà đầu tư mà chưa chỉ ra được bản chất thực sự của 1 nhà đầu tư.
Trong cuộc sống chúng ta thương nghe nói đến các “nhà sinh vật học”, “nhà bác học”, “ các
nhà làm luật”… chúng ta cũng thường hiểu đso là những người có chuyên môn tức là có kiến
thức,có sự hiểu biết sâu rộng về các lĩnh vực sinh học,nghiên cứu khoa học, pháp luật; hay nói 1
cách khác họ là các chuyên gia trong những lĩnh vực đó. Khái niệm nhà đầu tư có nằm ngoài tư
duy này? Phải chăng tất cả những người có hành vi đầu tư đều được gọi là nhà đầu tư? Hiện nay
chúng ta hay nghe nói đến 1 thuật ngữ “ người chơi chứng khoán”, có lẽ đó là 1 ví dụ rõ ràng để
phân biệt với những người được gọi là “ nhà đầu tư”- những người đã có nhiều kinh nghiệm,kiến
thức và sự hiểu biết về đầu tư chứng khoán, có hành vi mua bán chứng khoán trong 1 thời gian
nhất định( thường là 3-5 năm, hoặc lâu hơn). Một thuật ngữ nữa chúng ta cũng cần phải phân biệt
với nhà đầu tư, đó là “ các nhà kinh doanh chứng khoán”, thuật ngữ này gần giống với ngơươì
chơi chứng khoán nhưng khác ở bản chất và mục đích mua hay bán chứng khoán. Các nhà kinh
doanh chứng khoán thường là những người mua và bán chứng khoán trong thời gian ngắn từ vài
ngày đến vài tháng hay cao hơn là 1 - 2 năm. Đôi khi, họ bị gọi là nhà đầu cơ hay “lướt sóng”
chứng khoán.
B. PHÂN LOẠI NHÀ ĐẦU TƯ
1. Căn cứ vào số lượng nhà đầu tư:
Nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức
1.1.Nhà đầu tư cá nhân:
Là những người thực hiện các hoạt động đầu tư chứng khoán 1 cách đơn lẻ,vốn đầu tư có thể
là vốn tự có, vốn đi vay (mà thường là ngắn hạn dưới 1 năm) hoặc cả hai. Các nhà đầu tư cá nhân
tự mình thực hiện các hoạt động mua bán chứng khoán hoặc có thể thông qua các nhà môi giới và
họ có toàn quyền sở hữu với những phần lợi nhuận thu được từ việc mua bán chứng khoán. Tuy
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 5
nhiên, trong đàu tư thì lợi nhuận và rủi ro tương quan tỉ lệ thuận với nhau, chính vì vậy các nhà
đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như chấp
nhận rủi ro của mình mà không thể san sẻ cho bất cứ ai.
1.2.Nhà đầu tư có tổ chức
Nhà đầu tư có tổ chức hay còn gọi là các định chế đầu tư, thuờng xuyên mua bán chứng

Theo Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg ngày 15 tháng 04 năm 2009 về tỉ lệ tham gia của nhà
đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm các tổ
chức, cá nhân sau đây:
• Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của tổ chức này
tại nước ngoài và tại Việt Nam.
• Tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài
trên 49%.
• Quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài
trên 49%.
• Cá nhân nước ngoài là người không mang quốc tịch Việt Nam, cứ trú tại nước ngoài hoặc
tại Việt Nam.
Theo Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam
ban hành theo Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC ngày 24 tháng 12 năm 2008, nhà đầu tư nước
ngoài bao gồm:
• Cá nhân là người có quốc tịch nước ngoài, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam,
bao gồm cả người gốc Việt Nam có quốc tịch nước ngoài.
• Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của tổ chức
này, bao gồm cả chi nhành hoạt động tại Việt Nam.
• Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước
ngoài và các chi nhánh của tổ chức này.
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 7
• Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và các quỹ đầu tư thành
lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài.
• Các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
Theo quy định tại Khoản 5, Khoản 12, Khoản 13 Luật Đầu tư 2005, nhà đầu tư nước ngoài
được quy định là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam
bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư. Đầu tư nước ngoài là việc
nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành
hoạt động đầu tư.
3.2. Nhà đầu tư trong nước:

nhân viên môi giới được phép quản lý đã tăng cường sự linh hoạt của nhà đầu tư trong việc lựa
chọn sử dụng các dịch vụ tư vấn tài chính. Điều đó cũng đòi hỏi các nhà đầu tư phải có một sự
đánh giá tương đối đầy đủ và chính xác về đối tượng cung cấp dịch vụ tài chính.
Như vậy, Việc tìm hiểu kỹ lưỡng về thị trường chứng khoán có tác dụng giúp các nhà đầu tư
sáng suốt trong việc lựa chọn hướng đầu tư, tránh mắc phải những sai lầm đáng tiếc khi chưa
thực sự có những kiến thức cơ bản khi tham gia vao thị trường đầy rủi ro này
1.2. Quuyền tiếp cận thông tin:
Thị trường chứng khoán hình thành thì tất yếu thị trường thông tin phải xuất hiện, gần nhất
là các thông tin về chủ thể phát hành chứng khoán với khả năng tài chính, năng lực kinh doanh,
tiềm năng phát triển trong tương lai…hay về giá chào mua,chào bán, số lượng lệnh, khối lượng
của mỗi lệnh.Thông tin có sự ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên thị trường chứng khoán.Có
thông tin, các nhà đầu tư mới có thể phân tích tình hình, diễn biến của thị trường chứng khoán, từ
đó nắm bắt được các xu hương về giá của chứng khoán và cuối cùng là đưa ra các quyết định
mua hay bán chứng khoán vào thời điểm hợp lý. Chình vì sự quan trọng như thế của thông tin
đối với nhà đầu tư cho nên được tiếp cận thông tin là 1 quyền cơ bản của các nhà đầu tư. Nếu
không có quyền năng này, nhà đầu tư sẽ không còn niềm tin vào chứng khoán vì 1 lẽ dĩ nhiên
không ai muốn đầu tư vào 1 thứ mình không biết rõ, rủi ro sẽ vô cùng lớn; cũng như sẽ không
tạo ra sự thu hút đối với nhà đầu tư và cũng không thể có 1 thị trường chứng khoán phát triển.
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 9
Một khi tiếp cận thông tin trở thành quyền đối với nhà đầu tư, thì nó sẽ là nghĩa vụ đối với các
chủ thể phát hành chứng khoán, của các công ty chứng khoán, các sở giao dịch chứng khoán và
của cơ quan quản lý thị trường chưng khoán.
Quyền tiếp cận thông tin của nhà đầu tư được biểu hiện như thế nào?
• Quyền được tiếp cận với các báo cáo tài chính hàng năm và các thông tin bất thường của
các công ty phát hành chứng khoán.Theo khoản 2 Điều 101 LCK 2006 các công ty phát
hành chứng khoán( cụ thể là các công ty đại chúng) phải thông báo các sự kiện bất thường
trong vòng 24h, kể từ khi xảy ra các sự kiện.
• Quyền được tiếp cận các thông tin về báo các tài chính quý, về tổn thất tài sản có giá trị từ
10% vốn chủ sở hũư trở lên, các thông tin theo quy chế của sở giao dịch chứng khoán,
trung tâm giao dịch chứng khoán của các tổ chức niêm yết.

nhà đầu tư.
1.3. Quyền được bảo vệ của nhà đầu tư chứng khoán
1.3.1. Tại sao lại đặt ra vấn đề về quyền được bảo vệ của nhà đầu tư?
“Nhà đầu tư là thành viên quan trọng nhất của thị trường. Năng lực tài chính, quyền lợi, kiến
thức và cả đạo đức của họ quyết định chất lượng phát triển thị trường chứng khoán của một quốc
gia. Bảo vệ nhà đầu tư được xem là bảo vệ thị trường từ gốc”. Quan điểm đề cao vai trò của nhà
đầu tư nói trên ít được đề cập đến ở Việt Nam trong thời gian qua và khá mới mẻ với nhiều đại
biểu tham dự hội thảo “Đào tạo nhà đầu tư và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam”, do
Trung tâm Doanh nghiệp tư nhân Quốc tế (CIPE) thuộc Phòng Thương mại Hoa Kỳ tổ chức ngày
3/7.
• Vị trí quan trọng số 1 của nhà đầu tư trên thị trường được thừa nhận ở Việt Nam, dù ít
được đề cập tới. Nhưng yêu cầu bảo vệ họ lại trở nên cấp thiết, được đặt ra trong suốt thời
gian qua, đặc biệt là ở một thị trường mới nổi, khi chứng khoán còn khá mới mẻ, kiến
thức nhà đầu tư phần lớn còn hạn chế và hệ thống pháp lý đang hoàn thiện như ở Việt
Nam.
• Bảo vệ nhà đầu tư là bảo vệ thị trường. Đó cũng là yêu cầu đặt ra đối với cơ quan quản lý
và phát triển thị trường. Bảo đảm được công bằng cho nhà đầu tư, tạo được sự tin cậy ở
họ là cơ sở để tạo dựng một môi trường đầu tư minh bạch và phát triển bền vững.
Chủ tịch Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Hoa Kỳ (NASD) Robert R.Glauber có cách nói
khá đơn giản nhưng sâu sắc như sau “Họ đặt những đồng tiền khó nhọc tích cóp vào thị trường
chứng khoán để mong tìm kiếm lợi nhuận khi hưu trí, để mong mua được nhà hay có thể nuôi
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 11
con cái ăn học; vậy thì họ đáng được tham gia vào một hệ thống công bằng và tin cậy”, ông
Robert R.Glauber nói.
1.3.2. Nhà đầu tư được bảo vệ bằng những hình thức nào?
Tại Mỹ, thay vì được bảo vệ bằng các cơ quan quản lý, nhà đầu tư được bảo vệ bằng 1 cơ
quan ngôn luận- 1 một cơ quan độc lập và chuyên biệt với kinh phí hoạt động lấy chính từ nguồn
xử phạt các hành vi vi phạm quyền lợi của nhà đầu tư. Đó là một biện pháp, một vấn đề thực sự
mới mẻ chưa từng được đặt ra tại Việt Nam. Trong khi đó các Cơ quan quản lý có thể bảo vệ nhà
đầu tư bằng các công cụ chính sách, bằng các điều kiện hoạt động hay các chế tài xử phạt.

năng có thể, đặc biệt khi thua lỗ, công ty có thể không trả cổ tức ưu đĩa, những một khi cổ đông
ưu đãi chưa được trả cổ tức thì cố đông phổ thông cũng chưa được trả.
Trong trường hợp công ty thanh lý tài sản, cổ đông ưu đãi được ưu tiên nhận lại vốn trước
cổ đông phổ thông những sau người có trái phiếu.
Cổ phiếu ưu đãi cũng có thể kèm theo những điều khoản để tăng thêm tính hấp dẫn của nó.
Cổ phiếu ưu đãi cộng dồn quy định nếu chưa trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi thì xem như công ty
còn mắc nợ, cho đến khi nào có đủ lợi nhuận để trả, và tất nhiên cho đến khi đó, cổ đông phổ
thông mới được nhận cổ tức. Cổ phiếu ưu đãi tham dự cho phép cổ đông ưu đãi được chia sẻ
thành quả hoạt động sẽ được nhận lượng cổ tức cao hơn mức tối đa đã quy định nếu cổ tức trả
cho cổ đông thường vượt quá một mức nhất định. Cổ tức ưu đãi có thể chuyển đổi cho phép cổ
đông, trong những điều kiện cụ thể có thể chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường,
thường là trong điều kiện công ty làm ăn phát đạt.
Ngoài cổ phiếu ưu đãi về cổ tức, còn có thể có cổ phiếu ưu đãi về quyền bỏ phiếu ( được
nhiều phiếu bầu hơn) hay được quyền đòi lại vốn góp ( theo luật Doanh Nghiệp Việt Nam).
1.4.1.2. Người sở hữu cổ phiếu thường thông thường được hưởng một số quyền lợi
nhất định như sau:
• Quyền nhận cổ tức theo công bố của HĐQT là việc hưởng phần lợi nhuận của công ty
dành để trả cho những nhà đầu tư. Cổ tức có thể được trả bằng tiền ( dạng phổ biến nhất ),
cũng có thể được trả bằng cổ phiếu mới. Việc có trả cở tức hay không, tỷ lệ và hình thức
chi trả cổ tức cho cổ đôgn là tùy thuộc vào kết quả hoạt động và vào chính sách của công
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 13
ty, và do hội đồng quản trị quyết định. Vì thế, thu nhập mà cổ phiếu phổ thông mang lại
cho cổ đông là thu nhập không cố định.
• Quyền mua cổ phiếu mới: Khi công ty phát hành một đợt cổ phiếu mới để tăng vốn, các
nhà đầu tư đang nắm giữ cổ phiếu phổ thông có quyền được mua trước cổ phiếu mới;
trước khi đọt phát hành được chào bán ra công chúng, trong một thời hạn nhất định.
Lượng cổ phiếu mới được phép mua theo quyền này tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu đang
nắm giữ. Như vậy, quyền này cho phép cổ đông hiện hữu duy trì tỷ lệ sở hữu của mình
trong công ty sau khi công ty đã tăng thêm vốn.
• Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần đã được thanh toán đầy đủ và được ghi trong sổ cổ

• Tham gia đấu giá mua chứng khoán, đấu giá mua cổ phần tại các doanh nghiệp
thực hiện cổ phần hoá.
• Tham gia góp vốn thành lập quỹ đầu tư chứng khoán với tỷ lệ góp vốn của bên
nước ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
• Tham gia góp vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam với tỷ lệ góp vốn của bên nước
ngoài theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
• Thực hiện đầu tư thông qua việc uỷ thác quản lý vốn đầu tư cho công ty quản lý
quỹ trên cơ sở Hợp đồng quản lý đầu tư ký với công ty quản lý quỹ
1.4.3.2. Các quyền năng cụ thể:
Nhà đầu tư nước ngoài mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam được
nắm giữ:
• Đối với cổ phiếu: tối đa 49% tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần đại chúng. Trường
hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác thì áp dụng theo quy định của pháp
luật chuyên ngành Trường hợp tỷ lệ sở hữu bên nước ngoài được phân loại theo
danh mục các ngành nghề cụ thể thì áp dụng theo danh mục phân loại.
• Đối với chứng chỉ quỹ đầu tư đại chúng: tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư
của một quỹ đầu tư chứng khoán đại chúng.
• Đối với công ty đầu tư chứng khoán đại chúng: tối đa 49% vốn điều lệ của một công
ty đầu tư chứng khoán đại chúng.
• Đối với trái phiếu: tổ chức phát hành có thể quy định giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với
trái phiếu lưu hành của tổ chức phát hành.
Về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam, theo Nghị
định số 69/2007/NĐ-CP, quyền của nhà đầu tư nước ngoài bao gồm
• Được hưởng các quyền như cổ đông khác theo quy định tại Điều lệ của ngân hàng Việt
Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần.
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 15
• Được chuyển đổi ra ngoại tệ các khoản thu nhập từ đầu tư mua cổ phần, các khoản thu từ
chuyển nhượng cổ phần để chuyển ra nước ngoài sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của pháp luật Việt Nam.
• Được quyền tham gia Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban điều hành của ngân hàng

Hàng hoá của thị trường: là các loại cổ phiếu của các DN cổ phần, có triển vọng phát triển,
chuẩn bị niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung hoặc có những lợi thế thương mại riêng biệt.
Việc mua bán cổ phiếu trên thị trường OTC được thực hiện theo phương thức “thuận mua,
vừa bán” mà không bị bất cứ một lực bên ngoài nào (giới hạn giá, lượng cổ phiếu…) tác động.
Nói chung, cơ chế mua - bán các loại chứng khoán trên thị trường OTC theo cơ chế thị trường.
Phương thức mua bán, giao dịch:
• Bên mua và bên bán trực tiếp gặp nhau để thương lượng, quyết định việc mua - bán chứng
khoán. Đây là phương thức phổ biến hiện nay tại Việt Nam.
• Bên mua và bên bán có thể giao dịch thông qua các nhà môi giới chứng khoán. Hiện nay,
phương thức này ít phổ biến hơn, nhưng xu hướng phát triển của thị trường thì trong
tương lai, phương thức này sẽ chiếm ưu thế hơn so với phương thức trực tiếp mua - bán.
Thu thập thông tin của các loại cổ phiếu: để mua chứng khoán trên thị trường OTC, NĐT
thường tìm kiếm thông tin từ các nguồn như:
• Thông tin từ các báo cáo tài chính (BCTC): nhìn chung, các CTCP chưa niêm yết không
có BCTC được kiểm toán. Do những mục đích khác nhau mà DN có nhiều hệ thống sổ
sách kế toán, BCTC. Mặt khác, việc có được một bản BCTC của DN đối với một người
bình thường là điều không hề đơn giản, nhất là trong điều kiện mà ngay bản thân DN
không biết thông tin nào nên công bố, thông tin nào không nên. Do đó, việc thu thập
thông tin từ DN qua con đường chính thức khá khó khăn, nếu NĐT không có những mối
liên hệ nhất định với công ty đó.
• + Thu thập thông tin qua các cơ quan chức năng: Theo quy định, DN phải báo cáo tình
hình hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư). Tuy nhiên,
việc tuân thủ quy định này của các DN không thực sự nghiêm túc hoặc các thông tin cũng
rất chung chung. Và các cơ quan chức năng cũng không có tránh nhiệm và nghĩa vụ công
bố các thông tin của DN. Vì vậy, việc có được thông tin từ các cơ quan này gần như là bất
khả thi đối với NĐT. Ngoài ra, còn có một tổ chức lưu trữ thông tin về các DN, đó là
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 17
Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) thuộc Ngân hàng Nhà nước. Trung tâm này lưu trữ
thông tin cơ bản của các DN có quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, tính
cập nhật của các thông tin này không cao.

Thậm chí, khi công ty tiến hành tăng vốn, phuơng thức thanh toán rất đa dạng, từ thanh toán
bằng tiền mặt, bằng ngoại tệ cho tới cả vàng hay thậm chí là đổi đất… miễn là tuân theo thỏa
thuận. Thời gian, địa điểm giao dịch là bất cứ đâu bất cứ khi nào, một quán cafe hay tại một quán
trà đá… cũng có thể là nơi giao dịch.
3. Quyền và lợi ích cơ bản của nhà đầu tư trên thị trường tập trung
3.1. Khái niệm thị trường tập trung:
Khác với thị trường OTC là thị trường chứng khoán nằm ngoài sở giao dịch, không có địa
điểm tập trung những nhà môi giới, những người kinh doanh chứng khoán như tại sở giao dịch,
các giao dịch chủ yếu dựa vào sự thoả thuận giữa người mua và người bán, không có sự kiểm
soát từ Hội đồng Chứng khoán, Thị trường chứng khoán tập trung: là thị trường hoạt động theo
đúng các quy định của pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng biểu hay
đặc biệt được biệt lệ.
Chứng khoán đăng biểu là chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép bảo đảm,
phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và công ty kinh kỷ, tứ là đã hội đủ tiêu chuẩn
quy định.
Chứng khoán biệt lệ là chứng khoán do chính phủ hoặc các cơ quan công quyền phát hành và
bảo đảm. Loại chứng khoánnày được miễn giấp phép của cơ quan có thẩm quyền.
Để có thể gia nhập vào thị trường chứng khoán tập trung, một công ty phải đáp ứng một số
điều kiện nhất định. Việc đạt được những tiêu chuẩn này giúp cho công ty đó có thể được giao
dịch xuyên trên thị trường chứng khoán và việc tìm kiếm những thông tin về công ty này cũng trở
nên dễ dàng hơn đối với các nhà đầu tư. Hiện tại chỉ có các loại chứng khoán được niêm yết tại
TTGDCK TP.HCM mới được giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung.
Tại sở giao dịch chứng khoán, các giao dịch được tập trung tại một điểm; các lệnh được
chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch.
Cấu trúc thị trường thứ cấp dựa trên cơ sở đấu giá và đấu lệnh. Theo đó
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 19
- Trong thị trường đấu giá: các nhà đầu tư giao dịch những chứng khoán đã được đặt giá ẩn
định bởi các nhà thị trường. Giá được xác định thông qua cạnh tranh giữa các nhà tạo thị trường.
- Trong thị trường đấu lệnh: Lệnh của các nhà đầu tư được ghép với nhau không có sự
tham gia của các nhà tạo thị trường. Lệnh được ghép tại mức giá thỏa mãn cả bên mua và bán.

nữa là các chứng khoán càng đáp ứng được những yêu cầu do Luật định thì càng thu hẹp rủi ro và
gia tăng sự đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư. Chính điều này làm nên sự khác biệt giữa
quyền lợi của các nhà đầu tư trên TTTT và thị trường OTC- 1 thị trường tự do, với hình thức thoả
thuận mua bán các loại chứng khoán chưa đủ điều kiện niêm yết có độ rủi ro cao. . Như vậy có
thể thấy rằng các quyền và lợi ích kể trên của các nhà đầu tư đều được thể hiện đầy đủ khi họ
tham gia trên thị trường chứng khoán tập trung trong khi đó nếu tham gia các thị trường phi tập
trung thì quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư sẽ ít được đảm hơn. Và các rủi ro mà nhà đầu
tư trên thị trường OTC thường gặp như:
- Mua cổ phiếu nhưng không được hưởng quyền mua khi công ty tăng vốn điều lệ vì những
nhà đầu tư mới, người mua cổ phiếu mới trong giai đoạn giao thời, hoặc khi danh sách cổ đông
đã được chốt, nếu không biết, tiền đã thanh toán cho người chuyển nhượng, mặc dù cổ phiếu
mình đã nắm giữ, nhưng chưa làm xong thủ tục chuyển nhượng, nên mất quyền mua, quyền mua
cổ phiếu mới vẫn thuộc về người chuyển nhượng, trong khi người chuyển nhượng đã bán cổ
phiếu của mình đi rồi theo giá thị trường tại thời điểm đó.
- Mua cổ phiếu mà không được hưởng cổ tức: Cổ tức của công ty chia theo số vốn cổ phần
hay nói cách khác theo số cổ phiếu mà nhà đầu tư nắm giữ. Nhưng những điều kiện để được
hưởng cổ tức ở một cổ đông, thì không phải một cổ đông nào cũng nắm vững. Chẳng hạn thời
gian cổ đông nắm giữ cũng là điều kiện để được hưởng cổ tức. Sẽ không được hưởng quyền lợi
này khi họ mua phải cổ phiếu trong những ngày không được hưởng quyền cổ tức. Hoặc trong
điều kiện của hợp đồng không ghi rõ ràng thì họ có thể mất trắng quyền cơ bản này.
- Mua cổ phiếu gặp rủi ro ngay trong khi giao dịch:Không như thị trường niêm yết, trên
OTC, người bán người mua phải trực tiếp giao dịch với nhau, mua bán sang tay.Và như bất cứ
loại mua bán sang tay nào khác, quá trình giao dịch có thể dùng dằng, lúc ưng lúc không giữa hai
bên, gây lãng phí cả thời gian, tiền bạc và cơ hội.
- Mua phải cổ phiếu chưa được phép chuyển nhượng: Cổ phiếu của các thành viên sáng lập
công ty, Cổ phiếu trong công ty theo quy định nội bộ của công ty chưa được lưu hành ra ngoài.
Nhà đầu tư mua phải trong thời gian này sẽ không có được những quyền lợi của cổ phiếu. Trong
thời gian điều lệ công ty quy định chưa cho phép chuyển nhượng thì các quyền lợi vẫn thuộc về
các chủ sở hữu cũ, tức là các quyền lợi về quyền mua thêm cổ phiếu tăng vốn, chia cổ tức…, vẫn
N H À Đ Ầ U T Ư C H Ứ N G K H O Á N | 21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status