Windows Vista SP2 - Tối ưu toàn diện
Bài viết trình bày các bước tối ưu và cảm nhận về
Windows Vista SP2 dựa trên kinh nghiệm của tác giả và
một số tài liệu trên mạng.
Sau hơn 5 tháng đợi chờ từ bản SP2 beta, ngày 25/5/2009
Microsoft đã chính thức phát hành bản cập nhật SP2 cho
Windows Vista, hệ điều hành được nhiều người quan
tâm, mặc dù số lượng người thực sự sử dụng nó cho công
việc hàng ngày (thay thế Windows XP) không nhiều.
Bản cập nhật (1 file, 348,3Mb) Vista SP2 và Windows
Server 2008 SP 2 có thể tải trực tiếp từ website của
Microsoft
(
/>41-0B6B-4398-BBBFEE121EEC0535/Windows6.0-KB948465-X86.exe). Bộ cài trên đĩa
DVD của Windows Vista SP2 RTM (Release To Manufacturing) cũng đã được đưa ra thị
trường.
Bài viết này trình bày các bước tối ưu toàn diện và cảm nhận về Windows Vista SP2 dựa
trên kinh nghiệm của tác giả và một số tài liệu trên mạng. Hy vọng nó sẽ mang lại nhiều
điều bổ ích cho bạn đọc.
Trước hết là kinh nghiệm của tác giả khi cập nhật lên Windows Vista SP2 trực tiếp từ bản
SP1 bằng cách cài đặt file Update download từ địa chỉ website của Microsoft ở trên. Đầu
tiên, phân vùng (partition) chứa Windows Vista của bạn cần phải còn trống hơn 3 GB thì
mới có thể thực hiện cập nhật (Update). Tiếp đến, quá trình cập nhật chạy tương đối lâu
và không hiệu quả: hệ thống vẫn chậm, bộ nhớ rác nhiều (thư mục chứa file nổi tiếng bí
hiểm và chiếm dung lượng lớn của Windows Vista là C:\Windows\winsxs lại tăng lên).
Vì vậy theo tôi bạn nên cài đặt trực tiếp Windows Vista SP2 từ đĩa DVD chứ không nên
dùng file Update.
Gỡ bỏ Vista trên hệ thống cài nhiều hệ điều hành
Để thực hiện quá trình cài đặt, bạn cần gỡ bỏ Windows Vista cũ đang cài trên hệ thống đa
HĐH của bạn (ở đây tôi giả sử bạn cài 2 HĐH Windows XP SP3 và Vista SP1) còn nếu
Vista SP2 cũng có nhiều cái xứng đáng với sự chờ đợi. Trước hết là thời gian cài đặt khá
nhanh, khoảng 35 phút từ đĩa DVD, quá trình cài đặt cũng đơn giản, gồm ít bước hơn so
với Windows XP.
Sau đó tôi chỉ mất 4 giờ để cài tất cả những thứ sau (theo thứ tự): Vista Codec, Office
2007, Office 2007 SP2, Visual Studio 2008 (gần như toàn bộ), MSDN 9.0, SQL Server
2005 Dev Edition, Visual Studio 2008 SP1. Nếu như trước kia có nhanh cũng phải mất
khoảng gần 1 ngày để cài hết số phần mềm này.
Mới cài đặt xong, Vista SP2 chiếm khoảng 9
GB, trong đó 1 GB là cho file Hibernate, 1,28
GB dành cho Pagefile của hệ thống, riêng thư
mục nổi tiếng Winsxs chiếm tới 4,12 GB
(chẳng hiểu để làm gì?), trong đó thư mục con
Backup có 1979 file chiếm 365 MB. Cảm
nhận đầu tiên là SP2 khá nhanh, ngang ngửa
với XP SP3, đặc biệt đối với các thư mục có
nhiều file (khoảng hơn 600 file) thì truy cập
nhanh hơn nhiều so với Vista SP1. Các ứng
dụng như Word 2007, IE7 nhanh hơn so với
XP SP3. Và quả thật đã có nhiều cải tiến khi
kiểm tra với Task Manager cho thấy hệ thống
mặc dù chạy nhiều nhưng chỉ chiếm 390 MB
RAM, nếu không có ứng dụng nào chạy có
thể giảm xuống 350 MB.
Đây thực sự là một cải tiến đáng kể vì các phiên bản trước, tối thiểu khi chạy Vista cũng
dùng tới hơn 500 MB RAM, thậm chí trên một số hệ thống, bản Home Edition chiếm tới
gần 900 MB RAM. Quá trình tắt và khởi động diễn ra khá nhanh, mặc dù chưa tiến hành
tối ưu gì nhưng khởi động chỉ cần 4 lần chạy thanh "progress bar" của Windows Vista.
Trước khi tiến hành các bước tối ưu hóa tiếp theo tôi
muốn các bạn chú ý một số điều sau: Một là đối với các
dịch vụ và các bước đưa ra ở đây, tôi không đưa ra các
khởi động với hơn 2 lần chạy
progress bar. Bộ nhớ hệ thống dùng
cũng ít hơn.
Tuy nhiên sau khi cài xong IIS 6 thì
hệ thống khởi động chậm hẳn đi,
không hiểu vì sao. Mặc dù vậy sau
khi khởi động, hệ thống vẫn nhanh
hơn Windows XP SP3 khi chạy các
ứng dụng .NET, Office 2007,
Visual Studio 2008, IE và Windows
Explorer.
Trên thực tế bạn chỉ cần tới khoảng
20 dịch vụ của Windows để có thể:
vào mạng, in ấn, chia sẻ file, thực
hiện các công việc thông thường
khác (soạn thảo văn bản, nghe nhạc
) (đối với Windows XP thì con số
dịch vụ cần thiết cho các tác vụ cơ bản là 8). Còn nếu bạn chạy trên máy để bàn thì bộ
nhớ sau khi hệ thống khởi động có thể nhỏ hơn con số hơn 300 MB tôi đưa ra ở trên.
Để tự động hóa thao tác cấu hình các dịch vụ trên, tôi đã viết một ứng dụng Win32 nhỏ
(có thể tải về từ website TGVT Online) cho phép các bạn tự động thiết lập cấu hình các
dịch vụ như trên. Chương trình có giao diện như sau:
Các lựa chọn tương ứng với các checkbox, còn lại các dịch vụ khác sẽ được thiết lập như
đã trình bày. Trước khi nhấn nút
Apply config các bạn nên nhấn nút Save current config
để lưu lại cấu hình cac dịch vụ hiện tại của hệ thống. Sau khi nhấn Apply config, chương
trình sẽ tự động thiết lập cấu hình cho các dịch vụ và yêu cầu khởi động lại Windows.
Bỏ các tính năng Remote Assistance và Remote Desktop
Nhấn chuột phải lên biểu tượng My Computer,
Sử dụng hiệu quả ổ cứng
Không như các phiên bản Windows XP trước đây,
Windows Vista SP2 đã tận dụng khả năng truy cập trực
tiếp DMA của ổ cứng để tăng tốc độ đọc/ghi, tuy nhiên vẫn cần phải điều chỉnh để
Windows triệt để tận dụng khả năng của ổ đĩa cứng.
Bạn vào mục Device Manager (nhấn chuột
phải vào My Computer, chọn Manage, sau đó
chọn mục Device Manager), tìm tới mục Disk
drivers trong cửa sổ Device Manager bên trái,
nhấn chuột phải lên dòng ghi tên ổ đĩa cứng
của bạn và chọn Properties, tiếp đến tìm tới
tab Policies trong hộp thoại hiện ra, đánh dấu
chọn Enable advanced performance như hình
sau:
Tăng hiệu năng hệ thống bằng cách bỏ các
hiệu ứng đồ họa
Vẫn trong hộp thoại System Properties, bạn
sang tab Advanced Performance, mục , điều
chỉnh hiển thị của Windows để hệ thống chạy
nhanh hơn bằng cách nhấn chuột lên nút
Settings của mục Performance sau đó chọn
Customs và bỏ một số hiệu ứng đồ họa trên
giao diện của Windows như sau:
Chia sẻ file trong Vista
Đầu tiên cần phải chắc chắn rằng các dịch vụ
Server và Workstation đang chạy (tham khảo
phần cấu hình dịch vụ).
net stop Workstation
Đặt hai file này vào thư mục C:\Windows
(hoặc bất cứ thư mục nào mà đường dẫn tới
nó nằm trong biến môi trường của Windows).
Khi nào bạn muốn chia sẻ thì vào Start->Run
và gõ lệnh startshare, sau khi chia sẻ xong
bạn gõ lệnh
stopshare. Hệ thống cũng sẽ tự
động thiết lập chế độ không chia sẻ khi bạn
khởi động lại.
Để bỏ biểu tượng kết nối mạng (Network
Connection Icon) trên Windows Vista, kích
chuột phải vào thanh Task bar, chọn
Properties, sau đó tìm tới tab Notification
Area và bỏ chọn checkbox Network như hình.
Hibernate của Vista
Không giống như đối với Windows XP, trong Windows
Vista để bỏ chế độ Hibernate bạn cần chạy chương trình
Disk Cleanup (Start->Programs->Accessories->System
Tools->Disk Cleanup). Tiếp đến bỏ đánh dấu chọn mục
Hibernation File Cleaner như hình.
Nhấn vào OK để bắt đầu quá trình xóa các file, khi đó
file hiberfil.sys cũng được xóa khỏi hệ thống và chế độ
Hibernate cũng mất.
Một cách đơn giản khác là bạn vào Start->Run gõ cmd
sau đó Enter. Trong cửa sổ lệnh hiện ra bạn gõ lệnh
powercfg –h off.
Windows)
IP tĩnh hay động
Điều này tùy thuộc vào môi trường mạng mà
bạn đang sử dụng, nhưng theo tôi hãy cố gắng
sử dụng IP tĩnh nếu bạn có thể, vì nó sẽ tiết
kiệm tài nguyên hơn cho hệ thống.
Nếu bạn sử dụng IP động, thì các dịch vụ sau cần thiết lập là Automatic:
- DHCP Client
- Network List Service
- Network Location Awareness
Còn nếu bạn đặt IP tĩnh thì các dịch vụ trên sẽ chỉ cần thiết lập là manual, chúng sẽ
không chạy tự động khi hệ thống khởi động. Khi thay đổi IP của hệ thống, bạn cần chạy
dịch vụ DHCP client, sau đó có thể stop dịch vụ này, để hệ thống có thể nhận IP mới và
hoạt động bình thường mà không cần khởi động lại.
Dọn dẹp ổ cứng
Đối với một hệ thống bình thường bạn có thể dọn dẹp ổ cứng bằng cách xóa các file trong
thư mục tạm (temp) của hệ thống (hệ điều hành), thư mục tạm của IE, thư mục tạm của
Firefox, chúng nằm ở các thư mục sau:
- C:\Users\\AppData\Local\Temp
- C:\Users\\AppData\Local\Mozilla\Firefox\Profiles
- C:\Users\\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files
Nếu cài đặt SQL Server 2005, bạn có thể xóa các file trong thư mục C:\Program
Files\Microsoft SQL Server\90\Setup Bootstrap\LOG\Files, ít nhất cũng thu hồi được vài
chục MB.
Nếu bạn cài đặt Visual Studio 2005/2008, bạn có thể xóa các file trong thư mục
phục lại được.
Về các driver, DLL thì tương đối phức tạp, ví dụ nếu bạn không dùng Bluetooth bạn có
thể bỏ chọn các mục có chữ Bluetooth, hoặc nếu bạn không sử dụng ổ đĩa SCSI thì bạn
có thể bỏ các driver, DLL liên quan. Các mục mà bạn có thể xem xét nữa là Windows
Defender, Windows Firewall, SideBar.
Một lần nữa tôi xin lưu ý là các bạn cần thận trọng khi sử dụng chương trình này để bỏ đi
các DLL, driver không dùng. Hãy kiểm tra bằng cách tìm trên Google trước khi bỏ
chúng.
Một số chú ý khác
Nên cài Windows Vista như thế nào? Theo tôi bạn nên chọn chế độ dualboot, nghĩa là cả
Windows XP và Windows Vista. Cài Windows XP trước (nên cài bản SP3), sau đó cài
Windows Vista lên một partition khác. Bạn cũng có thể cài chung cả hai hệ điều hành
trên 1 partition, nhưng theo tôi bạn không nên làm thế.
Để thực hiện chia ổ đĩa bạn có thể sử dụng chương trình "Acronis Disk Director Suite" có
sẵn trên đĩa Hirens Boot 9.8, đây là chương trình chia ổ đĩa nhanh nhất và tiện lợi nhất
(đặc biệt đối với các ổ đĩa có dữ liệu) mà tôi biết.
Về dung lượng, nếu không có vấn đề gì thì bạn nên chia tối thiểu 2 partition 25 GB, tất
nhiên bạn có thể dùng partition có kích thước nhỏ hơn, khoảng 18 GB, nếu như không cài
các công cụ lập trình như VS 2008, SQL Server 2008 hoặc không cài các phần mềm có
dung lượng lớn khác.
Nếu bạn cắm một máy ảnh số hoặc máy quét (scanner) vào hệ thống thì cần đảm bảo là
dịch vụ "Windows Image Acquisition (WIA)" đã chạy (Start).
Dịch vụ "Print Spooler" cần phải chạy khi bạn thực hiện in ấn hoặc xem trước bản in đối
với Excel, PowerPoint (trong Word thì không cần). Nhưng nếu bạn ít khi thực hiện tác vụ
này, bạn có thể thiết lập dịch vụ là manual và giống như trong phần chia sẻ file, bạn sẽ có
2 file startprint.bat và stopprint.bat để bật và tắt dịch vụ này.
Nếu bạn cập nhật một phần mềm nào đó của Microsoft (IE, Office, Visual Studio ) trực
tiếp qua mạng thì bạn cần chạy các dịch vụ: Background Intelligent Transfer Service,
xuyên.
8. Workstation (manual)
9. Windows Firewall (disable)
10. Windows Error Reporting Service (disable)
11. Windows Defender (disable)
12. WebClient (disable)
13. TCP/IP NetBIOS Helper (disable)
14. Tablet PC Input Service (disable)
15. Terminal Services (disable)
16. Terminal Services Configuration (disable)
17. Terminal Services User Mode Port Redirector (disable)
18. Smart Card (disable)
19. Smart Card Removal Policy (disable)
20. System Event Notification Service (manual)
21. SSDP Discovery (disable)
22. SQL Server Integration Services (manual)
23. SQL Server (MSSQLSERVER) (manual)
24. SQL Server FullText Search (MSSQLSERVER) (manual)
25. Security Center (disable)
26. ReadyBoost (manual)
27. Remote Registry (disable)
28. Routing and Remote Access (disable)
29. Parental Controls (disable)
30. Peer Name Resolution Protocol (disable)
31. Peer Networking Grouping (disable)
32. Peer Networking Identity Manager (disable)
33. Program Compatibility Assistant Service (disable)
34. Print Spooler (manual) – nếu bạn dùng máy in thì cần để Automatic
35. Portable Device Enumerator Service (manual)
36. Microsoft .NET Framework NGEN v2.0.50727_X86 (manual)