Mục lục
Lời nói đầu
Chơng I : Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất tơng
ứng với trình độ, tính chất lực lơng sản xuất - Quan điểm
của Đảng về sự vận dụng này .
I Lực lợng sản xuất quan hệ sản xuất :
1. Lực lợng sản xuất .
2. Quan hệ sản xuất
3. Quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất vứi tính chát, trình độ của lực
lợng sản xuất .
4. Quan điểm của Đảng, Nhà nớc trong việc vận dụng qui luật này vào
kinh tế nớc ta hiện nay .
ChƯơng II : Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ
sản xuát với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất vào
nền kinh tế Việt Nam .
I- Sự vận dụng thành công quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với tính chất, trình độ phát triển của lực lợng sản xuất trong
thời kì quá độ lên CNXH ở miền Bắc nớc ta và nớc ta hiện nay .
II- Nhìn lại những sai lầm về việc vận dụng quy luật quan hệ sản
xuất phù hợp với tính chất trình độ của lực lợng sản xuất vào nền
kinh tế Việt Nam
III- Phát triển lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất theo định hớng
XHCN.
1. Mt s yu kộm bt cp sau hn 20 nm i mi
2. Nhng vn CNH-HH
3. Nhng vn phỏt trin kinh t nhiu thnh phn
IV-Nhng vn tranh cói hin nay xung quanh mi quan h LLSX va
qhsx
1
Lời nói đầu
Lịch sử xã hội loài ngời đã trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài để
đối với con ngời, cũng là một cách làm cho lực lợng sản xuất phát triển
nhanh chóng . Lực lợng sản xuất thể hiện trình độ của con ngời, thể hiện
năng lực hoạt động thực tiễn của con ngời trong quá trình sản xuất ra của cải
vật chất .
Trong đó, lực lợng sản xuất là sự kết hợp sức lao động của con ngời
và t liệu sản xuất ra của cải vật chất mà trớc hết là công cụ lao động . Và lực
lợng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là ngời lao động . Chính ngời lao
động là chủ thể của quá trình lao động .Với kỹ năng lao động, sức sáng tạo
không ngừng, cùng kinh nghiệm sản xuất của mình, con ngời đã tác động
vào đối tợng để tạo của cải vật chất . Và qua quá trình lao động, chính sự va
chạm và cọ sát nhiều với giới tự nhiên, với thực tế, sức mạnh và kỹ năng lao
động của con ngời ngày càng tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con ngời ngày
càng phát triển, điều đó có nghĩa hàm lợng trí tuệ của lao động ngày càng
cao, và nền sản xuất sẽ nhanh chóng phát triển . Đây có lẽ là yếu tố quyết
3
định, tiềm ẩn trong nền sản xuất hàng hoá cần đợc khai thác triệt để . Bởi vậy
ngời lao động luôn là đối tợng trung tâm của lực lợng sản xuất . Bửi con ng-
ời có trí tuệ, trí thức . Tri thức, trí tuệ đã trở thành nhân tố hàng đầu của sản
xuất . Đó có lẽ là nguồn lực, sức mạnh của nền sản xuất . Ngời lao động nói
riêng, con ngời nói chung là chủ thể sáng tạo, và sự sáng tạo đó là không
ngừng .
Cùng vứi ngời lao động, công cụ lao động cũng là yếu tố cơ bản của
lực lợng sản xuất , đóng vai trò quyết định trong t liệu sản xuất . Công cụ lao
động là do con ngời tạo ra, là sức mạnh của tri thức đợc vật thể hoá, nó nhân
sức mạnh của con ngời trong quá trình sản xuất .Công cụ lao động là yếu tố
động nhất của lực lợng sản xuất .Ngày nay, công cụ lao động đang đạt tới
trình độ cao, đợc tin học hoá, tự động hoá nên nó có thể trở thành lực l ợng
hết sức to lớn và đáng kể .Chính yếu tố động của công cụ lao động là nguyên
nhân sâu xa của mọi biến cố xã hội .Bởi nó đã một phần tạo nên sự không
phù hợp của lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất .Từ đó có thể nói, trình
quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của lực lợng
sản xuất. Khi một hình thái này hay một hình thái khác ra đời, không phải do
ngẫu nhiên cũng không phải do con ngời tự ý lựa chọn và quyết định theo ý
mình mà do sự của sản xuất phát triển. Nh vậy, ở một trình độ sản xuất nhất
định, thì sẽ có một hình thái của quan hệ sản xuất riêng. Ví dụ nh: nền sản
xuất thủ công trong xã hội chiếm hữu nô lệ, với nền sản xuất. Trong xã hội
nguyên thuỷ tơng ứng với hai quan hệ sản xuất hoàn toàn khác nhau. Nếu
nh trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, lực lợng sản xuất kèm phát triển dẫn
đến quan hệ giữa ngời với ngời là quan hệ làm chung hởng chung. Nhng đến
xã hội chiếm hữu nô lệ, quan hệ sản xuất hởng chung làm chung tan rã,
quan hệ sản xuất mới ra đời có sự sở hữu t nhân về t liệu sản xuất.
5
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngời đã và đang tồn tại hai hình
thức sở hữu cơ bản đối với t liệu sản xuất: sở hữu t nhân, sở hu công cộng. Sở
hữu công cộng là hình thức sở hữu trong đó t liệu sản xuất đều thuộc về mọi
thành viên trong xã hội. Do đó, về nguyên tắc mỗi thành viên đều có quyền
tham gia vào tổ choc quản lí sản xuất, cũng nh phân phối sản phẩm lao động.
Cũng vì thế, các quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất và đời sống tinh
thần, đời sống xã hội, có khả năng thành quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau
vì mục đích của con ngời. Sở hữu t nhânlà hình thức sở hữu trong đó t liệu
sản xuất chỉ thuộc về một ngời hoặc một số ít ngời trong xã hội. Do vậy, các
quan hệ xã hội có nhiều khả năng trở thành bất bình đẳng tạo nên các quan
hệ thống trị ở mức đọ khác nhau và bị trị.
3. Quy luật về sự phù hợp quan hệ sản xuất với tính chất trình độ
phát triển của lực lợng sản xuất
a. Khái niệm về tính chất, trình độ của lực lợng sản xuất và khái niệm
quy luật về sự phù hợp .
Trong lịch sử, lực lợng sản xuất thể hiện ở tính chất của lực lợng sản
xuất đó. Khi sản xuất với công cụ lao động thủ công, lực lợng sản xuất
mang tínhchất cá nhân với công cụ sản xuất là thủ công, tính chất của lao
phải thay đổi để phục vụ yêu cầu mới của sản xuất phù hợp với điều kiện
thực tế của sản xuất. Thực tế đã chứng minh điều này: Trong giai đoạn đầu
của xã hội loài ngời, khi khả năng khai thác tự nhiên của con ngời là rất ít ỏi,
lực lợng sản xuất còn thấp kém buộc con ngời phải liên kết với nhau dới hình
thức làm chung hởng chung. Đó là quan hệ sản xuất cộng sản nguyên thuỷ.
Nhng khi khả năng khai thác của con ngời đợc nâng cao đến mức con ngời
có thể tiến hành lao động một cách riêng rẽ thì mối quan hệ làm chung hởng
chung tan rã, và nhờng chỗ cho một hình thức sản xuất khác mà ngời ta gọi
là hình thức quan hệ sản xuất của chế độ chiếm hữu nô lệ.
7
Sự phát triển của lực lợng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho
quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển
của lực lợng sản xuất. Đó là do tính năng động của lực lợng sản xuất mâu
thuẫn với tính ổn định tơng đối của quan hệ sản xuất. Và khi đó quan hệ sản
xuất trở thành xiềng xích của lực lợng sản xuất, kìm hãm lực lợng sản xuất
phát triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển của lực lợng sản xuất tất
yếu dẫn đến sự thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới với
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất tiếp tục phát triển. Đó là lúc mâu
thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất đợc giải quyết. Nh vậy quan
hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lợng sản xuất ( phù hợp).
Lực lợng sản xuất còn quyết định các hình thức kinh tế của quan hệ
sản xuất.
Tuy ra đời trên cơ sở lực lợng sản xuất, do lực lợng sản xuất quyết
định và quy định, nhung quan hệ sản xuất không chỉ chịu tác động một
chiều, đóng vai trò thụ động đối với lực lợng sản xuất. Ngợc lại, một khi đã
hình thành, quan hệ sản xuất có vai trò to lớn tác động trở lại lực lợng sản
xuất.
+ Quan hệ sản xuất có tính độc lập tơng đối và tác động trở lại sự phát
triển của lực lợng sản xuất:
Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất tác động đến thái độ
nhân dân gặp khó khăn là: Không nắm vững quan hệ sản xuất phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lợng sản xuất từ đó, Đảng đã rút ra
cốt lõi để đẩy mạnh việc vận dụng quy luật bằng cách nêu vấn đề gắn liền
với cách mạng quan hệ sản xuất, với lực lợng sản xuất, tổ chức lại nền sản
xuất xã hội để có những bớc đi đúng hớng.
Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất đã trở thành một quy luật cơ bản nhất, là kim chỉ nam
cho mọi sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nớc ta .Đó là cơ sở cho những sửa đổi hay
những chính sách ban hành của Đảng, Nhà nớc .
9
Chơng II
Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
vào nền kinh tế Việt Nam
I- Sự vận dụng thành công quy luật về sự phù hợp của quan hệ
sản xuất với tính chất, trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc n-
ớc ta và ở nớc ta hiện nay.
Sau khi hoàn thành xong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ miền bắc
nớc ta bớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từ một nền công nghiệp
nghèo nàn lạc hậu nớc ta tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà không qua giai
đoạn phát triển T Bản Chủ Nghĩa.
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực l-
ợng sản xuất là một quy luật cơ bản của sự phát triển xã hội, nó là một qui
luật với mọi hình thái kinh tế xã hội .Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc nớc ta xảy ra không phải do đã có một nền sản xuất phát triển đến
mức đòi hỏi phá bỏ qua quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩakìm hãm nó mà
cuộc cách mạng xảy ra trong thời kỳ quá độ chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã
hổitên phạm vi thế giới .Nhiệm vụ cải tạo nền kinh tế cá thể thành nền kinh
tế tập thể xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nớc ta cùng xuất phát từ bản thân lực
xuất .Yêu cầu bức thiết là phải ra sức xây dựng cơ sở vật chất .Đây là những
nhiệm vụ, yêu cầu của Đảng, nhng đờng lối cải tạo xã hội chủ nghĩa đều dựa
và áp dụng quy luật về sự phù hợp của lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
và những thành công trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có đoc là đều
do chúng ta đã vận dụng thành công qui luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản
11
xuất với tính chất, trình độ của lực lợng sản xuất .Đó là cơ sở để ta thực hiện
một bớc đột phá đó là từ một nền nông nghiệp lạc hậu, nớc ta tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn t bản chủ nghĩa .
Hiện nay, Đảng đã chỉ đạo nớc ta không ngừng vận động phát triển,
xây dựng một lực lợng sản xuất lớn mạnh, phát triển bền vững không ngừng
đồng thời trong quan hệ sản xuất cũng không ngừng đổi mới ; để có thể bắt
kịp và phù hợp với lực lợng sản xuất .Cụ thể, nền kinh tế nớc ta đang phát
triển tích cực các hành phần kinh tế, nhân rộng mô hình hợp tác, liên kết
công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nớc và kinh tế hộ gia đình
.Điển hình trong sản xuất nông nghiệp sự đa dạng các thành phần kinh tế tạo
ra cơ chế quản lý với nhiều hình thức sản xuất nông nghiệp mới, phù hợp với
quan điểm đổi mới khôn ngừng của Đảng và nhờ đó có sự biến đổi căn bản
về cả ba mặt của quan hệ sản xuất .Chẳng hạn về quan hệ sở hữu : Hựp tác
xã vốn là ngời quản lý t liệu sản xuất, và sức lao động, đã trở thành một tổ
hợp dịch vụ hỗ trợ cho nông dân sản xuất kinh doanh một cách tự chủ sáng
tạo .Về quan hệ quản lý : Cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp trong
các hợp tác xã cũ đợc thay thế bằng quyền làm chủ trong sản xuất kinh
doanh .Mô hình trang trại phát triển khá phong phú, chủ yếu là trang trại vừa
và nhỏ, phù hợp với gia đình .Sự hình thành các trang trại đã góp phần xoá
đói giảm nghèo ở nông thôn bằng hình thức VAC hoặc VACR .Hình thức
phân phối bình quân, cào bằng trớc đây đợc thay thé bằng hình thức dựa trên
cơ sở két quả sản xuất kinh doanh của hộ nông dân .Trong t tởng của Đảng
luôn xác định rõ : nhấn mạnh lực lợng sản xuất không có nghĩa là xem nhẹ
vai trò tích cực của quan hệ sản xuất . Bởi vì, sự biến đổi hay nói cách khác,
nông nghiệp .Nhng ta có thể suy rộng ra đợc thành quả lớn lao mà nền kinh
tế Việt Nam đã đạt đợc trong thời kỳ đổi mới .
13
II Nhìn lại những sai lầm về việc vận dụng qui luạt quan hệ
sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực l-
ợng sản xuất .
Nhìn lại chặng đờng đã qua của cuộc cải cách và xây dng xã hội chủ
nghĩa ở nớc ta, ta không thể không nhắc đến những sai lầm của Đảng trong
việc vạn dụng qui luật vào việc xây dựng và phát triển nền kinh tế Việt Nam
và ta càng phải nhìn thẳng vào những sai lầm ấy, đó là một cách mà nớc ta có
thể phát triển nhanh chóng, không đi theo vết xe đổ của chính mình .
Tất cả sai lầm đều xuất phát từ nguyên nhân :đó là nhận thức cha đúng
đắn về mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
.Trong công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dng quan hệ sản xuất
mới, chúng ta đã ra sức vận động gần nh cỡng bức nông dân đi vào các hợp
tác xã, mở rộng phát triển qui mô nông trờng quốc doanh, các xí nghiệp lớn
mà không tính đến trình độ lực lợng sản xuất đang ở thời kỳ quá thấp kém,
tạo ra những qui mô lớn, một sự ngộ nhận là đã có Quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa . Chúng ta đã hành động mà không xuất phát từ thực tế vì thế
chúng ta đã duy trì quá lâu tình trạng quan hệ sản xuất lạc hậu so với lực l-
ợng sản xuất, hoặc sự phát triển của quan hệ sản xuất bị thúc đẩy lên quá
cao, quá xa thực tế làm cho nó tách rời với trình độ thấp kém của lực lợng
sản xuất .Cụ thể để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất tiên tiến với
lực lợng sản xuất lạc hậu ta ra sức xây dng sản xuất bằng cách đa các máy
móc vào các cơ sở sản xuất nông nghiệp còn non yếu, què quặt nhằm xây
dựng địa bàn công-nông mà không tính đến khả năng quản lý trình độ, tổ
chức sử dụng của công dân .
Cũng do không có cách nhìn nhận, đánh giá đúng mức về hai yếu tố
:quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất, vì thế trong quản lý sản xuất, sai lầm
ở chỗ là không thấy đợc tính năng động chủ quan của con ngời ( chính là lực
15
gian ngắn là xong . Nhng nếu có làm đợc thì đó không phải là mục đích trớc
mắt của nớc ta khi mà chế độ công hữu này cha thể phù hợp với lực lợng sản
xuất hiện có .Một sai lầm cơ bản nữa là nớc ta đã xoá bỏ quá sớm quan hệ
sản xuất t bản chủ nghĩa, trong khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của nớc ta
cha đủ sức thực hiện sự thay thế này, điều đó làm mất một khả năng tạo sản
phẩm dồi dào .Và chúng ta cũng đã nóng vội xoá sạch tiểu thơng khi hệ
thống thơng nghiệp quốc doanh, hợp tác xã của ta còn rất non yếu, cha đủ
sức gánh vác vai trò của ngời nội trợ xã hội , không thể đáp ứng hết lợng
nhu cầu quas lớn của nhân dân, gây ra ách tắc cho lu thông hàng hoá .Ta đã
quá nóng vội, luôn muốn đốt cháy giai đoạn nhng lại không phù hợp với thực
trạng kinh tế nớc nhà .Với một trình độ lực lợng sản xuất, năng lực tổ chức
quản lý còn rất thấp, mặt khác quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta không
phải từ t bản chủ nghĩa mà là từng bớc quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua t
bản chủ nghĩa, ta cần phải nhận thức đầy đủ và vận dụng sáng tạo các qui
luạt khách quan .Đặc biệt trong thời đại ngày nay lực lợng sản xuất đã mang
tính chất quốc tế hoá, đòi hỏi chúng ta phải vận dụng một cách sáng tạo qui
luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng
sản xuất trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế .Những sai lầm do
vận dụng không đúng qui luật trên có thể gây ra hậu quả nghiem trọng và
thậm chí gây ra sự đổ vỡ nền knh tế của xã hội .
III Phát triển lực l ợng sản xuất và xây dựng quan hệ
sản xuất theo định hớng xã hội chủ nghĩa
1.MT S YU KẫM BT CP
Nn kinh t kộm hiu qu v sc cnh tranh cũn yu.Tớch ly ni b v sc
mua cũn yu.C ch kinh t chuyn dch chm theo hng CNH-HH,gn
sn xut vi th trng c cu u t cũn nhiu bt cp hp lý,tỡnh trng bao
cp v bo h cũn nng
16
Quan h sn xut cú nhiu mt cha phự hp,hn chvic gii phúng v phỏt
thống những yếu tố nào có giá trị để bổ sung cho việc xây dựng lực lợng sản
xuất hiện đại, cần kết hợp những yếu tố truyền thống với các yếu tố hiện đại
đảm bảo tính phủ nhận có kế thừa, tiếp thu có chọn lọc cho phép tạo nên một
sự phát triển ổn định của lực lợng sản xuất tránh đợc sự gáy gục trong tiến
trình phát triển nó .Tức là cần kết hợp nội lực của bản thân và sức mạnh của
thời đại, đó là sức mạnh của khoa học kỹ thuật công nghệ cao.
Những tiến bộ to lớn của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, ngày nay
cho phép nớc ta có thể tranh thủ vận dụng trực tiếp những thành tựu khoa học
kỹ thuật, nhập khẩu t liệu sản xuất hiện đại, chuyển giao công nghệ qua liên
kết kinh tế với hợp tác kinh tế nớc ngoài từ đó ta có thể tạo nên sự kết hợp
những tiến bộ về lực lợng sản xuất do đó tiếp thu có chọn lọc từ bên ngoài
với những cơ sở vật chất và lực lợng sản xuất vốn có trong nớc để đẩy nhanh
và rút ngắn thời gian phát triển lịch sử tự nhiên của lực lợng sản xuất vơn lên
kịp với trình độ của thế giới .Chúng ta phải nhanh chóng phát triển các
nghành công nghệ cao, đó là những công nghệ dựa vào những thành tựu mới
nhất của khoa học hiện đại nh công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật
liệu mới, tiến đến đa khoa học kỹ thuật trở thành lực lợng sản xuất trực
tiếp con ngời tham gia vào quá trình sản xuất với t cách là sức lao động vừa
là với t cách con ngời có ý thức chủ thể của những quan hệ kinh tế .Con ngời
phải phát triển một cách tơng xứng với năng lực của mình, phải có sự phối
hợp phát triển hài hoà các nhân tố khách quan của lực lợng sản xuất hiện
đại .Đảng ta đã xá định điều đó tại đại hội 8 khi quyết định đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá .Đại hội cũng chỉ ra rằng, một trong những tiền đề
quan trọng bậc nhất để đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nợc là
phải nâng cao dân chủ và phát triển nguồn nhân lực có chất lợng ở mọi trình
18
độ, từ công nhân, nhân viên nghiệp vụ đến cán bộ kỹ thuật, kỹ s và các nhà
khoa học .Không có trình độ dân trí cao, không có đội ngũ cán bộ và công
nhân giỏi thì sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá không thể thành công
và nớc ta sẽ tụt hậu ngày càng xa so với các nớc .Muốn giải phóng và phát
nhng đây cũng là vấn đề khó khăn phức tạp. Bởi vì nền kinh tế nhiều thành
phần tự nó chứa đựng tiềm tàng khả năng phát triển theo hớng t bản chủ
nghĩa. Trong khi chủ nghĩa t bản trên thế giới còn có sức mạnh và những lực
lợng thúc đẩy ta đi theo con đờng t nhân hoá thì khuynh hớng tự phát t bản
chủ nghĩa là không thể xem thờng. Nhng nền kinh tế định hớng xã hội chủ
nghĩa là nền kinh tế tuy có nhiều thành phần nhng trong quá trình đi lên của
nó thành phần kinh tế đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng phát triển, đóng vai
trò nền tảng. Kinh tế quốc doanh phải giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế t bản t
nhân đợc phát triển nhất là trong lĩnh vực sản xuất theo sự quản lí của nhà
nc
IV.NHNG VN CềN TRANH CI HIN NAY LIấN QUAN TI
VIC VN DNG QUI LUT NY
-I HI X cú kin ngh ''ngi vo ng cú c phộp
lm kinh t t nhõn hay khụng?''
-''y mnh CNH-HH GN VI PHT TRIN KINH T
TRI THC HAY KHễNG''
Ti i hi ny hu ht cỏc ý kin ca cỏc i biu nht
trớ vi vic xỏc nh cỏc thnh phn kinh t ''nh nc gi
vai trũ ch o ''cú ý kin ngh ''kinh t nh nc gi vai
trũ ch o trong mot s nghnh ,lnh vc ch yu''.Nhng
cú ý kin khỏc cho rng do phỏt trin nhiu thnh phn kinh
t v y mnh c phn hoỏ doanh nghip nh nc thỡ
20
kinh tế nhà nước càng bị thu hẹp.Liệu còn giữ vai tròchủ đạo
không?có ý kiến băn khoăn về nội dung ''kinh tế nhà nước
cùng kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững
chắc của nền kinh tế quốc dân''có ý kiến phảt triển kinh tế tư
nhân là không sai ,nhưng với cơ chế như hiện nay khômg có
cơ chế kiểm soát chặt chẽthì dáng lo ngại,Có ý kiến đề nghị
không nên nêu thành phần kinh tế tư bản nhà nước.sau khi
mối quan hệ của hai yếu tố này. Sự vận dụng đúng đắn và đúng hớng của
Đảng và nhà nớc sẽ khơi dậy tiềm năng của sản xuất, xây dựng năng lực
sáng tạo chủ động của các chủ thể lao động trong sản xuất kinh doanh, thúc
đẩy sản xuất phát triển.
22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệuLêmin toàn tập-tập38-NXBMatxcơva1977
2.Văn kiện Đại hội Đảngtoàn quốc lần 7,9.10
3.Tạp chí phát triển kinh tế
''CNHnhìn từ biện chứng giưa LLSX va qhsx''.
PGS.LƯU HÀ VI.
23