Tài liệu Tiểu luận: “Phân tích bản chất của phạm trù giá trị thặng dư. Trong bộ tư bản C. Mác đã phân tích như thế nào về phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư” - Pdf 10

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

Tiểu luận
Phân tích bản chất của phạm trù giá trị thặng dư.
Trong bộ tư bản C. Mác đã phân tích như thế nào
về phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư
1
MỤC LỤC
PH N IIẦ 5
L LU N V GIÁ TR TH NG DÍ Ậ Ề Ị Ặ Ư 5
PH M TR GIÁ TR TH NG D :Ạ Ù Ị Ặ Ư 5
1- S chuy n hoá ti n t th nh t b n:ự ể ề ệ à ư ả 5
3- B n ch t giá tr th ng d :ả ấ ị ặ ư 9
Giá tr c a s n ph m m iị ủ ả ẩ ớ 10
3- Ti n l ng d i ch ngh a t b n:ề ươ ướ ủ ĩ ư ả 12
PH N III: K T LU NẦ Ế Ậ 14
PHẦN I : MỞ ĐẦU
Theo đánh giá của V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là “hòn đá tảng của học
thuyết kinh tế của Mác” và học thuyết kinh tế của C. Mác là “nội dung căn bản
của chủ nghĩa Mác”. Để đạt mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư bản đã
mua sức lao động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản
phẩm, thu về giá trị thặng dư . Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ trả một phần
2
giá trị sức lao động cho người công nhân thông qua hình thức tiền lương và bóc
lột giá trị thặng dư do người công nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất.
Trong xã hội tư bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ cơ
bản, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả các quan hệ sản xuất của xã hội đó. Giá trị
thặng dư, phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra ngoài sức
lao động và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ cơ bản nhất đó.
Giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân làm thuê sáng tạo ra là

của lưu thông hàng hoá và vận động theo công thức: Hàng- Tiền- Hàng(H-T-H),
nghĩa là sự chuyển hoá của hàng hoá thành tiền tệ, rồi tiền tệ lại chuyển hoá
thành hàng. Còn tiền với tư cách là tư bản thì vận động theo công thức: Tiền -
Hàng - Tiền (T-H-T), tức là sự chuyển hoá tiền thành hàng và sự chuyển hoá
ngược lại của hàng thành tiền. Bất cứ tiền nào vận động theo công thức T-H-T
đều được chuyển hoá thành tư bản.
Do mục đích của lưu thông hàng hoá giản đơn là giá trị sử dụng nên vòng lưu
thông chấm dứt ở giai đoạn hai. Khi những người trao đổi đã có được giá trị sử
dụng mà người đó cần đến. Còn mục đích lưu thông của tiền tệ với tư cách là tư
bản không phải là giá trị sử dụng, mà là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm. Vì
vậy nếu số tiền thu bằng số tiền ứng ra thì quá trình vận động trở nên vô nghĩa.
Do đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên công thức vận động đầy đủ
của tư bản là: T-H-T’, trong đó T’= T + ∆T. ∆T là số tiền trội hơn so với số tiền
ứng ra, C. Mác gọi là giá trị thặng dư. Số tiền ứng ra ban đầu chuyển hoá thành
tư bản. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Mục đích của lưu thông T-
H-T’ là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động T-H-T’ là
không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn.
Sự vận động của mọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thông theo công thức T-
H-T’, do đó công thức này được gọi là công thức chung của tư bản.
Tiền ứng trước, tức là tiền đưa vào lưu thông, khi trở về tay người chủ của nó
thì thêm một lượng nhất định (∆T). Vậy có phải do bản chất của lưu thông đã
làm cho tiền tăng thêm, và do đó mà hình thành giá trị thặng dư hay không?
5
Các nhà kinh tế học tư sản thường quả quyết rằng sự tăng thêm đó là do lưu
thông hàng hoá sinh ra. Sự quả quyết như thế là không có căn cứ.
Thật vậy, trong lưu thông nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá thì chỉ có sự
thay đổi hình thái của giá trị, còn tổng số giá trị, cũng như phần giá trị thuộc về
mỗi bên trao đổi là không đổi. Về mặt giá trị sử dụng, trong trao đổi cả hai bên
đều không có lợi gì. Như vậy, không ai có thể thu được từ lưu thông một lượng
giá trị lớn hơn lượng giá trị đã bỏ ra (tức là chưa tìm thấy nguồn gốc sinh ra ∆T).

“ Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện
ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không
phải trong lưu thông” (C.Mác: Tư bản. NXB Sự thật, HN, 1987, Q1, tập 1,tr
216). Đó là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản.
Khi Mác trở lại lưu thông lần thứ hai và lần này Mác đã phát hiện ra rằng: Ở
trong lưu thông người có tiền là nhà tư bản phải gặp được một người có một thứ
hàng hoá đặc biệt đem bán, mà thứ hàng hoá đó khi đem tiêu dùng hay sử dụng
nó có bản tính sinh ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó,
hàng hoá đặc biệt đó chính là sức lao động.
2- Hàng hoá - sức lao động:
Số tiền chuyển hoá thành tư bản không thể tự làm tăng giá trị mà phải thông
qua hàng hoá được mua vào (T-H). Hàng hoá đó phải là một thứ hàng hoá đặc
biệt mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Thứ hàng
hoá đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường.
Như vậy, sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con
người, thể lực và trí lực mà người đó đem ra vận dụng trong quá trình sản xuất
ra một giá trị sử dụng.
Không phải bao giờ sức lao động cũng là hàng hoá, mà sức lao động chỉ biến
thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định.
C.Mác đã nhấn mạnh sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có đủ hai điều
kiện tiền đề:
7
Một là, người lao động phải tự do về thân thể, phải làm chủ được sức lao
động của mình và có quyền đem bán cho người khác. Vậy người có sức lao
động phải có quyền sở hữu sức lao động của mình.
Hai là, người lao động phải tước hết tư liệu sản xuất để trở thành người vô
sản và bắt buộc phải bán sức lao động, vì không còn cách nào khác để sinh sống.
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động
biến thành hàng hoá là điều kiện chủ yếu quyết định của sự chuyển hoá tiền
thành tư bản.

giá trị sức lao động. Phần lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản đã
chiếm đoạt. Như vậy, hàng hoá - sức lao động có thuộc tính là nguồn gốc sinh ra
giá trị. Đó là đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá - sức lao động so với các hàng
hoá khác. Nó là chìa khoá để giải thích tính mâu thuẫn của công thức chung của
tư bản.
3- Bản chất giá trị thặng dư:
Nói chung, trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích. Giá trị sử dụng được sản xuất chỉ
vì nó là vật mang giá trị trao đổi.
Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao đổi, nghĩa
là một hàng hoá. Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một hàng hoá có giá trị
lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động mà nhà tư bản
đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra một giá trị thặng dư.
Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản
xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. C.Mác viết: “
Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá trình lao động và quá trình tạo ra giá
trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự
thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản
xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản chủ nghĩa của
nền sản xuất hàng hoá”.
Quá trình lao động với tư cách là quá trình nhà tư bản tiêu dùng sức lao động
có hai đặc trưng:
9
Một là, người công nhân lao động dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giống
như những yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho có hiêụ
quả nhất.
Hai là, sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản, chứ không phải của
người công nhân
C.Mác đã lấy ví dụ về việc sản xuất sợi ở nước Anh làm đối tượng nghiên cứu
quá trình sản xuất giá trị thặng dư. Để nghiên cứu, Mác đã sử dụng phương pháp

Một là, nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư chúng ta nhận thấy mâu
thuẫn của công thức chung của tư bản đã được giải quyết. Việc chuyển hoá tiền
thành tư bản diến ra trong lĩnh vực lưu thông và đồng thời không diễn ra trong
lĩnh vực đó. Chỉ có trong lưu thông nhà tư bản mới mua được một thứ hàng hoá
đặc biệt, đó là hàng hoá sức lao động. Sau đó nhà tư bản sử dụng hàng hoá đó
trong sản xuất, tức là ngoài lĩnh vực lưu thông để sản xuất giá trị thặng dư cho
nhà tư bản. Do đó tiền của nhà tư bản mới biến thành tư bản.
Hai là, phân tích giá trị sản phẩm được sản xuất ra (10 kg sợi), chúng ta thấy
có hai phần:
Giá trị những tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của người công nhân mà
được bảo tồn và di chuyển vào giá trị của sản phẩm mới (sợi) gọi là giá trị cũ.
Giá trị do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra trong quá trình lao động
gọi là giá trị mới, phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động, nó bằng giá
trị sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư.
Ba là, ngày lao động của công nhân trong xí nghiệp tư bản được chia thành
hai phần:
Một phần gọi là thời gian lao động cần thiết: Trong thời gian này người công
nhân tạo ra được một lượng giá trị ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức
tiền công mà nhà tư bản đã trả cho mình (4 đôla).
Phần thời gian còn lại là thời gian lao động thặng dư: Trong thời gian lao
động thặng dư người công nhân lại tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị sức
lao động hay tiền lương nhà tư bản đã trả cho mình, đó là giá trị thặng dư (4
đôla) và bộ phận này thuộc về nhà tư bản (nhà tư bản chiếm đoạt).
Từ đó, Mác đi đến khái niệm về giá trị thặng dư:
11
Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao động do
công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt.
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị vượt khỏi
điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân đã tạo ra một lượng giá trị mới
ngang bằng với giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả cho

Bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối được tiến hành bằng cách kéo dài tuyệt đối
thời gian lao động trong ngày của người công nhân trong điều kiện thời gian lao
động cần thiết (hay mức tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân là không
đổi).
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động cần thiết và
4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó trình độ bóc lột của nhà tư bản là
100%. Giả định ngày lao động được kéo dài thêm 2 giờ trong khi thời gian lao
động cần thiết không đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng lên một cách tuyệt
đối, vì thế giá trị thặng dư cũng tăng lên, trình độ bóc lột tăng lên đạt 200%
(m’ = 200%)
Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọi cách để kéo dài
ngày lao động và phương pháp bóc lột này đã đem lại hiệu quả rất cao cho các
nhà tư bản. Nhưng dưới chủ nghĩa tư bản mặc dù sức lao động của công nhân là
hàng hoá, nhưng nó lại tồn tại trong cơ thể sống của con người. Vì vậy, ngoài
thời gian người công nhân làm việc cho nhà tư bản trong xí nghiệp, người công
nhân đòi hỏi còn phải có thời gian để ăn uống nghỉ ngơi nhằm tái sản xuất ra sức
lao động. Mặt khác, sức lao động là thứ hàng hoá đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố
vật chất người công nhân đòi hỏi còn phải có thời gian cho những nhu cầu sinh
hoạt về tinh thần, vật chất, tôn giáo của mình. Từ đó tất yếu dẫn đến phong trào
của giai cấp vô sản đấu tranh đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động
trong ngày.
Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh
vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối.
2- Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối:
13
Bóc lột giá trị thặng dư tương đối được tiến hành bằng cách rút ngắn thời
gian lao động cần thiết để trên cơ sở đó mà kéo dài tương ứng thời gian lao động
thặng dư, trong điều kiện độ dài của ngày lao động là không đổi.
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động cần thiết và
4 giờ là thời gian lao động thặng dư, trình độ bóc lột là 100%. Bây giờ chúng ta

để tăng năng suất lao động, tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động.
Vậy sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư
bản. C.Mác viết: “ Việc tạo ra giá trị thặng dư, đó là quy luật tuyệt đối của
phương thức sản xuất đó”. Nội dung chủ yếu của quy luật này là để thu được giá
trị thặng dư một cách tối đa, nhà tư bản đã tăng số lượng lao động làm thuê và
tìm mọi thủ đoạn để bóc lột họ.
Trong giai đoạn hiện nay, các nhà tư bản thực hiện cải tiến kỹ thuật hoàn
thiện tổ chức sản xuất và tổ chức lao động để tăng năng suất lao động, làm giảm
giá trị hàng hoá. Đồng thời thu hút một đội ngũ các kỹ sư, quản lý, mà chức
năng của họ suy cho cùng là bảo đảm sử dụng có hiệu quả nhất tất cả các nhân
tố của sản xuất mà trước hết là sức lao động, nhờ đó mà tăng giá trị thặng dư.
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status