Làm sao biết giá trị thực của cổ phiếu
Vào những thời điểm thị trường sụt giảm mạnh, chỉ số chứng khoán liên tục rớt
xuống những "đáy" mới, các chuyên gia thường đề nghị: "Giá cổ phiếu đã về sát
giá trị thực, có thể mua vào". Nhưng, làm thế nào để biết giá trị thực của cổ
phiếu?
Thạc sĩ Lê Đạt Chí mới đây đã gửi đến Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online bài viết
tham khảo thêm về cách đánh giá giá trị thực của cổ phiếu. Tòa soạn xin giới thiệu
cùng bạn đọc:
Dòng tiền nói lên sức khỏe doanh nghiệp
Một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá giá trị thực của cổ phiếu đó chính là
dòng tiền mà một doanh nghiệp tạo ra. Có thể nói, báo cáo dòng tiền cung cấp
nguồn gốc dòng tiền của một doanh nghiệp. Dòng tiền của một doanh nghiệp là
cái có thực và là một khái niệm dễ hiểu, chúng không bị tác động bởi các nguyên
tắc của hạch toán kế toán.
Tuy nhiên, dòng tiền không thể đo lường giá trị tăng thêm trong ngắn hạn. Chẳng
hạn, nếu một công ty gia tăng dòng tiền bằng việc cắt giảm đầu tư thì đó là một
điều tồi tệ trong tương lai.
Như vậy, dòng tiền sẽ chịu tác động rất nhiều đối với các giai đoạn phát triển của
doanh nghiệp, đối với ngành nghề mà doanh nghiệp đó hoạt động cũng như triển
vọng tăng trưởng của doanh nghiệp đó trong tương lai… Một điều chúng ta
thường làm trong quá trình định giá giá trị nội tại của một cổ phiếu là xác định
dòng tiền. Dòng tiền mà doanh nghiệp tạo ra đó chính là thực lực của doanh
nghiệp.
Chính vì vậy, một số chỉ tiêu tài chính khi phân tích báo cáo dòng tiền của doanh
nghiệp thường được đề cập đến là dòng tiền hoạt động, dòng tiền tự do, sự kết hợp
giữa các dòng tiền trong doanh nghiệp… Nhìn vào báo cáo dòng tiền, nhà đầu tư
có thể đánh giá được chất lượng của thu nhập mà công ty tạo ra. Nó sẽ giúp cho
nhà đầu tư loại bỏ những hoài nghi về việc sử dụng các phương pháp kế toán để
tạo ra lợi nhuận.
Báo cáo luân chuyển tiền tệ
Vấn đề thứ hai chính là khi dòng tiền hoạt động không đủ tài trợ cho các hoạt động
đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của công ty thì công ty lệ thuộc vào các
nguồn tài trợ bên ngoài. Điều này cho thấy, việc gia tăng tài trợ bên ngoài rất
mạnh để tài trợ cho việc đầu tư vào các khoản phải thu và hàng tồn kho của công
ty. Một sự thất thoát các khoản phải thu và hàng tồn kho sẽ đe dọa đến nghĩa vụ
của các chủ thể tài trợ. Nói cách khác việc có được lợi nhuận là nhờ vào việc tài
trợ bên ngoài. Lúc này, nhà đầu tư cần phải phân tích các thành phần tài trợ đó.
Một điều cho thấy rằng, trong năm 2007 công ty phát hành thêm cổ phiếu để huy
động và vay vốn ngắn hạn cũng như dài hạn từ ngân hàng (xem bảng 2). Như vậy,
phải chăng lợi nhuận có được có nguồn gốc từ sự đóng góp vốn của chính các cổ
đông? Lợi nhuận này có còn tiếp tục trong năm 2008 khi mà thị trường chứng
khoán không khả quan? Việc phát hành cổ phiếu không thuận lợi? Đồng thời một
tác nhân quan trọng chính là nợ vay. Việc phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn vay
cho việc tăng trưởng lợi nhuận của công ty trong năm 2007 có tiếp diễn trong năm
2008 khi mà lãi suất trên thị trường liên tục gia tăng. Việc thắt chặt chính sách tiền
tệ của nền kinh tế có giúp cho công ty dễ dàng vay nợ để đáp ứng nhu cầu hoạt
động kinh doanh và có được lợi nhuận không?
Khi nhà đầu tư bình tĩnh trả lời những vấn đề cơ bản trên sẽ giúp xác định được
đâu là nguồn gốc của lợi nhuận. Điều này cũng đồng nghĩa với việc xác định giá
trị cổ phiếu trong tương lai khi các yếu tố trên trở nên bất lợi.
Bảng 2: Báo cáo dòng tiền tài trợ (đơn vị tính: tỉ đồng)
Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
Tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận góp vốn của chủ sở hữu 427,054 240
Tiền chi trả góp vốn cho các chủ sở hữu, mua lại cổ phiếu của
doanh nghiệp đã phát hành
- (908)
Tiền vay ngắn hạn, dài hạn nhận được 935,632 374,842
Tiền chi trả nợ gốc vay (503,223) (89,617)
Tiền chi trả nợ thuê tài chính - -
Cổ tức, lợi nhuận đã trả cho chủ sở hữu (2,805) (2,162)