Tài liệu Kinh tế lao động - Phần 2 - Pdf 10

Điều tiết thị trường lao động và các nghiệp đoàn lao động.
Giáo sư: Bryan Caplan
George Mason University
I.Thất nghiệp là một trạng thái dư cung lao động.
A. Bằng trực giác, chúng ta thường cho rằng "thất nghiệp" là trạng thái mọi người
sẵn sàng và có khả năng làm việc song vì lý do nào đó mà từ chối không làm việc.
B. Tại mức tiền công cân bằng, không có tình trạng thiếu hay dư cung lao động;
thất nghiệp là tự nguyện (không có nghĩa như là sự ăn mừng, nhưng lại là trạng
thái mà mọi người không muốn làm việc nhiều hơn tại mức tiền công theo giá thị
trường cho những công việc mà họ có khả năng làm được).
1.Giống nhau: Giống như không có bạn gái/bạn trai/hay những cuộc hò hẹn tự
nguyện. (TQ hiệu đính: vì người đó đăng mong mỏi một đối tượng tốt hơn như là
một công nhân đang muốn có mức lương cao hơn).
C. Vậy khả năng thất nghiệp không tự nguyện như thế nào? Chỉ khi tiền công
thông thường quá cao!
D. Chẳng có gì khác biệt với tình trạng dư thừa hàng hóa. "Dư thừa" nghĩa là "dư
thừa tại mức giá hiện tại".
E. Thông thường có 3 khả năng sau đây:
1.Tiền công thị trường = tiền công ở mức cân bằng, thị trường lao động cân bằng.
2. Tiền công thị trường < tiền công ở mức cân bằng, thị trường lao động bị thiếu
hụt.
3. Tiền công thị trường > tiền công ở mức cân bằng, thị trường lao động bị dư
thừa.
F. Chú ý: Chẳng có trường hợp công nhân vừa bị "ép buộc làm việc" và bị "trả
lương thấp". Nếu họ bị ép buộc làm việc thì họ sẽ được trả lương cao, còn nếu họ
bị trả lương thấp thì họ bị làm việc quá sức.
G. Chính việc áp dụng đơn giản của Cung và Cầu đối lập với hầu hết tất cả niềm
tin phổ biến nhất về lao động. Vẫn còn những nghi ngờ liệu điều đó có đúng
không?
H. Giải pháp thông thường cho tình trạng thất nghiệp không tự nguyện tựu chung
lại là: giảm tiền công thị trường cho đến khi dư cung về lao động biến mất.

những người thất nghiệp vẫn có những ảnh hưởng tới thành viên của công đoàn
chật.
I. Trong thuật ngữ kinh tế thì "những người công nhân không tham gia công đoàn"
là gì? Họ là những công nhân bán sức lao động cho các tập đoàn kinh doanh rẻ
hơn. Nếu có nhiều công nhân không tham gia công đoàn thì công đoàn sẽ chẳng
thành công trong các cuộc đàm phán.
J. Giả định chính phủ ngăn chặn bạo lực hay nguy cơ xẩy ra bạo lực thì công đoàn
rất khó gần như không thể duy trì được mức tiền công. Họ chỉ thành công khi:
1.Cầu và cung lao động không co giãn. Một số nhỏ nhân viên có kỹ năng tốt là
những ví dụ điển hình.
2.Nhiều người trong xã hội còn định kiến coi thường "những người công nhân
không tham gia công đoàn".
K. Dưới cơ chế tự do, những người thất nghiệp không tình nguyện do các công
đoàn tạo ra có thể tồn tại nhưng không nhiều. Một khi các ông chủ có thể thuê các
công nhân không tham gia công đoàn một cách hợp pháp và các công nhân này
cảm thấy an toàn khi chấp nhận những lời đề nghị như vậy, các lực lượng thị
trường ngăn cản mạnh mẽ các công đoàn.
III.Những người thất nghiệp trên thị trường tự do: chính sách điều chỉnh của
chính phủ.
A. Liệu chính phủ có thể làm được gì trước các vấn đề trên? Theo nguyên tắc là có
B. Đối với sự cứng rắn về tiền lương thực tế, sự can thiệp của chính phủ có thể trợ
giúp thông qua việc đẩy giá cả tiền công xuống. Nếu các công nhân thay vì đổ lỗi
cho các ông chủ thì họ lại đổ lỗi cho chính phủ, có lẽ họ không đổ lỗi cho các ông
chủ vì "thiếu công bằng".
C. Đối với sự cứng rắn về tiền lương danh nghĩa, chính phủ có một giải pháp đơn
giản hơn là in nhiều tiền để tăng mức giá cả chung cho đến khi mức tiền công
danh nghĩa được khai thông trên thị trường. Nếu các công nhân không tỉnh táo thì
có thể họ sẽ không biết cái gì thực sự đang làm tổn hại họ.
D. Tương tự như vậy, các công đoàn có thể bị cấm hoạt động như những tập đoàn
kinh doanh khác là vi phạm luật theo luật chống độc quyền.

V.Chính sách chính phủ trong thế giới thực: Luật ủng hộ công đoàn.
A. Thông thường các chính phủ khuyến khích công đoàn hơn là ngăn cấm công
đoàn. Những nỗ lực ủng hộ công đoàn của chính phủ được thực hiện dưới nhiều
hình thức đa dạng.
B. Một trong những hình thức phổ biến là "là ngơ" khi phải đối mặt với bạo lực
công đoàn bằng cách phá hoại đình công, phá hại tài sản các ông chủ. Luật hạn
chế tiền phạt công đoàn cũng phục vụ như những chức năng tương tự.
C. Một vài quy định rõ ràng hơn như sau:
1.Yêu cầu các ông chủ phải "ghi nhận" và "thương lượng" với bất kỳ công đoàn
nào mà nhận được sự ủng hộ của đại đa số công nhân trong doanh nghiệp.
2.Vi phạm pháp luật nếu sa thải công nhân do đình công hay do tham gia tổ chức
công đoàn.
3.Cấm ký kết các hợp đồng "chó vàng" (yellow dog) mà ở đó những công nhân
không tham gia công đoàn được thuê như là một điều kiện làm việc.
D. Khi chính phủ thực thi nghiêm khắc những quy định ủng hộ công đoàn, mức độ
tổ chức công đoàn và thất nghiệp có thể đạt hiệu quả cao.
E. Ở các nước khác có những luật tương tự được ghi trên sách nhưng có thể tránh
khỏi hầu hết các hậu quả xấu do công đoàn gây ra do việc thực thi luật kém.
F. Một cuốn sách có tựa đề: "Tại sao tỷ lệ thất nghiệp ở nước Mỹ lại rất thấp?"
VI.Các quy định thị trường lao động bổ sung.
A. Có vô số những luật khác nhau giống như luật tiền công tối thiểu. Thậm chí nếu
như hiệu quả về mặt ngắn hạn là tăng cầu về lao động song về mặt lâu dài thì hiệu
quả lại ngược lại.
B. Điều gì xẩy ra nếu chính phủ thông qua những biện pháp sau đây trong khi vẫn
cấm tiền công giảm xuống? Nếu như các công đoàn lần lượt ngăn cản không cho
tiền công giảm xuống.
C. Trường hợp 1: Những phúc lợi được trao. Nếu như chính phủ trao phúc lợi mới
(an ninh, y tế, nghỉ phép gia đình, v.v ) và cấm tiền công giảm xuống?
D. Trường hợp 2: Các quy tắc chống lại sa thải và buộc thôi việc. Các ông chủ sẽ
phản ứng ra sao nếu như họ biết rằng họ phải tiếp tục thuê những công nhân mà họ

Mỹ không? Ít ra thì không tốt cho các ông chủ Mỹ chút nào. Cái mà mọi người sở
hữu chứng khoán hay khoản lương hưu giống như những khoản nắm giữ cho bất
kỳ ai sở hữu nhà cửa hay đất đai - nhiều người nghĩa là giá cả nhà đất tăng lên.
1.Người già có một lợi ích rất lớn cụ thể trong việc hưởng những dịch vụ cá nhân
rất rẻ.
E. Một khi bạn thư giãn với giả định rằng tất cả các công nhân giống y hệt nhau,
điều này rõ ràng thậm chí nhập cư là không tốt cho các công nhân Mỹ. Tại sao lại
như vậy? Lợi thế so sánh cơ bản: Những người lao động với kỹ năng khác nhau có
thể sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn nếu họ được chuyên môn hóa và được trao đổi.
F. Ví dụ đơn giản: Có rất nhiều phụ nữ Mỹ đào tạo đại học nhưng lại ở nhà trong
con bởi vì chi phí thuê một người trông trẻ rất cao. Và có rất nhiều phụ nữ ở Thế
Giới thứ 3 có thể ở nhà trông con nhưng lại có trình độ giáo dục thấp.
G. Người Mỹ có kỹ năng giống như những người nhập cư vẫn có khả năng bị thua
thiệt nhưng rõ ràng hầu hết công nhân Mỹ (nói chung) hưởng lợi từ người nhập
cư. Không đề cập đến các nhà tư bản Mỹ và dĩ nhiên chính là những người nhập
cư.
H. Thế còn những người nhập cư tiếp tục hưởng trợ cấp, hai ví dụ bác bỏ:
1.Về khoản thu nhập sau thuế, thực tế người nhập cư trả thuế nhiều hơn so với
khoản nhận được từ lợi nhuận. Một phần bởi vì chính quốc gia của họ đã phải trả
chi phí đào tạo thay cho những người đóng thuế ở Mỹ.
2.Tại sao lại không có loại "công dân hạng 2" nghĩa là được phép làm việc nhưng
không được phép hưởng trợ cấp?
VIII. Tại sao Lịch sử chuẩn mực của lao động lại sai lầm?
A. Hầu hết các cuốn sách về lịch sử kể một câu chuyện như sau:
1.Thời kỳ trước khi có mức lương tối thiểu, công đoàn, v.v cuộc sống của người
công nhân thật kinh khủng bởi vì các ông chủ trả cho họ bất cứ cái gì mà ông chủ
cảm thấy thích trả.
2.Nhưng sau đó chính phủ ngày càng tiến bộ và đã thay đổi luật
3.Cuộc sống của người công nhân bây giờ đã khá lên rất nhiều bởi vì lòng tham
của các ông chủ đã bị chế ngự.

2.Năng suất lao động suy giảm
D. Chính sách lao động của Châu Âu như thế nào?
1.Tiền công tối thiểu theo quy định ở mức cao (Ví dụ trung bình ở Mỹ là 34% và
60% ở Pháp)
2.Tỷ lệ thất nghiệp/phúc lợi xã hội cao trong thời gian dài
3.Những quy định sa thải hay đuổi việc
4.Phúc lợi bắt buộc như nghỉ hè, nghỉ phép ốm, nghỉ thai sản.
5.Tỷ lệ các công đoàn cao với ủng hộ mạnh mẽ về pháp luật cho các công đoàn
(Lưu ý: Ở một vài nước như Pháp, công nhân không tham gia công đoàn vẫn có
mức tiền công được quyết định bởi kết quả đàm phán của công đoàn).
D. Việc tạo công ăn việc làm thực tế ở Mỹ so với Âu Châu từ năm 1970 đến năm
1996: 47 triệu công việc cho người Mỹ (tăng 58%), so với mức 18 triệu cho Âu
Châu (tăng 12%).
E. Các thực tế đó đáng mừng về tổng thu nhập quốc dân đối với việc tạo công ăn
việc làm thực tế (cho Mỹ hơn các nước khác).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status