LÀM THẾ NÀO ĐỂ DẠY TỐT MÔN ĐỊA LÍ
I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
Lâu nay trong các môn học ở tiểu học, đa số giáo viên còn chú trọng nhiều ở môn
công cụ như Tiếng Việt và Toán. Do đó, giáo viên có thể dạy rất giỏi rất tốt ở hai môn này,
những môn còn lại do ít được chú trọng nên giáo viên lúng túng dạy chưa tốt, chưa tạo cho
học sinh hứng thú trong học tập hoặc dạy qua loa nên chưa đạt được hiệu qủa của tiết dạy.
Với chương trình mới hiện nay cũng như chương trình cũ, mục tiêu là đào tạo ra con người
phát triển toàn diện. Vì lẽ đó, giáo viên cần thay đổi cách nghĩ cũng như cách dạy thế nào
cho tốt tất cả các môn trong đó có môn Địa lí. Tuy là môn ít tiết, nhưng môn Địa lí cung cấp
cho học sinh rất nhiều kiến thức thực tế, vốn sống sau này mà quan trọng là khơi gợi cho các
em lòng yêu thích , ham muốn khám phá thiên nhiên, đất nước, con người …… Qua đó giáo
dục lòng yêu quê hương , yêu con người cho các em một cách cụ thể hiệu qủa nhất.
II. NHỮNG THUẬN LỢI – KHÓ KHĂN KHI DẠY MÔN ĐỊA LÍ :
1. Thuận lợi :
@ Về SGK
- Được trang bị đầy đủ cho học sinh.
- Màu sắc, hình ảnh, lược đồ , bản đồ , bảng số liệu , kênh chữ … đẹp , rõ
ràng , chính xác.
- Các câu hỏi hoặc các yêu cầu hoạt động được in nghiêng ở giữa bài gợi ý
cho giáo viên tổ chức các hoạt động cho học sinh khai thác thông tin dể dàng.
- Câu hỏi cuối bài giúp giáo viên kiểm tra việc thực hiện mục tiêu bài và
củng cố kiến thức.
- Phần tóm tắt trọng tâm bài được đóng khung.
dung nào các em đã học để giảng dạy không trùng lặp.
- Từ những nội dung đã học giáo viên truyền thụ sâu hơn tránh nhàm chán
cho học sinh.
- Từ những nội dung năm học trước giáo viên vào bài tạo hứng thú cho học
sinh cũng như tổ chức các trò chơi ngay phần bài mới .
Ví dụ :
Khi dạy bài thực hành các Đại dương trên Thế giới (bài 28/tr.129 SGK lớp 5)
GV có thể tổ chức trò chơi hoặc hỏi có bao nhiêu Đại dương trên
Thế giới vì HS đã học ở lớp 3 bài Bề mặt Trái Đất (tr.126/ Sách TNXH lớp 3 ).
Khi giải thích cũng như khi hỏi vì sao Bắc cực có khí hậu lạnh. GV
dựa vào bài Các đới khí hậu ( tr.124/ Sách TNXH lớp 3 ).
2. Xác định đầy đủ mục tiêu từng bài
Vì sao tôi đề cập tới vấn đề đơn giản này. Tuy trong SGV đã có những mục tiêu cụ
thể nhưng giáo viên rất dễ dạy thiếu mục tiêu hoặc chưa biết phải dạy như thế nào. Ở đây,
tôi đề cập hai vấn đề trong mục tiêu khi dạy Địa lí:
5 YẾU TỐ CỦA ĐỊA LÍ
a ) Mục tiêu về mối quan hệ giữa các yếu tố địa lí , giữa tự nhiên với hoạt động
sản xuất, giữa tự nhiên với sinh hoạt của con người.
Khi nói tới Địa lí , chúng ta phải nghĩ đến điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã
hội.
Điều kiện tự nhiên chính là vị trí giới hạn , sông ngòi , khí hậu, địa hình … Điều
kiện kinh tế xã hội là nói tới con người. Hai điều kiện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Ngoài ra, ở điều kiện tự nhiên còn có mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên với nhau. Và
Ví dụ:
@ Mối quan hệ giữa vị trí với khí hậu
- Vị trí địa lí sẽ ảnh hưởng tới khí hậu như vị trí nước Việt Nam kéo dài từ
Bắc xuống Nam, nằm trong vòng đai nhiệt đới, phía Đông giáp biển Đông vì vậy sẽ có
khí hậu nhiệt đới gió mùa.
@ Mối quan hệ giữa vị trí , khí hậu, thực vật, động vật
- Vị trí của Châu Phi có đường Xích đạo đi ngang qua giữa châu lục nên nó
là một trong những nguyên nhân dẫn đến khí hậu châu Phi nóng bậc nhất thế giới, hoang
mạc và xa van chiếm diện tích nhiều nhất ở Châu Phi. Hoang mạc khô nóng thì động vật
chủ yếu là lạc đà vì loài này có bướu chứa nhiều nước thì mới có thể tồn tại được.
- Hoặc vì sao Châu Mĩ lại có nhiều đới khí hậu vì vị trí của nó kéo dài từ cực
Bắc tới cực Nam đi qua xích đạo.
- Vị trí của thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên nên có khí hậu lạnh, mát
mẻ hơn thành phố Huế và nó trồng những loại cây phù hợp với khí hậu lạnh đó mà những
vùng khác, thành phố khác không trồng được
@ Mối quan hệ giữa sông ngòi với địa hình :
- Địa hình miền Trung nhỏ, hẹp nên đa số sông miền Trung ngắn , dốc.
@ Mối quan hệ giữa tự nhiên với kinh tế
- Nước ta có khí hậu nhiệt đới phù hợp phát triển các loại cây ăn qủa.
Như vậy qua những ví dụ cụ thể trên giáo viên có thể hình dung được
các mối quan hệ địa lí đơn giản. Tùy theo mục tiêu từng bài , giáo viên sẽ chốt kĩ
những mối quan hệ này. Nếu những bài dạy đầu tiên giáo viên giúp các em xác
những sản phẩm như thế các em sẽ cho đó là trung tâm công nghiệp. Muốn vậy, giáo viên
cần nêu thêm tại Đà Nẵng có rất nhiều nhà máy chế biến, đưa thêm số liệu cụ thể để tăng
sức thuyết phục là trung tâm công nghiệp hơn.
- Bài Thực hành các Đại dương trên Thế giới ( tr.74 / SGK lớp 5). Đây là bài
ôn tập, các kiến thức cũ học sinh đã nắm khá đầy đủ. Giáo viên có thể mở rộng thêm cho
học sinh. Thái Bình Dương không thái bình như tên gọi của nó, mà từ nơi đây xuất hiện
rất nhiều cơn bão, sóng thần, động đất … có sức tàn phá khủng khiếp, giáo viên liên hệ
với những đợt sóng thần xảy ra tại Châu Á trong thời gian vừa qua. Nếu có điều kiện giáo
viên sưu tầm tranh ảnh hoặc dạy trình chiếu trên máy thì hiệu qủa tiết học sẽ cao hơn rất
nhiều. Chắc chắn học sinh sẽ yêu thích môn Địa lí.
3. Nắm vững kĩ năng sử dụng bản đồ, lược đồ , bảng số liệu
Đồ dùng dạy học không thể thiếu trong giảng dạy môn Địa lí là bản đồ, lược đồ. Vì
bản đồ địa lí là hình vẽ thu nhỏ bề mặt Trái Đất hoặc một bộ phận của bề mặt Trái Đất trên
mặt phẳng dựa vào các phương pháp toán học , phương pháp biểu hiện bằng kí hiệu để thể
hiện các thông tin về địa lí. Do đó, giáo viên sử dụng bản đo, lược đồ cần chính xác , hiệu
qủa để khai thác kiến thức mới. Có lẻ, giáo viên cũng đã nắm được trình tự sử dụng bản đồ
nhưng tôi cũng xin nhắc lại các bước :
Bước 1 : Nắm được mục đích làm việc với bản đồ.
Tức là đọc tên bản đồ, để biết nội dung sử dụng cung cấp kiến thức gì cho bài học.
Bước này không khó, giáo viên cần lưu ý khi tự vẽ thêm bản đồ thì phải có tên bản đồ
( có thể viết trên hoặc viết ở dưới )
Bước 2 : Xem bảng chú giải để có biểu tượng địa lí cần tìm trên bản đồ.
Đọc bảng chú giải, kí hiệu nào cho biết thông tin gì . Ví dụ : đường đứt khúc chỉ ranh
giới giữa các tỉnh, cây dù chỉ bãi biển, chấm tròn chỉ thành phố …
Bước 3 : Tìm vị trí địa lí của đối tượng trên bản đồ.
- Ví dụ : Khi học sinh chỉ được vị trí nước ta, phía Đông giáp biển Đông,
đường bờ biển kéo dài như thế thì sẽ thuận lợi để phát triển ngành nào? (đánh bắt thủy
hải sản ). Đó chính là mối quan hệ giữa vị trí địa lí và hoạt động sản xuất.
@ Một số lưu ý :
- Tư thế khi thao tác là mặt quay xuống phía học sinh , có thể đứng bên trái
hay bên phải tùy thuộc GV thuận tay nào.
- Sử dụng dụng cụ chỉ bản đồ, không dùng tay thao tác.
- Giới thiệu biểu tượng muốn chỉ rồi thao tác, hoặc thao tác trước rồi giới
thiệu biểu tượng, tránh vừa thao tác vừa giới thiệu rất dễ sai.
- Bản đồ, lược đồ khi treo trên bảng cần đủ lớn để tất cả học sinh có thể quan
sát được ( trường hợp nhỏ phát về nhóm cho các em tự quan sát ).
- Giáo viên và học sinh nên thường xuyên thao tác trên bản đồ để giúp học
sinh nhuần nhuyễn khi lên học cấp II.
IV. KẾT QỦA :
1. Qua nhiều năm giảng dạy môn Địa lí theo cách tôi đã trình bày trên. Học
sinh luôn khao khát, say mê môn học này. Các em luôn nêu những thắc mắc, đặt rất
nhiều câu hỏi cho tôi như : tại sao nước biển lại mặn, lại có màu xanh, vì sao có nhật
thực, tại sao có sóng biển, chùa Một Cột nằm ở đâu trên bản đồ, tại sao nước ta nhiều tài
nguyên khoáng sản mà không phát triển bằng nước Nhật nghèo tài nguyên …… Có rất
nhiều câu hỏi của các em mà bản thân tôi không trả lời được ngay. Nhưng nhờ đó, tôi lại
cố gắng tìm tòi, học hỏi, tích lũy kiến thức để làm phong phú bài dạy của mình và quan
trọng là truyền cho các em niềm say mê, hứng thú trong học tập.
2. Qua dự giờ bộ môn Địa lí, tôi thấy nhiều vấn đề giáo viên đã làm được
cũng như còn sai sót trong khi giảng dạy môn này. Khi góp ý , giáo viên nhận ra những
thiếu sót của mình và nêu ra những thắc mắc, luôn muốn học hỏi để nâng cao tay nghề.
V. MẶT TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ
tự nhiên.
- Hình thành được một số biểu tượng, khái niệm địa lí trên cơ sở
tranh ảnh, bản đồ, liên hệ thực tế.
- Xác lập được các mối quan hệ địa lí đơn giản.
- . . . . . .
2. Nhóm bài về
dân cư Việt Nam.
- Nhận biết được một số đặc điểm chính của dân cư Việt Nam.
- Hình thành và rèn luyện kĩ năng phân tích bản đồ, biểu đồ, bảng
thống kê về dân số, dân cư.
- Liên hệ thực tiễn, khai thác vốn hiểu biết của HS.
- Xác lập mối quan hệ đơn giản giữa tự nhiên và dân cư.
- . . . . . .
3. Nhóm bài về
kinh tế Việt Nam
- Nhận biết được một số đặc điểm chính của ngành kinh tế ở nước
ta.
- Hình thành và rèn luyện kĩ năng phân tích bản đồ, biểu đồ, bảng
thống kê, sơ đồ kinh tế.
- Liên hệ thực tiễn, khai thác vốn hiểu biết của HS.
- Xác lập mối quan hệ đơn giản giữa điều kiện (tự nhiên, dân cư, )
với hoạt động sản xuất.
- . . . . . .
4. Nhóm bài về
địa lí thế giới (về châu
lục)
BỒI
D
ƯỠ
NG VÀ PHÁT TRI
Ể
N
THÁI ĐỘ – THÓI QUEN
Ham hiểu biết
Có ý thức và hành động
bảo vệ mối trường
Yêu thiên nhiên, đất
nước, con người
MỤC TIÊU
CHƯƠN
G TRÌNH
ĐỊA LÍ
LỚP 5
HÌNH THÀNH
KIẾN THỨC
Bi
ể
u t
ượ
ng
địa lí
Khái niệm
địa lí
M
t n
ướ
c,
thế giới.
Quan sát ngoài thiên nhiên
Quan sát tranh ảnh, mô hình, …
Xác định phương hướng trên bản đồ
Đọc kí hiệu trên bản đồ
Xác định vị trí các đối tượng địa lí
trên b
ả
n đ
ồ
Tập nhận xét, so sánh, phân tích
bảng số liệu, biểu đồ
Phân biệt nguyên nhân và kết quả VI. KẾT QỦA :
3. Qua nhiều năm giảng dạy môn Địa lí theo cách tôi đã trình bày trên. Học
sinh luôn khao khát, say mê môn học này. Các em luôn nêu những thắc mắc, đặt rất
nhiều câu hỏi cho tôi như : tại sao nước biển lại mặn, lại có màu xanh, vì sao có nhật
thực, tại sao có sóng biển, chùa Một Cột nằm ở đâu trên bản đồ, tại sao nước ta nhiều tài
nguyên khoáng sản mà không phát triển bằng nước Nhật nghèo tài nguyên …… Có rất
nhiều câu hỏi của các em mà bản thân tôi không trả lời được ngay. Nhưng nhờ đó, tôi lại
cố gắng tìm tòi, học hỏi, tích lũy kiến thức để làm phong phú bài dạy của mình và quan