1
Luận văn
Doanh nghiệp tư nhân trong
ngành du lịch ở tỉnh Thanh Hóa
2
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế của
nước ta trong những năm qua đã có một bước phát triển vượt bậc và tương đối
toàn diện. Trong quá trình phát triển đó, cùng với các thành phần kinh tế
khác, doanh nghiệp tư nhân đã được pháp luật thừa nhận và phát triển mạnh,
rộng khắp trong mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực kinh tế. Đặc biệt trong những
năm gần đây khi Luật Doanh nghiệp ra đời và có hiệu lực (1/1/2000) thì
doanh nghiệp tư nhân càng phát triển mạnh mẽ hơn cả về quy mô và tốc độ.
Ngành du lịch cũng là một ngành được các doanh nghiệp tư nhân quan tâm
đầu tư phát triển với nhịp độ cao và chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong cơ
cấu nền kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp tư nhân trong ngành du lịch đã góp
phần quan trọng trong việc huy động các nguồn lực xã hội vào hoạt động kinh
doanh du lịch, tạo thêm việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân
dân, tăng ngân sách cho nhà nước.
Doanh nghiệp tư nhân trong ngành du lịch ở tỉnh Thanh Hóa " được tác
giả chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay về doanh nghiệp tư nhân đã có rất nhiều công trình khoa
học trên các bình diện khác nhau. Điển hình là một số công trình nghiên cứu
khoa học của các tác giả như sau:
- "Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước
ta". GS.TS Hồ Văn Vĩnh (Đề tài cấp bộ năm 2001). Tác giả đã khẳng định vai
trò to lớn của kinh tế tư nhân nêu ra những định hướng phát triển kinh tế tư
nhân và đưa ra các giải pháp về pháp luật, về chính sách, về tổ chức để
khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển.
4
- "Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập". PGS.TS Trịnh
Thị Hoa Mai, Nxb Thế giới, Hà Nội - 2005. Tác giả đưa ra những vấn đề
chung về khu vực kinh tế tư nhân; Phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam trong
điều kiện hội nhập; trong đó tác giả có đưa ra một số danh mục hộp như: các
loại hình doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam, vốn thực tế của doanh nghiệp tư
nhân như thế nào, số lượng doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam
- "Các doanh nghiệp tư nhân ở Trung Quốc: Những đặc trưng" của
SEUNG - WOOK BAEK (Kinh tế tư nhân trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện
nay. Viện thông tin khoa học xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội - 2003). ở
đây, tác giả đã nói lên sự tái xuất hiện các chủ doanh nghiệp tư nhân Trung
Quốc, trong đó nói đến chính sách cải cách kinh tế và việc hình thành khu vực
kinh tế tư nhân, tình trạng hiện nay của các doanh nghiệp tư nhân; Cung cấp
các doanh nghiệp tư nhân thông qua hệ thống hiện tại, các hợp tác xã giả hiệu;
Ba đặc trưng của doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc đó là: Quản lý gia
trưởng, quản lý mang tính gia đình, đầu tư rất ít vào phát triển công nghệ.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích: Trên cơ sở làm rõ đặc điểm, vai trò và các nhân tố ảnh
hưởng tới doanh nghiệp tư nhân trong ngành du lịch; phân tích, đánh giá thực
trạng phát triển doanh nghiệp tư nhân trong ngành du lịch ở Thanh Hóa thời
gian qua và từ đó đề xuất các giải pháp tiếp tục phát triển doanh nghiệp tư
nhân trong ngành du lịch ở Thanh Hóa thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong
ngành du lịch.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp tư
nhân trong ngành du lịch.
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp tư nhân trong ngành
du lịch ở một số tỉnh, thành và rút ra bài học cho phát triển doanh nghiệp tư
nhân trong ngành du lịch ở Thanh Hóa.
6
- Đánh giá rõ những thành công, hạn chế trong phát triển doanh nghiệp
tư nhân trong ngành du lịch ở Thanh Hóa thời gian qua cùng nguyên nhân của
những thành công và hạn chế đó.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp tiếp tục phát triển nhanh, có
hiệu quả các doanh nghiệp tư nhân trong ngành du lịch ở Thanh Hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các doanh nghiệp tư nhân tham
gia cung cấp dịch vụ du lịch cùng các quan hệ kinh tế - xã hội có liên quan
đến lĩnh vực này.
- Phạm vi nghiên cứu gồm những doanh nghiệp tư nhân tham gia cung
cấp các dịch vụ du lịch ở tỉnh Thanh Hóa thời gian chủ yếu từ năm 2000 đến
nay.
về doanh nghiệp tư nhân trong ngành du lịch
1.1. Khái niệm, Đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong ngành du
lịch
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân trong
ngành du lịch
1.1.1.1 Doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp tư
nhân trong ngành du lịch
Doanh nghiệp là chủ thể sản xuất kinh doanh chủ yếu trong nền kinh tế
thị trường. Ngày nay, doanh nghiệp là một trong những hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh phổ biến được quy định trong khuôn khổ pháp luật hiện
hành. Theo Điều 4, chương I, Luật Doanh nghiệp của Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm
2005, “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”[29]. Hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp có mục đích chủ yếu là thu lợi nhuận.
Tùy theo tiêu chí, có thể phân loại doanh nghiệp thành các nhóm khác
nhau. Căn cứ vào tính chất của hoạt động sản xuất - kinh doanh theo ngành,
có thể phân biệt các loại doanh nghiệp như doanh nghiệp công nghiệp, doanh
nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệp giao thông vận tải, doanh nghiệp thương
mại ; Theo tiêu chí quy mô về vốn và lao động có thể phân biệt các cấp độ
doanh nghiệp như doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ.
Theo hình thức tổ chức hoạt động, các doanh nghiệp có thể đăng ký kinh
doanh dưới các hình thức như DN tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Theo nguồn gốc vốn đầu tư có thể phân biệt
các DN trong nước với các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Căn cứ vào tính
10
hữu tư nhân dù lớn hay nhỏ đều thuộc nhóm DNTN, trong đó bao gồm cả các
công ty cổ phần mà sở hữu tư nhân giữ vị trí chi phối.
ở nước ta kể từ sau Đại hội VI (năm 1986) đến nay, Đảng và Nhà nước
đã chủ trương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, nhờ
vậy kinh tế tư nhân được khôi phục và phát triển mạnh, đặc biệt dưới hình
thái DNTN. DNTN được khuyến khích phát triển không những về số lượng,
quy mô, mà cả về lĩnh vực, địa bàn hoạt động, và được phép kinh doanh
những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Trong bối cảnh đó, DNTN được
thành lập và đi vào hoạt động ngày càng nhiều, không những trong lĩnh vực
công nghiệp, nông nghiệp, mà còn ngày càng mở rộng hoạt động sang các
lĩnh vực dịch vụ, trong đó có dịch vụ du lịch.
Từ việc nghiên cứu về DNTN trong lĩnh vực du lịch ở Hà Nội tác giả
Lê Thị Hương đã nêu ra định nghĩa: “Doanh nghiệp tư nhân trong ngành du
lịch là các doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở sở hữu tư nhân, hoạt động
tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp
ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, tìm hiểu, giải trí và
các nhu cầu khác của khách du lịch” [24]. Định nghĩa này đã khái quát được
nội hàm chủ yếu của DNTN trong lĩnh vực du lịch, vì vậy, khái niệm DNTN
trong ngành du lịch của luận văn sẽ được sử dụng theo định nghĩa này.
Trong nền kinh tế nước ta ngày nay, DNTN trong ngành du lịch, cũng
như các DNTN hoạt động trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế, vận động
dưới sự chi phối của các quy luật của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, đồng
thời được chế định bởi định hướng xã hội chủ nghĩa, cho nên bản chất kinh tế -
xã hội của loại hình DN này vừa mang tính là tư nhân, vừa chịu tác động của
định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự vận động phát triển của chúng với tư
cách là bộ phận quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung của đất
nước.
có xu hướng thu hẹp hoạt động đầu tư, tìm cách chuyển vốn sang kinh doanh
trong ngành khác có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Ngược lại, nếu tỷ suất lợi
12
nhuận trong ngành du lịch cao hơn so với trong các ngành kinh tế khác, thì
DNTN sẽ có xu hướng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh không những
bằng các nguồn vốn tự tích luỹ được, mà còn thu hút thêm các nguồn vốn đầu
tư khác kể cả trong và ngoài ngành du lịch. Trong khi đó, các DNNN hoặc
DN tập thể thường không thể nhanh chóng chuyển hướng đầu tư do yêu cầu
thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội nhất định hướng vào lợi ích xã hội hoặc
lợi ích tập thể. Đặc điểm này cho phép luận giải được một phần sự phát triển
của các DNTN trong ngành du lịch trong những bối cảnh kinh tế - xã hội cụ
thể. Tỷ suất lợi nhuận thấp so với các ngành khác là một trong những nguyên
nhân cản trở sự phát triển nhanh của DNTN trong ngành du lịch.
Ngoài ra, hoạt động kinh doanh theo mục tiêu lợi nhuận của các DNTN
trong ngành du lịch cũng có thể gây ra tình trạng không lành mạnh như làm
mất cân đối giữa cung và cầu, gây lãng phí nguồn lực xã hội; gây nên tình
trạng phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng trong xã hội; làm hàng giả, hàng
lậu, nâng giá, ép giá, gây ô nhiễm môi trường sinh thái Vì vậy, công tác
quản lý nhà nước đối với các DNTN nói chung và DNTN trong ngành du lịch
nói riêng cần phải hướng vào việc lành mạnh hoá hoạt động của các DN này.
Hoạt động của chúng có tác động tới sự ổn định kinh tế vĩ mô và nguồn thu
ngân sách nhà nước.
Hai là, về quan hệ tổ chức quản lý. DNTN trong ngành du lịch hoạt
động vì lợi ích của các chủ sở hữu tư nhân, có thể được tổ chức dưới nhiều
hình thức khác nhau trên cơ sở giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và
quyền quản lý kinh doanh. Theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt
Nam, các hình thức tổ chức DNTN trong ngành du lịch ngày nay bao gồm
cổ đông hoặc không phải là cổ đông, nhưng đều hoạt động theo nguyên tắc
thuê mướn thông qua hợp đồng nhằm mang lại lợi ích tối đa cho cổ đông.
Các cổ phần của các công ty có thể được mua bán trên thị trường chứng
khoán chính thức nếu đủ điều kiện niêm yết, hoặc trên thị trường không chính
thức nếu không đủ điều kiện niêm yết.
14
+ Công ty TNHH có hai thành viên trở lên là DN trong đó các thành
viên là chủ thể sở hữu tư nhân cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng
chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp, chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ
và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào
doanh nghiệp. Phần vốn góp của tất cả các thành viên phải được đóng góp đủ
ngay khi thành lập công ty. Các phần vốn góp được ghi rõ trong điều lệ công
ty. Công ty không được phép phát hành cổ phiếu.
+ Đối với Công ty TNHH có một thành viên là DN do một tổ chức dựa
trên cơ sở sở hữu tư nhân, hoặc cá nhân tư nhân làm chủ sở hữu, chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn
điều lệ của công ty. Giống như công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên
trở lên, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cũng không được phép
phát hành cổ phiếu.
+ Công ty hợp danh trong tổ chức quản lý về cơ bản giống công ty
TNHH (có hai thành viên trở lên). Trong điều hành hoạt động công ty, các
thành viên tư nhân hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức trách quản
lý và kiểm soát công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực
hiện công việc kinh doanh hàng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên
thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó [40].
+ DNTN theo quy định tại điều 141 và 143 - Luật Doanh nghiệp 2005,
chủ DNTN có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của
nhanh chóng trong việc điều chỉnh các hành vi kinh tế của mình, việc lựa
chọn hình thức, quy mô hoạt động kinh doanh cũng hết sức linh hoạt. Chủ
doanh nghiệp có thể chủ động lựa chọn các yếu tố đầu vào như vốn, sức lao
động, khoa học - công nghệ phù hợp với năng lực của mình. Việc sử dụng
các nguồn lực một cách linh hoạt sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả
kinh tế tối đa. Dù chủ thể sở hữu của DNTN có trực tiếp tham gia quản lý
16
doanh nghiệp hay thuê người quản lý thì DNTN vẫn tìm mọi cách để sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực của mình, nhất là trong việc sử dụng nguồn nhân
lực với chế độ trả lương hợp lý. Nhờ đó DNTN có thể thu hút được nguồn lao
động có chất lượng. Ngược lại, đối với những lao động chất lượng kém thì
chủ DNTN có toàn quyền sa thải, những mức lương do DNTN áp dụng về cơ
bản do thị trường lao động tự điều tiết trong khuôn khổ của Bộ luật lao động.
Đồng thời, DNTN dễ dàng tiếp cận với các nguồn nguyên liệu và tài
nguyên sẵn có trong nước, có khả năng đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa
dạng và phong phú của thị trường, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, nâng
cao sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, vừa tạo khả năng liên kết chặt chẽ
giữa các doanh nghiệp với nhau, tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn. Đặc
biệt trong xu thế hội nhập WTO hiện nay, những vấn đề cơ bản đó làm tăng
khả năng cạnh tranh lớn của các DNTN trong nước với các doanh nghiệp
nước ngoài, và xu thế độc quyền trong kinh doanh sẽ bị hạn chế, từ đó buộc
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải cạnh tranh với nhau để
tìm ra chỗ đứng trên thị trường.
Ba là, về quan hệ phân phối. Thu nhập của DNTNDL được hình thành
trên cơ sở hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Xuất phát từ sự
chi phối của sở hữu tư nhân về các điều kiện sản xuất kinh doanh, các hình
thức phân phối thu nhập cơ bản trong các DNTN ngành du lịch bao gồm phân
Bên cạnh đó, các DNTN nói chung và trong ngành du lịch nói riêng có
thể không chấp hành đầy đủ, nghiêm túc chế độ kế toán và báo cáo tài chính
theo các quy định của pháp luật hiện hành, thường tìm cách khai báo giảm thu
nhập để giảm đóng góp vào ngân sách nhà nước. Vì vậy, cần thiết phải tiếp
tục tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chế độ kế
toán trong các DNTN, vừa phải tuyên truyền, phổ biến những quy định của
Nhà nước về công tác này nhằm nâng cao nhận thức của các DNTN, hỗ trợ
trong đào tạo đội ngũ kế toán trưởng và kế toán viên, vừa phải củng cố bộ
máy quản lý nhà nước đối với DNTN.
18
Thứ hai, những đặc điểm của DNTN ngành du lịch thể hiện tính đặc
thù của hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói chung và dịch vụ du lịch
nói riêng. Kinh doanh dịch vụ du lịch bao gồm các hoạt động tổ chức hướng
dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu
về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác
của khách du lịch. Mặc dù các dịch vụ du lịch là loại hình dịch vụ được nhiều
chủ thể tham gia cung cấp, nhưng trong điều kiện hiện nay, các hoạt động này
chủ yếu được thực hiện bởi các DN kinh doanh du lịch, trong đó gồm cả các
DN dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân. Để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thỏa
mãn các nhu cầu của khách du lịch, các DNTN ngành du lịch có thể thực hiện
các loại hình kinh doanh du lịch tương ứng. Theo quy định tại Điều 25,
Chương V - Pháp lệnh Du lịch Việt Nam ban hành năm 1999, các DN, trong
đó có DNTN được quyền thực hiện các hoạt động sau:
1) Kinh doanh lữ hành nội địa và kinh doanh lữ hành quốc tế;
2) Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch;
3) Kinh doanh vận chuyển khách du lịch;
4) Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác.
phẩm du lịch (80% - 90%). Tính phi vật thể của dịch vụ du lịch làm cho du
khách không thể nhìn thấy hay thử nghiệm sản phẩm trước được. Việc đánh
giá chất lượng dịch vụ du lịch phụ thuộc chủ yếu vào sự cảm nhận chủ quan
của du khách trong quá trình thụ hưởng, do vậy đòi hỏi các DNTN kinh
doanh du lịch phải nắm vững nhu cầu của khách du lịch, từ đó lựa chọn các
phương thức phục vụ phù hợp với từng loại hình du lịch và với từng đối
tượng khách du lịch. Đây là vấn đề rất phức tạp, đòi hỏi các DNTN kinh
doanh du lịch phải không ngừng cố gắng tiếp xúc và tìm hiểu về khách hàng
của mình.
Các DNTN ngành du lịch muốn khách du lịch biết tới sản phẩm của
mình thì cần phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết cho du khách thông
qua các phương tiện như chương trình du lịch. Trong các chương trình du lịch
20
càng thể hiện rõ các nội dung như tuyến du lịch, phương tiện giao thông, nhà
nghỉ, các dịch vụ vui chơi giải trí, ăn uống, sản phẩm lưu niệm Việc cung
cấp thông tin cho khách du lịch có thể thực hiện trực tiếp, hoặc thông qua hoạt
động tư vấn quảng bá du lịch bằng hệ thống website. Ngoài ra, quảng bá về
chất lượng dịch vụ du lịch còn có thể thực hiện thông qua sự tuyên truyền của
các khách du lịch đã được thụ hưởng dịch vụ du lịch cho những người khác.
Để công tác quảng bá du lịch có hiệu quả, các DNTN ngành du lịch cần phải
luôn luôn tìm cách nâng cao chất lượng dịch vụ của mình theo hướng đáp ứng
những nhu cầu và thị hiếu ngày càng cao của khách du lịch trong nước và
quốc tế.
Hai là, tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng dịch vụ du lịch. Đặc
tính này thể hiện sự khác biệt giữa dịch vụ và hàng hóa hữu hình. Đối với
hàng hóa hữu hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng tách rời nhau, việc sản
xuất và tiêu dùng thường diễn ra ở những thời gian và địa điểm khác nhau.
dịch vụ du lịch sẽ giúp cho các DNTN ngành du lịch tạo nên thế mạnh trong các
loại hình du lịch mà DN kinh doanh tại từng địa điểm du lịch và trong từng thời
điểm.
Ngoài những đặc điểm nổi bật nêu trên, DNTN trong ngành du lịch còn
chịu sự ảnh hưởng của một số những đặc tính khác như: sự tham gia của
khách du lịch trong quá trình tạo ra dịch vụ, tính không chuyển đổi quyền sở
hữu dịch vụ, tính không thể di chuyển của dịch vụ du lịch, tính trọn gói của
dịch vụ, tính không đồng nhất dịch vụ du lịch
Như vậy, DNTN ngành du lịch vừa mang những đặc điểm của DNTN,
vừa mang tính đặc thù của ngành du lịch. Tác động của những đặc điểm đó
không những đặt ra những vấn đề cần phải giải quyết đối với bản thân các
DNTN ngành du lịch, mà còn đòi hỏi công tác quản lý nhà nước cũng phải
căn cứ vào đó để xây dựng và thực hiện các chính sách, cơ chế nhằm vừa tạo
thuận lợi cho hoạt động của các DNTN ngành du lịch, vừa hướng hoạt động
22
của loại hình DN này vào thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội nói chung theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong ngành du lịch
Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự nỗ
lực của mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân đã có mặt trong tất
cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ. Các DNTN đã có
mặt ở mọi miền của đất nước với nhiều hình thức tổ chức đa dạng, phong phú,
phương thức kinh doanh năng động, thích nghi với cơ chế thị trường và nhu
cầu của xã hội. Các DNTN được tổ chức dưới nhiều loại hình, đã đóng một
vai trò to lớn trong việc huy động các nguồn lực xã hội, tạo thêm việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định
chính trị - xã hội của đất nước. Trong đó không thể không kể đến sự phát triển
nguồn vốn của tư nhân sẽ chiếm 25% so với tổng nhu cầu đầu tư [24].
Năm 2000 vốn đầu tư của loại hình DNTN trong du lịch đạt khoảng
18.569,7 tỷ đồng. Đến năm 2005, số vốn đầu tư của DNTN vào du lịch đã
tăng lên tới 235.111,8 tỷ đồng chiếm 26,5% tổng vốn đầu tư trong ngành du
lịch. Theo sự phát triển của ngành du lịch, tỷ trọng đầu tư của các DNTN vào
du lịch sẽ có xu hướng tăng lên, tiếp tục góp phần thúc đẩy quá trình huy
động các nguồn vốn ngoài ngân sách trong nước vào phát triển kinh tế - xã
hội.
1.1.2.2. Làm tăng sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khai thác
hiệu quả các tiềm năng, nguồn lực du lịch
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Việt Nam
chính thức trở thành thành viên của WTO, DNTNDL ngày càng có cơ hội
thuận lợi để mở rộng thị trường cả trong nước và ngoài nước. Vì mục tiêu lợi
nhuận, nên các DNTN luôn phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình bằng
cách nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch, đầu tư cơ sở kỹ thuật, đào
24
tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, củng cố và tăng cường nâng cao năng lực quản
lý trong các DN.
Sự lớn mạnh của các DNTN ngành du lịch không những tạo ra sức ép
cạnh tranh đối với bản thân các DNTN trong ngành du lịch, mà còn tạo ra sức
ép phải nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các DN du lịch dựa trên cơ sở
các hình thức sở hữu khác về điều kiện sản xuất kinh doanh, từ đó không
những góp phần nâng cao sức cạnh tranh của ngành du lịch nói riêng, mà còn
góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung trong bối cảnh
hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Hoạt động của các DNTN ngành du lịch là hoạt động khai thác các tài
nguyên du lịch để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các tầng lớp dân cư
về thu nhập có thể thấy rõ là năm 1990 thu nhập xã hội từ du lịch mới đạt
1.350 tỷ đồng, thì đến năm 2005 đã là 30.000 tỷ đồng, tăng gấp hơn 20 lần
[45].
Sự phát triển của các DNTN trong du lịch theo hướng ngày càng mở rộng
về quy mô kéo theo sự gia tăng nhu cầu về thu hút sức lao động trực tiếp, đồng
thời gián tiếp tạo ra những việc làm mới đối với các khâu có liên quan tới dịch
vụ du lịch của các DNTN ngành du lịch. Chính điều này có tác dụng to lớn đối
với việc giảm áp lực trong giải quyết công ăn việc làm cho người lao động của
chính phủ, giảm tình trạng thất nghiệp, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật
tự an toàn xã hội. Có thể nói rằng, các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN hoạt
động trong ngành du lịch đã góp phần quan trọng trong vấn đề tạo công ăn việc
làm cho người lao động, hàng năm các doanh nghiệp này thu hút hàng ngàn lao
động phục vụ trong các dịch vụ du lịch. Đồng thời, sự phát triển của các DNTN
ngành du lịch có vai trò tăng thu ngân sách nhà nước từ lĩnh vực du lịch. Mặc dù
ngày nay đóng góp trực tiếp của các DNTN ngành du lịch vào ngân sách nhà
nước còn khiêm tốn, song với sự phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình sự đóng góp này sẽ tăng lên.