1
Luận văn
Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
được hình thành từ cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước ở Nghệ An
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh kinh tế xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của
sản xuất và trao đổi hàng hoá. Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế
bằng các biện pháp, thủ đoạn khác nhau nhằm đạt mục tiêu tối đa lợi ích trong quá
trình sản xuất - kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cạnh tranh vừa là môi
trường vừa là động lực của sự phát triển.
Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước đã chủ trương phát triển
kinh tế nhiều thành phần, phát huy mọi nguồn lực nhưng kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng, là công cụ để nhà nước định
hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo thành công trong hội nhập kinh
+ GS - TS Chu Văn Cấp (chủ biên): Nâng cao sức cạnh tranh của nền
kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. (Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia - Hà Nội 2003).
+ TS Phạm Thu Hồng: Chiến lược cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Việt Nam hiện nay. (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Hà Nội 2004)
+ Thạc sỹ Đỗ Thị Oanh: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt
Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp.
+ Dự án VIE 01/2005: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Nhà
xuất bản giao thông vận tải 2003).
+ Tạp chí Cộng sản số 22/2004 của GS - TS Lê Hữu Nghĩa - Tổng biên tập
Tạp chí Cộng sản, Phó chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, về Cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay - mấy vấn đề lý luận và thực tiễn.
Tuy nhiên việc nghiên cứu cạnh tranh của các doanh nghiệp được hình
thành từ cổ phần hoá DNNN dưới góc độ kinh tế chính trị chưa có nhiều. Vì
vậy, đề tài này vẫn cần thiết và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở các tri thức cấu thành sức cạnh tranh của doanh nghiệp, luận
văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp được
4
hình thành từ cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Nghệ An, từ đó đề xuất
các giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh và phát triển doanh nghiệp này
trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa lý luận về sức cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh của
pháp cơ bản nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp được hình thành
từ cổ phần hoá DNNN ở Nghệ An trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình tác giả, danh
mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
6
Chương 1
SỨC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN
ĐƯỢC HÌNH THÀNH TỪ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC -
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. SỨC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG NHÂN TỐ
cạnh tranh cơ bản này diễn ra xoay quanh sự quyết định giá trị, sự thực hiện
giá trị và sự phân phối giá trị thặng dư, chúng tạo nên nội dung cơ bản trong
lý luận cạnh tranh của Mác.
Theo C.Mác, cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các
nhà tư bản để dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ
hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch:
Theo từ điển bách khoa của Việt Nam thì cạnh tranh (trong kinh
doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa
các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối
bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị
trường có lợi nhất.
Theo cuốn kinh tế học của Samuwelson thì: Cạnh tranh là sự kình địch
giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng, thị trường.
Theo các tác giả của cuốn "Các vấn đề pháp lý và thể chế chính sách
cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh" thì: Cạnh tranh có thể được
hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc dành một số nhân tố sản
xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt
được mục tiêu kinh doanh cụ thể.
Ngoài ra, còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm
cạnh tranh qua các định nghĩa nêu trên, có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau:
Thứ nhất: Khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm lấy phần
thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự.
Thứ hai: Mục đích trực tiếp là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên
đều muốn dành giật (một cơ hội, một sản phẩm, dự án) Một loạt điều kiện có
lợi (một thị trường, một khách hàng).
8
9
yếu tố ở tầm vĩ mô, đồng thời cũng bao gồm năng lực, sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Ở đây có thể tiếp cận các
khái niệm về sức cạnh tranh/năng lực cạnh tranh như sau:
Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực của một nền
kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư bảo đảm ổn định
kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.
Năng lực cạnh tranh/sức cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy
trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường
cạnh tranh trong nước và nước ngoài. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh
một hay nhiều sản phẩm và dịch vụ, vì vậy người ta còn phân biệt năng
lực/sức cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực/sức cạnh tranh của sản
phẩm và dịch vụ.
Năng lực cạnh tranh/sức cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ được đo
bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường.
Ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với
nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền
kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có
năng lực cạnh tranh/sức cạnh tranh, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh
nghiệp có sức cạnh tranh, môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận
lợi, các chính sách kinh tế của vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, nền
kinh tế phải ổn định; bộ máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu lực,
hiệu quả, có tính chuyên nghiệp.
Mặt khác, tính năng động, nhạy bén trong quản lý doanh nghiệp cũng
là yếu tố quan trọng, vì trong cùng một môi trường kinh doanh có doanh
nghiệp rất thành công trong khi doanh nghiệp khác lại thất bại. Năng lực
cạnh tranh/sức cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh
vụ có chuẩn mực riêng về chất lượng): yêu cầu đẹp, bền, mới, tiện dụng, phù
hợp với thói quen tiêu dùng và văn hoá của mỗi dân tộc, mẫu mã bao bì hấp
dẫn, thương hiệu hàng hoá tin cậy.
11
Thứ sáu: Một tiêu chuẩn không thể thiếu được trong thời đại hiện nay
là: đảm bảo vệ sinh môi trường, văn hoá, đạo đức trong kinh doanh (đối với
hàng hoá), an toàn và nhanh chóng tiện lợi (đối với dịch vụ).
Thứ bảy: Giá thành phải đủ sức cạnh tranh với hàng hoá và dịch vụ
cùng loại của các nước, chỉ ít là các nước trong khu vực và đối với những đối
thủ cạnh tranh với doanh nghiệp.
1.1.3. Những nhân tố cấu thành và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh
của doanh nghiệp
Sức cạnh tranh/khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy
trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường
cạnh tranh trong và ngoài nước.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp do nhiều yếu tố cấu thành và chịu
tác động của nhiều nhân tố khác nhau. Tuy nhiên có thể chia làm hai nhóm: các
yếu tố bên trong doanh nghiệp và các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
1.1.3.1. Các nhân tố bên trong cấu thành năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp
Chìa khoá để hiểu và phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
nói chung là phải xác định được các yếu tố cấu thành của chúng. Đây là vấn
đề sống còn đối với từng doanh nghiệp. Vấn đề này được bàn luận trong thời
gian khá dài trên cả hai lĩnh vực hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn.
Khái quát lại năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một tập hợp bao gồm
các yếu tố như: Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp; năng suất lao động;
doanh để thực hiện chiến lược tổng quát.
Chiến lược kinh doanh tổng quát, đề cập những vấn đề quan trọng nhất,
bao trùm nhất và có ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp
như: Phương thức kinh doanh, chủng loại hàng hoá, dịch vụ được lựa chọn
sản xuất kinh doanh, thị trường tiêu thụ, các mục tiêu về tài chính và các chỉ
tiêu tăng trưởng
Dưới đây là khái quát một số chiến lược quan trọng trong chiến lược
kinh doanh của doanh nghiệp:
- Chiến lược mặt hàng và dịch vụ: Chiến lược này chỉ rõ doanh nghiệp
chọn những mặt hàng nào để sản xuất kinh doanh: đa dạng hoá mặt hàng, hay
13
khác biệt hoá sản phẩm cần phải tiến hành các hoạt động dịch vụ nào đúng
nhu cầu thị trường. Đây là chiến lược quan trọng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chiến lược thị trường và khách hàng: Xác định ai là khách hàng của
doanh nghiệp, thị trường nào là trọng điểm để doanh nghiệp dồn mọi công
sức nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng và bằng cách nào để lôi kéo
khách hàng đến với doanh nghiệp.
- Chiến lược vốn kinh doanh: Xác định nhu cầu vốn kinh doanh cần
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức huy động vốn để
đảm bảo đủ vốn và cách phân phối, sử dụng vốn có hiệu quả.
- Chiến lược Maketing hỗn hợp bao gồm: Chiến lược sản phẩm, giá cả
phân phối, giao tiếp và khuyếch trương.
- Chiến lược cạnh tranh: Chiến lược này xác định các đối thủ cạnh
tranh của doanh nghiệp, tuỳ theo vị thế, hoàn cảnh môi trường kinh doanh và
sức mạnh của đối thủ cạnh tranh mà đề ra chiến lược cạnh tranh có hiệu quả.
vai trò rất quan trọng trong sản xuất - xã hội nói chung và trong cạnh tranh
kinh tế hiện nay. Các nhà kinh tế Mỹ cho rằng vũ khí cạnh tranh quyết định
trong thế kỷ XXI là giáo dục và kỹ năng của người lao động. Trong doanh
nghiệp sức lao động là yếu tố đầu vào của sản xuất, người lao động là người
trực tiếp sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hoá và
dịch vụ. Người lao động còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải
tiến kỹ thuật, hợp lý hoá quy trình sản xuất và thậm chí góp sức vào những
sáng kiến, sáng chế Do vậy, trình độ của người lao động tác động rất lớn
đến chất lượng và độ tinh xảo của sản phẩm ảnh hưởng lớn đến năng suất và
chi phí của doanh nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng tác động đến năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Để nâng cao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần
chú trọng bảo đảm chất lượng và số lượng lao động. Để nâng cao tay nghề
của người lao động, doanh nghiệp cần chú trọng công tác đào tạo, nâng cao
tay nghề dưới nhiều hình thức, đầu tư kinh phí thoả đáng, khuyến khích người
lao động tham gia vào quá trình quản lý, sáng chế, cải tiến
15
Thứ năm: Chi phí kinh doanh trong đó bao gồm chi phí nghiên cứu và
phát triển mới (R&D); các chi phí tiện ích (điện, nước); chi phí vận tải; chi
phí thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh là những nhân tố quan trọng ảnh
hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp, chi phí nghiên cứu và phát
triển doanh nghiệp là chi phí quan trọng trong nền kinh tế hiện đại. Chi phí
cho nghiên cứu phát triển doanh nghiệp gồm nhiều yếu tố thành phần như:
nhân lực nghiên cứu, thiết bị tài chính cho hoạt động nghiên cứu phát triển
(R&D), khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp. Năng lực nghiên
cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong cải tiến, nâng cao chất lượng
sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, hợp lý hoá sản xuất, do
tồn tại phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp nói riêng. Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thể
hiện trên các mặt:
- Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý: được thể hiện bằng những kiến thức
cần thiết để quản lý và điều hành, thực hiện các công việc đối nội và đối ngoại
của doanh nghiệp. Trình độ đội ngũ này không chỉ đơn thuần là trình độ học
vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phức tạp thuộc nhiều lĩnh
vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ luật pháp trong
nước và quốc tế, thị trường, ngành hàng đến kiến thức xã hội, nhân văn. Ở
nhiều nước trình độ và năng lực của giám đốc doanh nghiệp nói riêng và đội
ngũ quản lý doanh nghiệp nói chung không chỉ được đo bằng bằng cấp của
các trường quản lý danh tiếng mà còn thể hiện ở tính chuyên nghiệp, ở tầm
nhìn xa trông rộng, có óc quan sát, phân tích, nắm bắt cơ hội kinh doanh, xử
lý các tình huống, giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra. Trình độ năng lực
của cán bộ quản lý tác động trực tiếp và toàn diện tới năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp - Thể hiện qua việc hoạch định và thực hiện chiến lược, lựa
chọn phương pháp quản lý, tạo động lực trong doanh nghiệp Tất cả những
việc đó không chỉ tạo ra không gian sinh tồn và phát triển của sản phẩm mà
còn tác động đến năng suất, chất lượng và giá thành, uy tín của doanh nghiệp.
- Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí
cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng nhiệm vụ của các
bộ phận, việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng
17
tinh gọn và hiệu lực cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả
quản lý cao, ra quyết định nhanh chóng, chính xác mà còn làm giảm tương
đối chi phí quản lý doanh nghiệp. Nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh
(gia công,
chế biến,
lắp ráp,
kiểm tra
chất
lượng)
Hậu cần
đầu ra
(lưu kho
và phân
phối)
Tiếp thị
hàng
(quảng cáo,
xúc tiến
bán, đặt giá
kênh phân
phối
Dịch vụ (lắp, đặt,
bảo dưỡng, sửa
chữa, thay thế )
B Các hoạt động chính C F
Nguồn: M.Porter 1990.
Biªn
lîi
nhuË
n
G
trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh
tranh của doanh nghiệp nói riêng. Để phát huy vai trò các yếu tố thị trường
đối với doanh nghiệp, cần có sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường nhằm
ổn định thị trường (hạn chế những biến động lớn của thị trường), tạo lập môi
19
trường cạnh tranh tích cực và hiệu quả, chống gian lận thương mại, hạn chế
độc quyền kinh doanh Điều quan trọng là tạo lập môi trường cạnh tranh tích
cực, tăng sức ép đổi mới quản lý, cải tiến quy trình sản xuất, ứng dụng thành
tựu khoa học - công nghệ, đổi mới và đa dạng hoá sản phẩm tạo động lực
cho doanh nghiệp để vươn lên.
Để tạo lập và duy trì môi trường ổn định và hiệu quả, Nhà nước cần
xây dựng và thực hiện pháp luật nhằm khuyển khích cạnh tranh tích cực,
chống độc quyền, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, xử lý nghiêm các hành vi gian
lận thương mại tạo điều kiện thị trường lành mạnh và ổn định thì doanh
nghiệp mới có điều kiện để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Ngoài ra,
cần tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường, tạo ra nhiều nhà cung
cấp cũng như nhiều đối tác kinh doanh, nhiều khách hàng cho doanh nghiệp.
Thứ hai: Thể chế, chính sách: Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng
cho hoạt động của doanh nghiệp. Nội dung của thể chế chính sách bao gồm
các quy định pháp luật, các biện pháp hạn chế hay khuyến khích đầu tư, kinh
doanh đối với hàng hoá, dịch vụ, ngành nghề, địa bàn Thể chế chính sách
bao gồm: Pháp luật, chính sách về đầu tư, tài chính tiền tệ, đất đai, công nghệ,
thị trường nghĩa là các biện pháp điều tiết cả đầu vào và đầu ra cũng như
toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, đây là nhóm yếu tố rất
quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tới hoạt động của doanh
nghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng.
lượng tốt. Điều đó đòi hỏi có sự đầu tư phát triển.
Thứ tư: Các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ: Trong nền sản xuất
hiện đại, cùng với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì sự liên kết, hợp tác
cũng phát triển mạnh mẽ. Thực tế chỉ ra rằng, khi trình độ sản xuất càng hiện
đại thì sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn.
Các ngành công nghiệp hỗ trợ không những có tác động đến thời gian
sản xuất, năng suất, chất lượng mà còn ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
của nhiều doanh nghiệp. Để phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ,
cần tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển các ngành này.
21
Thứ năm: Trình độ nguồn nhân lực của quốc gia: Trình độ nguồn nhân
lực của quốc gia nói chung có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
doanh nghiệp. Trong nền sản xuất hiện đại, đặc biệt là trong xu hướng chuyển
sang nền kinh tế tri thức thì chất lượng nguồn nhân lực mà một quốc gia hay
một vùng lãnh thổ được quan tâm nhất khi các doanh nghiệp lựa chọn đầu tư.
Trình độ và các điều kiện về nguồn nhân lực thể hiện ở kỹ năng của nguồn
nhân lực, mức lương, hệ thống lương, điều kiện làm việc, sức khoẻ và an
toàn, đầu tư cho đào tạo, vai trò của công đoàn. Để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, cần chú trọng giáo dục và đào tạo, tạo điều kiện để các cơ sở
đào tạo, các hoạt động đào tạo phát triển thông qua cơ chế, chính sách và các
biện pháp khác của nhà nước.
- Các đối thủ cạnh tranh: Hiểu về các đổi thủ cạnh tranh là điều rất
quan trọng đối với các doanh nghiệp. Khi xem xét yếu tố này cần xác định rõ
5 vấn đề sau đây:
+ Những ai là đối thủ cạnh tranh ? Trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể là các doanh nghiệp
khác nhau sẽ có những phản ứng không giống nhau. Chẳng hạn trước hiểm
hoạ doanh nghiệp có thể tìm cách "rút khỏi thị trường" hoặc chủ động "lật lại"
tình thế thị trường. Một nguy cơ xuất hiện, có thể đối thủ cạnh tranh sẽ tập
trung toàn bộ sức lực để tập trung vào khai thác.
Nói tóm lại, khi đánh giá các yếu tố tác động đến sức cạnh tranh của
một doanh nghiệp cần phải xem xét đầy đủ các yếu tố tác động, từ đó mà "gạn
đục, khơi trong" tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao sức cạnh tranh
của doanh nghiệp.
1.2. DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN TỪ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ
SỨC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN ĐƯỢC HÌNH THÀNH TỪ
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.2.1. Doanh nghiệp cổ phần được hình thành từ doanh nghiệp nhà
nước và những đặc trưng của nó
* Doanh nghiệp cổ phần từ doanh nghiệp nhà nước:
Trong lịch sử, có 3 con đường hình thành công ty cổ phần: (1) Con
đường truyền thống: bắt đầu từ doanh nghiệp một chủ sang hình thức công ty
23
(có 2 chủ trở lên) rồi lên công ty cổ phần theo trình tự tự nhiên; (2) Liên
doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với tư nhân trong và ngoài nước (3)
Chuyển doanh nghiệp nhà nước sang cổ phần, con đường này gọi là cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nước.
Để xác định thực chất doanh nghiệp cổ phần từ doanh nghiệp nhà nước,
trước hết phải phân biệt 2 quá trình: cổ phần hoá và tư nhân hoá.
Trong đời sống kinh tế ở nhiều nước đã diễn ra quá trình tăng cường
vai trò của khu vực tư nhân bằng cách giảm thiểu khu vực nhà nước thông
qua chương trình tư nhân hoá. Ví dụ như tư nhân hoá ở nước Anh, tư nhân
doanh nghiệp nhà nước. Từ đó cho rằng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
là một nội dung của tư nhân hoá.
Song nếu hiểu dưới góc độ tính chất của các quan hệ kinh tế (quan hệ
sở hữu về tài sản, tiền vốn) thì không thể cho rằng cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nước là tư nhân hoá.
Thực tế, nhiều nước đã diễn ra quá trình doanh nghiệp tư nhân thuần
tuý hoặc doanh nghiệp của một nhóm chủ thông qua phát hành cổ phiếu thu
hút thêm vốn của các chủ sở hữu khác ngoài xã hội để chuyển thành công ty
cổ phần. Sau khi trở thành công ty cổ phần, chủ sở hữu doanh nghiệp không
còn là cá nhân riêng lẻ nữa mà là tập thể các cổ đông. Quá trình này cũng diễn
ra trong các doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước (mà trực tiếp là một cơ quan
có thẩm quyền được nhà nước giao) dựa trên cơ sở giá trị thực tế của doanh
nghiệp cần được cổ phần hoá xác định số lượng cổ phần, giá trị mỗi cổ phần,
các loại cổ phiếu, phương thức phát hành phiếu, sau đó bán cổ phiếu cho các
tổ chức kinh tế - xã hội và công chúng, chuyển doanh nghiệp từ chỗ chỉ có
một chủ sở hữu là nhà nước thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu
Thực tế ở các nước doanh nghiệp nhà nước chuyển thành doanh nghiệp
cổ phần thông qua 2 bước:
1- Bán toàn bộ hoặc một phần tài sản hiện có thuộc sở hữu nhà nước tại
doanh nghiệp cho các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân (công chúng) bằng
phương thức phát hành cổ phiếu.
2- Giữ nguyên toàn bộ giá trị vốn hiện có của nhà nước tại doanh nghiệp,
phát hành cổ phiếu ra công chúng để thu hút thêm vốn mở rộng doanh nghiệp
25
Cả hai phương thức đều là quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước - Quá trình chuyển sang một hình thức sở hữu xã hội có các chủ thể sở