ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 2011 – 2020 - Pdf 10


BỘ CÔNG THƯƠNG
Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên EU – Việt Nam
Hoạt động CB - 2A “Hỗ trợ Bộ Công Thương xây dựng
chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2011 - 2020 Báo cáo chuyên đề ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU
HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ 2011 – 2020 Thực hiện chuyên đề: Đinh Thị Bích Liên
Viện Nghiên cứu thương mại – Bộ Công Thương
mới của quốc tế và trong nước và đón bắt cơ hội phát triển nhanh khi
Việt Nam gia nhập WTO, tham gia các khu vực thương mại tự do
(FTA), ngày 30 tháng 06 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký
Quyết định số 156/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển
xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010. Trong đó, đã đề ra mục tiêu phấn
đấu đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân
17,5%/năm trong giai đoạn 2006 – 2010, đến năm 2010 đạt kim
ngạch 72,5 tỉ USD, đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ bình
quân 16,3%/năm, đến năm 20210 đạt giá trị xuất khẩu khoảng 12 tỉ
USD. Tiến tới cân bằng xuất – nhập khẩu vào những năm đầu sau
năm 2010. Đến năm 2010, xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy

2
sản chiếm khoảng 13,7, nhóm hàng nhiên liệu – khoáng sản chiếm
khoảng 9,6%, nhóm hàng công nghiệp và công nghệ cao chiếm
khoảng 54% và nhóm hàng hóa khác chiếm 22% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa. Về cơ cấu thị trường xuất khẩu, đến năm
20210 xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Châu Âu chiếm 23%, thị
trường Châu Á chiếm khoảng 45%, thị trường Châu Mỹ chiếm
khoảng 24%, thị trường Châu Đại Dương chiếm 5% và các thị
trường khác chiếm 3%.
Trong 10 năm thực hiện “Chiến lược phát triển xuất nhập
khẩu thời kỳ 2001 – 2010” và “Đề án phát triển xuất khẩu giai
đoạn 2006 – 2010”, tình hình đất nước và quốc tế có nhiều biến đổi,
nước ta có nhiều thuận lợi cũng nhưng cũng gặp phải nhiều khó
khăn, thách thức. Để cụ thể hóa những định hướng phát triển trong
dự thảo Chiến lược phát triển – kinh tế xã hội 2011 – 2020, Thủ
tướng Chính phủ đã có công văn số 316/TTg-KTTH ngày 2/3/2009
về việc giao cho Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành địa phương tiến hành tổng kết toàn diện Chiến lược xuất nhập

triển, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao, đưa
GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000, trong đó tỉ trọng của
công nghiệp chiếm 40 – 41%, nhịp độ tăng trưởng giá trị gia tăng
công nghiệp bình quân đạt 10 – 10,5%/năm, nâng cao rõ rệt hiệu quả
và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế, cán
cân thanh toán quốc tế lành mạnh và tăng dự trữ ngoại tệ; tích lũy
nội bộ nền kinh tế đạt trên 30%, bội chi ngân sách, lạm phát, nợ
nước ngoài được kiểm soát trong giới hạn an toàn. Đối với xuất nhập
khẩu hàng hóa, Chiến lược cũng đề ra mục tiêu: nhịp độ tăng xuất
khẩu gấp 2 lần nhịp độ tăng GDP; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm,
thủy sản đạt 9 - 10 tỉ USD, trong đó thủy sản khoảng 3,5 tỉ USD, giá
trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chiếm 70 – 75% tổng kim ngạch
xuất khẩu, chế biến hầu hết nông sản xuất khẩu…
1.1 Những thành tựu chủ yếu
Trong 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001 – 2010, chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều
khó khăn, thách thức, nhất là những tác động bất lợi của hai cuộc
khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực, toàn cầu, đạt được những
thành tựu to lớn và rất quan trọng. Nhiều mục tiêu của chiến lược
2001 – 2010 đã được thực hiện:
(1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá cao, kinh tế vĩ mô tương
đối ổn định, đã tạo cơ sở quan trọng cho phát triển xuất nhập khẩu.
Thời kỳ 2001 – 2010, GDP tăng bình quân 7,2%/năm, riêng năm
2007 (ngay sau khi gia nhập WTO) tăng 8,5%. Các năm 2008 –
2010 là giai đoạn rất khó khăn do biến động mạnh của kinh tế thế
giới bước vào chu kỳ suy thoái và tác động mạnh của khủng hoảng

4
tài chính toàn cầu, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn
ở mức khá cao, năm 2008 đạt 6,23%, năm 2009 đạt 5,3% và năm

0,28% trong các năm 2000 – 2004 xuống 0,16 trong 2 năm 2007 –
2008 và khoảng 0,12% vào năm 2010.
(2) Vị thế của nền kinh tế và thương mại Việt Nam trong kinh tế
toàn cầu đã ngày càng được nâng cao

1
Theo tiêu chuẩn của Liên Hợp Quốc, mức GDP bình quân đầu người đạt hơn 900 USD là đạt mục tiêu nước
đang phát triển có thu nhập trung bình

5
Tỉ lệ đóng góp của Việt Nam vào tổng GDP toàn cầu đã tăng từ
0,09% năm 2000 lên 0,17% năm 2009 và khoảng 0,18% năm 2010.
Thứ hạng về tăng trưởng GDP của Việt Nam trong Bảng xếp hạng
tăng trưởng GDP toàn cầu có xu hướng ngày càng cao
2
.
Việt Nam có vai trò đóng góp ngày càng lớn đối với chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa của khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương. Tỉ trọng giá trị gia tăng toàn ngành công nghiệp
(MVA) của Việt Nam trong tổng MVA toàn khu vực đã tăng từ
0,4% năm 1995 lên 0,7% năm 2005 và ước khoảng 0,9% năm 2010.
Tỉ trọng thương mại quốc tế của Việt Nam trong tổng giá trị
thương mại toàn câu ngày càng tăng. Đến năm 2009, thương mại
hàng hóa của Việt Nam đã chiếm 0,49% tổng giá trị thương mại
hàng hóa toàn cầu, riêng xuất khẩu hàng hóa chiếm 0,45%, nhập
khẩu hàng hóa chiếm 0,54%; thương mại dịch vụ chiếm 0,28% tổng
giá trị thương mại toàn cầu.
Nước ta cũng có vị thế ngày càng cao trong việc cung cấp các sản
phẩm thiết yếu cho thị trường thế giới, đóng góp ngày càng lớn vào
bảo đảm an ninh lương thực và an ninh năng lượng toàn cầu. Đến

giới.
(3) Xuất nhập khẩu hàng hóa phát triển nhanh, đóng vai trò là
một động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế
Nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu thời kỳ 2001 – 2010 đạt bình quân
17,3%/năm, gấp 2,4 lần nhịp độ tăng trưởng GDP trong cùng thời kỳ
(7,21%/năm). Trong đó, giai đoạn 2001 – 2005 nhịp độ tăng trưởng
xuất khẩu đạt bình quân 19,15%/năm, gấp 2,55 lần nhịp độ tăng
trưởng GDP (7,5%/năm); giai đoạn 2006 – 2010, nhịp độ tăng
trưởng xuất khẩu đạt bình quân 17% (dự ước năm 2010 tăng 24%,
kim ngạch đạt 71 tỉ USD), gấp 2,46 lần nhịp độ tăng trưởng GDP
(6,92%/năm).
Trong điều kiện mô hình tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào
tăng trưởng đầu tư, thì xuất nhập khẩu là một kênh dẫn xuất đầu tư
chủ yếu và có vai trò ngày càng lớn đối với tăng trưởng kinh tế. Tỉ lệ
giữa kim ngạch XNK so với GDP đã tăng từ 90% năm 2001 lên
155% năm 2008 và khoảng 140% năm 2010. Phần chủ yếu trong
tổng giá trị nhập khẩu hàng năm các nguyên nhiên vật liệu, máy
móc, thiết bị và công nghệ được đầu tư cho phát triển sản xuất, trong
đó, có sản xuất hàng xuất khẩu để đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Trong giai đoạn 2001 – 2005, tỉ trọng của nhóm hàng này chiếm
khoảng 50% tổng kim ngạch nhập khẩu và bằng khoảng 40% GDP;
nhưng trong giai đoạn 2006 – 2010 đã tăng mạnh, chiếm khoảng
70% tổng kim ngạch nhập khẩu và bằng 60% GDP (riêng năm 2006
các chỉ số này là 56,4% KNNK và bằng 48,8% GDP, năm 2008 tăng
lên 74,7% KNNK và bằng 65,1% GDP).
Trong thời kỳ 2001 – 2010, xuất khẩu tiếp tục là một động lực
tăng trưởng của khu vực kinh tế nông nghiệp nông thôn, góp phần
tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo
hướng công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Năm 2005, kim ngạch


(năm 2006: 112,74%, năm 2007: 77,79%, năm 2008: 62,49% và
năm 2009 là 34) còn đóng góp của nhập khẩu luôn là một số âm
(năm 2006: -131,64%, năm 2007: -234,65%, năm 2008: -131,3%).
(4) Sự chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã có tác động tích cực,
nhiều mặt đến tăng trưởng kinh tế và xuất nhập khẩu hàng hóa
Nhờ hội nhập KTQT sâu rộng hơn, các rào cản thương mại giảm
đáng kể nên Việt Nam đã mở rộng được thị phần sang các thị trường
lớn, tăng kim ngạch xuất khẩu. Đặc biệt từ sau năm 2007, dưới hiệu

8
ứng của việc gia nhập WTO, lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài
vào Việt Nam được cải thiện, dòng chảy đầu tư trực tiếp và gián tiếp
của nước ngoài vào Việt Nam đã tăng đáng kể. Nhờ đó, sản lượng
các ngành kinh tế theo định hướng xuất khẩu tăng, góp phần quan
trọng vào tăng trưởng GDP. Đóng góp của khu vực FDI đối với nền
kinh tế quốc dân có xu hướng ngày càng lớn. Đến năm 2008, khu
vực FDI đã chiếm 41% vốn đầu tư xã hội, gần 20% GDP, 45%
GTSXCN, 57% kim ngạch xuất khẩu, 31% kim ngạch nhập khẩu .
Dự ước năm 2010, khu vực FDI chiếm khoảng 47% kim ngạch xuất
khẩu và 44% kim ngạch nhập khẩu.
Đánh giá tổng quát, phần lớn các mục tiêu chủ yếu đề ra trong
chiến lược kinh tế - xã hội 2001 – 2010 đã được thực hiện, một số
chỉ tiêu đạt sớm và vượt mức đề ra. Nền kinh tế có bước phát triển
mới, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, hội nhập KTQT ngày càng
sâu rộng và hiệu quả hơn, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, thế
và lực của ta vững mạnh thêm nhiều, vị thể của nền kinh tế nước ta
trong kinh tế toàn cầu được nâng lên, tạo tiền đề quan trọng để đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.2 Những hạn chế, yếu kém
Trình độ phát triển kinh tế của nước ta vẫn còn thấp xa so với

3
. Vì
thế, nội năng tăng trưởng của nền kinh tế chậm được nâng lên,
nguồn tài nguyên nhanh bị cạn kiệt, ảnh hưởng đến tính bền vững
của nền kinh tế.
(2) Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và toàn nền
kinh tế trong cạnh tranh toàn cầu còn yếu, chậm được nâng lên.
Máy móc, thiết bị và công nghệ là yếu tố chính tạo ra năng suất lao
động và hình thành sức cạnh tranh của sản phẩm, nhưng trong điều
kiện 90% nhóm sản phẩm này cho nhu cầu trong nước phải nhập
khẩu thì tỉ trọng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong tổng
KNNK hàng hóa lại có xu hướng giảm mạnh, từ 31,5% năm 2000
xuống 14,7% năm 2006, nhích lên 17% năm 2008 và ước đạt 18%
năm 2010. Tốc độ đối với máy móc, thiết bị chưa đạt yêu cầu phát
triển, ước đạt dưới 10%/năm. Tỉ lệ đầu tư cho R&D trong tổng
doanh thu của các doanh nghiệp chỉ đạt bình quân 0,1 – 0,2%, các
ngành công nghiệp công nghệ cao và công nghệ mũi nhọn, tỉ lệ này
cũng chỉ đạt 0,2 – 0,25% (tỉ lệ này của Ấn Độ năm 2002 đã đạt 5%,
của Hàn Quốc năm 2000 là 10%). Cũng trong thời kỳ 2001 – 2010,
tỉ trọng của một số ngành công nghiệp chế biến sử dụng nhiều kỹ
thuật trong tổng giá trị tăng thêm của toàn ngành công nghiệp vẫn
rất nhỏ và chậm được nâng lên. Chẳng hạn, sản xuất thiết bị điện,
điện tử, chỉ tăng từ 1,6% lên 2,2%, sản xuất thiết bị văn phòng và

3
- Khai thác năng lượng = khai thác thực tế (gồm dầu thô, khí đốt và than) x đơn giá khai thác – Nguồn WDI
(2009)
- Năng xuất lao động xã hội được tính bằng cách chia GDP theo giá thực tế cho tổng số lao động đang làm
việc
- Mức tiết kiệm năng lượng của toàn ngành công nghiệp = Tốc độ tăng về giá trị gia tăng của ngành công

những doanh nghiệp có thương hiệu mạnh, có khả năng cạnh tranh
cao trên thị trường thế giới. Tính đến 31/12/2008, cả nước có trên
400 nghìn doanh nghiệp, với 44 nghìn doanh nghiệp tham gia hoạt
động thương mại quốc tế. Trong đó, số doanh nghiệp Nhà nước đã
giảm từ 5655 DNNN năm 2001 xuống còn gần 1500 DNNN đầu
năm 2010, số vốn bình quân một doanh nghiệp tuy đã được nâng lên
từ mức 24 tỉ đồng lên 333 tỉ đồng trong thời gian tương ứng, nhưng
hiện có khoảng 12% DNNN kinh doanh thua lỗ, phần lớn các
DNNN công nghệ sản xuất chỉ đạt mức trung bình, năng suất lao

4
Đến năm 2003, tỉ lệ xuất khẩu hàng công nghệ cao trong tổng KNXK của Indonexia đã đạt 14%, Thái Lan
đạt 30%, Hàn Quốc đạt 32%, Singapore đạt 57%, Malayxia đạt 59%.
11
động thấp, sức cạnh tranh yếu. Đến nay, chỉ có khoảng 100 tập đoàn
và tổng công ty Nhà nước cùng khoảng 200 doanh nghiệp FDI có
qui mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Còn lại, tuyệt đại đa số là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, khả năng
cạnh tranh quốc tế còn rất yếu. Phần lớn các doanh nghiệp công
nghiệp Việt Nam mới tham gia được vào phân khúc sản xuất, gia
công lắp ráp – tức là các khâu mạng lại giá trị gia tăng thấp nhất
trong chuỗi giá trị. Có rất ít doanh nghiệp tham gia được vào khâu
thiết kế, nghiên cứu và phát triển, tiêu thụ… là những khâu mạng lại
giá trị gia tăng cao.
Lợi thế cạnh tranh động của nền kinh tế chậm được nâng lên,
chủ yếu do những trở ngại về chất lượng nguồn nhân lực thấp, chất
lượng quản trị quốc gia của Chính phủ chưa đáp ứng kịp yêu cầu
quản lý nền kinh tế trong hội nhập quốc tế, và môi trường cạnh tranh
quốc gia chậm được cải thiện. Đến nay, chất lượng nguồn nhân lực
rất thấp, chậm được cải thiện, mất cân đối cung cầu lao động, mất

.
(3) Chất lượng tăng trưởng thấp, cơ cấu kinh tế chậm chuyển
dịch theo hướng kinh tế thị trường hiện đại, kinh tế tri thức chậm
được định hình… tác động đến qui mô, chất lượng tăng trưởng và
hiệu quả xuất khẩu.
Mô hình tăng trưởng vẫn đang chủ yếu dựa vào tăng trưởng
đầu tư, tuy đầu tư tăng nhưng hiệu quả đầu tư thấp và chậm được cải
thiện. Tỉ trọng đầu tư so với GDP đã tăng từ 29,6% năm 2000 lên
trên 40% từ sau năm 2006 (Đài Loan đạt tốc độ tăng trưởng GDP ở
mức 10%/năm trong 18 năm liên tục nhưng tỉ lệ đầu tư so với GDP
chỉ dao động ở mức 25%) đã kéo theo nhu cầu nhập khẩu nguyên
nhiên vật liệu, máy móc thiết bị và phụ liệu cho sản xuất tăng cao,
làm tăng nhập siêu . Hệ só ICOR ngày càng tăng thể hiện nền kinh tế
ngày càng cần nhiều vốn hơn để có tăng trưởng. Tuy giai đoạn 2001
– 2006, hệ số ICOR của Việt Nam bình quân đã là 4,4; sau khi gia
nhập WTO, hệ số này tăng vọt lên 5,3% trong năm 2007, ở mức 6,55
trong năm 2008 và xấp xỉ 7,0 trong năm 2009, cao hơn 2 lần các
nước trong khu vực khi ở những giai đoạn phát triển tương tự như
Việt Nam hiện nay
7
.
Công nghiệp và thương mại là trụ cột, là động lực tăng trưởng
chính của nền kinh tế (đóng góp trên 60% GDP toàn nền kinh tế)
nhưng chất lượng tăng trưởng của ngành công thương đang có xu
hướng giảm xuống. Thời kỳ 2001 – 2010, chỉ số MVA/GO có xu
hướng giảm mạnh từ 38,45% năm 2000 xuống 29,63% năm 2005,
còn 23% năm 2009 và năm 2010 ước chỉ đạt 21,79%; tỉ lệ giá trị gia
tăng so với tổng mức lưu chuyển HHBLXH của thương mại trong
nước cũng không có xu hướng tăng mà chỉ dao dộng ở mức 24% -
29%.

bảo hiểm hàng hóa XNK và các dịch vụ hỗ trợ khác mới hình thành
nên chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển. Trong 3 năm 2005 – 2007,
nước ta đã chi trả 6 tỉ USD cho nước ngoài về chi phí bảo hiểm hàng
hóa XNK, chiếm 35,7% tổng chi dịch vụ cùng giai đoạn và là yếu tố
chính làm thâm hụt cán cân dịch vụ của Việt Nam. Công nghiệp phụ
trợ chậm hình thành và phát triển, nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào
nguyên phụ liệu của nước ngoài (100% - 95% nhiên liệu, 90% công
nghệ, 80% máy móc thiết bị; nguyên phụ liệu sản phẩm điện tử
khoảng 95%, sản phẩm gỗ 80%, thức ăn chăn nuôi 70%; thuốc chữa
bệnh 80%, sản phẩm dệt may và da giày khoảng 70 – 75%, hóa chất
80 – 85%, sản phẩm nhựa 60% ) đã làm giảm khả năng thích ứng
nhanh của nền kinh tế với những biến động của thị trường thế giới.
Kinh tế tượng trưng (hoạt động kinh doanh tiền tệ, chứng khoán, cổ
phiếu và các loại giấy từ có giá khác) tuy mới hình thành nhưng phát
triển nhanh, có tính đầu cơ cao cùng với hiện tượng “bóng bóng” của
thị trường chứng khoán, tình trạng “đô la hóa” và “vàng hóa” của
nền kinh tế chậm được khắc phục… đã tác động tiêu cực đến hoạt
động của khu vực kinh tế thực nói chung (lĩnh vực hoạt động sản

8
Năm 2007 chỉ phí xuất khẩu của Việt Nam (gồm chi phí giấy tờ, hành chính, bốc dỡ, lưu kho, vận chuyển
đường bộ cho 1 contairner 20 ft) là 701 USD/contairner 20 ft, mức trung bình của khu vực là 500 USD, của
Thái Lan là 848 USD, của Trung Quốc là 335 USD, của Malayxia là 481 USD; Nguồn: Doiry Busines 2007,
WB.
14
xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ), hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hóa nói riêng.
Những bất cập, hạn chế chủ yếu nêu trên của nền kinh tế là những
trở lực và thách thức lớn đối với phát triển XNK hàng hóa trong thời
kỳ tới.

9
- Chu kỳ tăng trưởng kinh tế thế giới khoảng 5 – 7 năm. Tính theo giá thực tế trong giai đoạn 1991 – 1995
kinh tế thế giới sau đạt tốc độ tăng trưởng cao, ở mức bình quân 7,6%.năm, đạt đỉnh vào năm 1995 là 10,94%
sau đó suy giảm trong giai đoạn 1996 – 2001 với tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ đạt 1,23%/năm
- Kinh tế Việt Nam sau khi đạt tốc độ tăng trưởng cao ở mức bình quân 8,2%/năm trong giai đoạn 1991 –
1995 đã giảm tốc và chỉ đạt bình quân 6,9%/năm trong giai đoạn 1996 - 2000
15
đến năm 2010 là 9,6%). Về chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu
giai đoạn 2001 – 2005, tỉ trọng các thị trường Châu Á đã giảm mạnh
từ 60,5% năm 2001 xuống 50,5% năm 2005 (đạt mục tiêu chiến lược
đến năm 2010); tỉ trọng của thị trường Châu Âu giảm mạnh từ
25,5% xuống 18% trong thời gian tương ứng (mục tiêu cần tăng tỉ
trọng); tỉ trọng của thị trường Bắc Mỹ tăng đột biến từ 7,8% năm
2001 lên 19,3% năm 2005 (vượt mục tiêu tăng tỉ trọng đến năm
2010).
Bảng 1 dưới đây cho thấy, các chỉ tiêu phản ánh qui mô xuất khẩu
hàng hóa đều vượt mục tiêu chiến lược nhưng các chỉ tiêu phả ánh
chất lượng tăng trưởng và phát triển xuất khẩu đều chưa đạt mục tiêu
chiến lược đã đề ra. Phần lớn các chỉ tiêu về chuyển dịch cơ cấu thị
trường xuất khẩu đã không đạt được và không đúng với định hướng
(tăng tỉ trọng của EU, Nhật Bản , giảm tỉ trọng của ASEAN, Úc và
Niudilân)
Bảng 1: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu về
phát triển xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2005

1. KNXK (triệu USD)
TH 2000
14.482,7
TH 2005
32.447,1

16
- Châu Á 60,65% 50,5% 46 – 50% Giảm, vượt mức, tốt
+ Nhật Bản 16,7% 13,3% 17 – 18% Giảm, không đạt
yêu cầu
+ ASEAN 17,0% 17,7% 15 – 16% Tăng, không tốt
+ Trung Quốc, Đài
Loan, Hồng Kông
15,8% 13,9% 14 – 16% Đạt
+ Riêng Trung Quốc 9,4% 9,6% 5,5 – 7,3% Tăng vượt mức
- Châu Âu 25,3% 18% 27 – 30% Chưa đạt, không tốt
+ EU (15) 20,0% 16% 25 - 27% Chưa đạt, không tốt
- Châu Mỹ 9,3% 22% Vượt mức, tốt
+ Bắc Mỹ 7,8% 19,4% 15 – 20% Vượt mức, tốt
+ Hoa Kỳ 7,1% 18,2% Vượt mức, tốt
- Úc và NiuDilân 6,8% 8,0% 5 – 7% Vượt mức, không
tốt
- Các khu vực khác 1,1% 2,5% 2 – 3% Đạt yêu cầu
Nguồn: Tính toán từ nguồn số liệu của Tổng cục Thống kê và số liệu xuất khẩu của
Tổng cục Hải quan
Do phần lớn các chỉ tiêu phát triển xuất khẩu trong chiến lược
phát triển XNK 2001 – 2010 chưa sát với thực tiễn và để phù hợp
với bối cảnh mới (Việt Nam gia nhập WTO, ký kết các FTA khu
vực, kinh tế thế giới và Việt Nam tăng trưởng cao…), ngày 30 tháng
6 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số
156/2006/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn
2006 – 2010”. Trong đó, đã điều chỉnh một số mục tiêu phát triển
xuất khẩu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa bình quân
17,5%/năm, đến năm 2010 đạt khoảng 72,5 tỉ USD; đến năm 2010,
xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chiếm khoảng 13,7%,
nhóm nhiên liệu – khoáng sản chiếm 9,6%, nhóm hàng công nghiệp

Ngân hàng và các tổ chức tài chính tín dụng v.v… Mặt khác, việc
thực hiện các cam kết gia nhập WTO ( tháng 11/2006) và các cam
kết FTA (AFTA, ACFTA, AKFTA, AJCEP, VJEPA, AANZFTA,
AITIG), bên cạnh những tác động có lợi cũng có những hiệu ứng bất
lợi cho xuất khẩu của ta như là sự chuyển hướng thương mại, cơ cấu
xuất khẩu không chuyển dịch theo mong muốn của ta trong chiến
lược và Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010.
Trước bối cảnh và tình hình đó Đảng và Nhà nước đã có nhiều
chủ trương, quyết sách và biện pháp điều hành tích cực để ổn định
kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu. Trong đó,
có các văn bản quan trọng như Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày
05/02/2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương

10
Giá xuất khẩu dầu thô năm 2007 tăng 11,5% so với năm 2006 và năm 2008 tăng 33,6% so với 2007; giá
xuất khẩu than đá năm 2008 tăng gấp 2,3 lần so với năm 2007; giá xuất khẩu hạt tiêu năm 2007 tăng gấp 2 lần
năm 2006; giá xuất khẩu cà phê năm 2007 tăng gấp 25,4% so với năm 2006 và năm 2008 tăng 28,1% so với
2007; giá hạt điều năm 2008 tăng 75,4% so với năm 2007; giá gạo năm 2008 cũng tăng 87,5% so với 2007.
18
Đảng khóa X về “một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế
phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên Tổ chức
thương mại thế giới”; Nghị quyết số 16/2007/ NQ-CP của Chính phủ
ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị
quyết số 08/NQ/TW của Đảng. Tiếp theo việc thực hiện Nghị quyết
30/2008/NQ-CP về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy
giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội,
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP về những giải pháp
chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2009, cùng một loạt các
chính sách cụ thể nhằm kích thích kinh tế như Quyết định 131/QĐ-

2010 đạt bình quân 17%/năm, cao hơn mục tiêu trong Chiến lược
phát triển XNK 2001 – 2010 (14%/năm) nhưng thấp hơn mục tiêu
tăng trưởng xuất khẩu đã đề ra trong Đề án phát triển xuất khẩu giai
đoạn 2006 – 2010 (17,5%/năm). Tổng hợp kết quả thực hiện các
mục tiêu chiến lược phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010
(Bảng 2) cho thấy, phần lớn các chỉ tiêu phản ánh qui mô và chất
lượng tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa cũng như các chỉ tiêu về
chuyển dịch cơ cấu thị trường xuất khẩu đều chưa đạt mục tiêu đã
đề ra trong Đề án phát triển xuất khẩu 2006 – 2010.

Bảng 2: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu phát triển xuất khẩu
giai đoạn 2006 – 2010
1. Tốc độ tăng
trưởng KNXK bình
quân năm (%)
Thực hiện 2006 – 2010: 17%/năm Chưa đạt
yêu cầu
Mục tiêu Đề án PTXK 2006 – 2010: 17,5%/năm
2. Kim ngạch XK
(Tr USD)
TH 2006
32.447
TH 2008
62.685
Ước TH 2010
71.000
Mục tiêu ĐA 2010
72.500
Chưa đạt
yêu cầu

chưa đạt
- Thị trường khác 1,0% 2,1% 2,5% 3%
2.2 Đối với nhập khẩu hàng hóa
Tư tưởng chủ đạo và mục tiêu tổng quát về phát triển nhập
khẩu trong “Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 –
2010” là: “Chú trọng nhập khẩu thiết bị nguyên vật liệu phục vụ sản
xuất, nhất là công nghệ tiên tiến”. “tiết kiệm ngoại tệ trong nhập
khẩu, chỉ nhập khẩu những hàng hóa cần thiết, máy móc thiết bị
công nghệ mới… phải giữ được thế chủ động trong nhập khẩu, kiềm
chế được nhập siêu và giảm dần tỉ lệ nhập siêu tiến tới sớm cân bằng
xuất nhập và xuất siêu”. Về cơ bản, đây là tư tưởng và định hướng
đúng trong tầm dài hạn, phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2001 – 2010 và phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy thế, do chưa bám
sát các dự báo chu kỳ tăng trưởng kinh tế thế giới và kinh tế Việt
Nam
11
, sự biến động tăng giá nguyên nhiên vật liệu trên thị trường
thế giới, tác động của đầu tư tăng cao và xu hướng tiêu dùng trong
nước đến nhập khẩu hàng hóa, và hiệu ứng chuyển hướng thương
mại của các FTA được ký kết (tăng mức độ tập trung nhập khẩu tại
khu vực thị trường đã ký FTA) cùng các nguyên nhân khác… nên
việc dự báo và xác định các chỉ tiêu cụ thể về qui mô, tốc độ nhập
khẩu và cơ cấu nhập khẩu hàng hóa trong Chiến lược phát triển
XNK thời kỳ 2001 – 2010 chưa sát với thực tế.
Bảng 3 dưới đây cho thấy, hầu hết các chỉ tiêu về qui mô, tốc
độ tăng trưởng nhập khẩu, cơ cấu hàng hóa nhập khẩu và thị trường
nhập khẩu không phù h ợp với mục tiêu Chiến lược đã đề ra cho cả

11

2000
TH: 2005

Mục tiêu
CL2005
TH:
2008
Ước TH:
2010
Mục tiêu
CL2010
Vượt
mức,
chưa đạt
mục
tiêu
15,63
36,76 29,20 80,71 83,0 53,70
3. Cơ cấu hàng
NK(%)
100 100 100 100 100 100

Chưa
đạt mục
tiêu
- Nhóm máy
móc thiết bị và
công nghệ
27 18,9 16,9 16-17
(8T)

- Châu Á
80% 81 - 82,2 78 (6T) 55%
- Các thị trường
cung ứng công
nghệ nguồn
(Nhật, EU, Bắc
Mỹ)
26% 20,5
(7.525)
- 20,2
(16320,
6)
22 (6T) 40%
5. Nhập siêu (tr
USD)
1.147 4.313 800 17.000 14.000 Xuất siêu
1 tỉ USD
Chưa
đạt mục
tiêu

II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN XNK THỜI KỲ
2001 – 2010
1. Những thành tựu chủ yếu
(1) Xuất khẩu hàng hóa đã đạt tốc độ tăng trưởng nhanh hơn
2,4 lần tốc độ tăng trưởng GDP, góp phần quan trọng vào tăng
trưởng chung của nền kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập
của hàng triệu lao động
Thời kỳ Chiến lược 2001 – 2010, tăng trưởng kim ngạch xuất
khẩu hàng hóa bình quân 17,3%/năm, nhanh hơn tốc độ tăng trưởng

Xuất khẩu cũng là động lực của khu vực công nghiệp, góp
phần chuyển dịch cơ cấu các ngành công nghiệp hướng về xuất
khẩu. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp thời kỳ 2001 –
2010 bình quân đạt 15%/năm, giá trị gia tăng công nghiệp luôn tăng
nhanh hơn tốc độ tăng GDP khoảng 1,4 lần, đạt nhịp độ tăng trưởng
11%/năm (mục tiêu Chiến lược là 10 – 10,5%/năm). Tỉ trọng hàng
công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 71% trong
năm 2000 lên 76,3% trong năm 2007 và ước chiếm gần 80% trong
năm 2010 (mục tiêu Chiến lược 70 - 75%).
Trong điều kiện mô hình tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào
tăng trưởng đầu tư, xuất khẩu hàng hóa trở thành kênh dẫn quan
trọng trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy hội nhập
kinh tế quốc tế. Khoảng 55% tổng số dự án và trên 50% tổng số vốn
FDI đã được thu hút vào các ngành công nghiệp chế biến chế tạo
xuất khẩu. Số doanh nghiệp FDI trực tiếp tham gia xuất khẩu tăng
nhanh từ 1.854 doanh nghiệp trong năm 2003 lên 3.272 doanh
nghiệp trong năm 2007 và khoảng 3500 doanh nghiệp trong năm
2010, chiếm gần 20% tổng số doanh nghiệp xuất khẩu cả nước. Các
doanh nghiệp FDI là chủ thể chính, có vai trò ngày càng lớn trong
xuất khẩu hàng hóa, tỉ trọng của khu vực FDI trong tổng kim ngạch
24
xuất khẩu đã tăng từ 45,2% trong năm 2001 lên 57,5% trong năm
2007 và khoảng 47% trong năm 2010.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân đầu người đã tăng từ
mức 175 USD trong năm 2000 lên 750 USD trong năm 2010, rút
ngắn dần khoảng cách chênh lệch so với một số nước trong khu vực.
Tăng trưởng xuất khẩu đã góp phần tạo việc làm và thu nhập cho
hàng triệu lao động, nâng cao đời sống của nhân dân. Trong điều
kiện xuất khẩu dịch vụ chưa phát triển, xuất khẩu hàng hóa là thành
phần đóng góp chính tạo lập và hạn chế thâm hụt cán cân thanh toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status