vai trò của nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam 1 - Pdf 10

PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Như trước đây chúng ta đã biết thì khi mà nhà Nguyễn thực thi chính
sách ''Bế quan tỏa cảng'' thì nền kinh tế của đất nước đã trải qua thời kì rất
kém phát triển.Tổng kết được những kinh nghiệm của các giai đoạn trước đó
thì Đảng và Nhà nước ta đã thực thi chính sách mở cửa thị trường,hội nhập
kinh tế quốc tế và đã đạt được những thành quả nhất định.Đặc biệt trong xu
thế toàn cầu hóa hiện nay thì việc mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên
thế giới là vô cùng cấp bách và quan trọng.Trong một nền kinh tế hiện đại,bên
cạnh bàn tay vô hình là cơ chế thị trường thì luôn có cả bàn tay hữu hình là
nhà nước.Chính nhờ những sự can thiệp có hiệu quả của nhà nước ma kinh tế
nước ta mới có những bước tiến như hiện nay.Và quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế của nước ta hiện nay cũng không thể thiếu vai trò của nhà nước.Chính
vì thấy được vai trò quan trọng của nhà nước đối với hội nhập kinh tế quốc tế
nên tôi đã chọn đề tài này để viết.
1
PHẦN II: THỰC TRẠNG HIỆN NAY:
Hiện nay chúng ta đã tham gia rất nhiều tổ chức kinh tế trên thế giới như
tổ chức thương mại thế giới WTO,ASEAN,APEC,ASEM qua đó mở rộng
quan hệ hợp tác với nhiều nước trên thế giới.Có thể nói lợi ích mà hội nhập
kinh tế thế giới đem lại là rất lớn.Trước hết kinh tế Việt Nam có cơ hội phát
triển khi có thể tự do trao đổi hàng hóa,đối xử công bằng như hàng hóa của
các nước khác,mở rộng thị trường buôn bán,trao đổi.Lợi ích thì ai cũng thấy
rõ nhưng không phải ai cũng biết đến những khó khăn do hội nhập kinh tế
quốc tế đem lại.
Hội nhập kinh tế quốc tế là thách thức với mọi nền kinh tế,kể cả các nền
kinh tế có trình độ cao hơn Việt Nam.Thách thức này càng khắc nghiệt hơn
khi chúng ta là một nước đang phát triển đồng thời là nền kinh tế chuyển đổi.
Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra thị trường rộng lớn để xuất khẩu hàng hóa và
dịch vụ; tạo điều kiện cho ta tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ
quản lý; các khoản vay ưu đãi từ các nước… Đây là những nguồn lực to lớn
góp phần đưa nền kinh tế nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ trong

sẽ phải có sự thay đổi theo hướng công khai hơn, minh bạch hơn và hiệu quả
hơn. Đó phải là nền hành chính vì quyền lợi chính đáng của mọi người dân,
trong đó có doanh nghiệp và doanh nhân,lấy người dân, doanh nghiệp, doanh
nhân làm trọng tâm phục vụ, khăc phục mọi biểu hiện trì trệ, thờ ơ và vô trách
nhiệm. Nếu không tạo ra được một nền hành chính như vậy thì chẳng những
không tận dụng được các cơ hội do hội nhập kinh tế nói chung và việc gia
nhập WTO nói riêng đem lại mà cũng không chống được tham nhũng, lãng
phí nguồn lực.
3
Năm là, để bảo đảm tiến trình hội nhập đạt hiệu quả, bên cạnh quyết tâm
về chủ trương,cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và đội ngũ
doanh nhân đủ mạnh. Đây cũng là một thách thức to lớn đối với Việt Nam do
phần đông cán bộ của ta còn bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành nền kinh tế
mở, có sự tham gia của yếu tố nước ngoài. Nếu không có sự chuẩn bị phù
hợp, thách thức này sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc
phục.
Sáu là, hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến sự hợp tác về an ninh và văn
hóa. Đồng thời, việc mở cửa thị trường, mở rộng giao lưu trong điều kiện
bùng nổ thông tin hiện nay, bên cạnh nhiều mặt tốt, những cái xấu cũng du
nhập vào, đòi hỏi các cấp lãnh đạo, quản lý và mọi người dân phải nâng cao
bản lĩnh chính trị,giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nhằm nâng cao sức đề
kháng, chống lại sự tha hóa, biến chất, chống lại lối sống hưởng thụ, tự do tư
sản…
Trước những khó khăn và cơ hội như vậy,chúng ta hãy cùng xem xét
thực trạng hoạt động quản lý của nhà nước đối với kinh tế trong quá trình hội
nhập quốc tế:
Tại Việt Nam,nhà nước có sự quan tâm không đồng đều tới các vấn đề
kinh tế.Có hoạt động được quan tâm nhiều và đã đạt được những thành tựu
đáng ghi nhận như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài,hoạt động xuất nhập
khẩu.Có hoạt động còn nhiều hạn chế như hoạt động chuyển giao công

này gọi là''trên nhoáng,dưới bó''.
Như vậy,trong hội nhập kinh tế quốc tế,dưới tác động của nhà nước kinh
tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.Tuy nhiên trong những
năm tiếp theo,Nhà nước cần có phương hướng,biện pháp hoàn thiện quản lý
nhà nước để mở rộng quy mô và phát triển kinh tế.
5
PHẦN III. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỂ TĂNG CƯỜNG VAI
TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
*Trước hết nhà nước cần bảo đảm ổn định về chính trị và phát triển kinh
tế trong nước.Để phát triển hội nhập kinh tế quốc tế điều kiện tiên quyết là
giữ vững môi trường hòa bình và hữu nghị với các nước trong khu vực và trên
thế giới,tạo bầu không khí thuận lợi cho các hoạt động đầu tư kinh tế từ nước
ngoài.Bảo đảm sự ổn định vĩ mô nền kinh tế,trong đó chú ý bảo đảm tỷ giá
hối đoái ổn định và phù hợp,khắc phụctình trạng nhập siêu cao và kéo dài,bảo
đảm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế nhằm làm tăng sức hấp dẫn môi
trường đầu tư và kinh doanh
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ,tiếp tục cải cách
hành chính,nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong hội nhập kinh tế quốc
tế.Phải xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ,nhất quán,ít thay đổi,đồng thời
phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng
cho các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Pháp luật phải đi vào đời sống của kinh tế dối ngoại một cách nghiêm
túc.Các công chức thực thi hoạt động kinh tế đối ngoại phải căn cứ vào luật
pháp,không gây trở ngại cho đối tác.
Kiện toàn bộ máy quản lý theo hướng gọn nhẹ,có hiệu lực.
Thực hiện quản lý ''một cửa'' cho các hoạt động kinh tế đối ngoại khắc
phục sự chồng chéo,phiền hàđùn đẩy trong các thủ tục hành chính.
Sau khi tạo dựng được môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thông
thoáng,hấp dẫn,vấn đề then chốt,có tính quyết định là việc chỉ đạo điều hành
tập trung thống nhất và kiên quyết của Chính Phủ,việc nghiêm túc thực hiện

chấm dứt sự kiểm tra tùy tiện,hết sức tránh hình sự hóa các quan hệ kinh tế
7
của doanh nghiệp.Đồng thời vẫn phải bảo đảm giám sát được doanh nghiệp
và áp dụng các chế tài đối với sự vi phạm pháp luật của doanh nghiệp.
Cần triệt để và kiên quyết hơn trong việc quy định rõ ràng,minh bạch các
thủ tục hành chính ở mọi khâu,mọi cấp,công khai các quy trình,thời hạn trách
nhiệm xử lý các thủ tục hành chính nhằm tạo lên sự chuyển biến căn
bản,mạnh mẽ về cải cách hành chính trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
*Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng tốt là tiền đề để phát triển kinh tế trong giai đoạn hội
nhập kinh tế quốc tế nói riêng và phát triển kinh tế đất nước nói chung.Mặc
dù còn gặp nhiều khó khăn nguồn vốn đầu tư phát triển còn hạn chế nhưng
kết cấu hạ tầng cần đi sớm một bước để mở đườngcho kinh tế đối ngoại phát
triển.Trong kết cấu hạ tầng có cơ sở hạ tầng kinh tế-kĩ thuật,gồm năng
lượng,sân bay,bến cảng,hệ thống đường giao thông,hệ thống thông tin liên
lạc,cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp,khu chế xuất.Đồng thời phải chuy ý
phát triển cơ sở hạ tầng văn hóa-xã hội,tạo điều kiện thuận lợi cho người nước
ngoài sinh sống như các trung tâm y tế công nghệ cao,trung tâm tin học tập
cho con em người nước ngoài,trung tâm vui chơi giải trí…
*Chú trọng công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lí,chuyên gia
kĩ thuậ và đội ngũ công nhân kĩ thuật:
Trong hoạt động kinh tế thời kì hội nhập kinh tế,công tác cán bộ đặc biệt
quan trọng vì cán bộ vừa là người tham gia hoạch định chính sách vừa là
người tham gia vận dụng luật pháp,chính sách để xử lí tác nghiệp hàng ngày
liên quan dến mọi hoạt động kinh tế đối ngoại.Cán bộ quản lí Việt Nam trong
các liên doanh đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của nhà nước
Việt Nam,của người lao động,đảm bảo doanh nghiệp hoạt động theo đúng
pháp luật.nói chung,phải đặc biệt chú trọng đến công tác đào tạo bỗi
dưỡngnâng cao phẩm chất chính trị,đạo đức năng lực trình độ chuyên môn
cho các cán bộ của đội ngũ công chức nhà nước đang hoạt động trong các lĩnh

của dân cư.Giai đoạn tiếp theo là cân bằng giữa xuất khẩu với nhập khẩu để
từ đó hướng tới xuất siêu.
Đối với NHẬP KHẨU:
Tăng cường vai trò của Nhà Nước của các Bộ trong việc mở rộng thị
trường.Trong quá trình đàm phán hợp tác kinh tế song phương,đa phương cần
đặt vấn đề về mở cửa thị trường cho Việt Nam trên cơ sở các bên đều có
lợi.Ví dụ,trong quá trình đàm phán với EU để được tăng thêm hạn ngạch hàng
đẹt may 26% trong 3 năm và mặt hàng thủy sản lên nhóm 1 cho 28 doanh
nghiệp của Việt Nam trong số 33 doanh nghiệp do Việt Nam đề nghị,chúng ta
phải chấp nhận mở cửa thị trường cho EU như giảm danh mục dược phẩm
không cho nhập khẩu vào nước ta.Bộ Thương Mại là cục xúc tiến thương mại
cần tích cựctổng hoạp thông tin về thị trường để thông báo cho các địa
phương cung như tạo mọi điều kiện để địa phương đi tìm hiểu thị trường,tham
gia các hội chợ để giới thiệu sản phẩm,tăng thêm cơ hội xuất nhập khẩu hàng
hóa ngày càng có hiệu quả.
*Hoàn thiện quản lý nhà nước về chuyển giao công nghệ
Nước ta là nước đang phát triển quá trính công nghiệp hóa hiện đại hóa
vẫn còn tiếp tục.Vì vậy để có thể hoàn thành tốt công cuộc có ý nghĩa vô cùng
quan trọng này nhà nước của ta cần phải tích cực nhập trang thiết bị máy móc
kĩ thuật từ nước ngoài.Tuy nhiên việc lựa chọn được trang thiết bị tốt không
phải vấn đề đơn giản.Chính vì thế mà Nhà nước cần phải tăng cường quản lí
về thẩm định công nghệ.Hầu hết các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đều có
kèm theo nội dung chuyển giao công nghệ.Cần khắc phục tình trạng trước
đây,như ở thời điểm có 2300 dự án đầu tư trực tiếp nước ngaòi nhưng chỉ có
95 hồ sơ chuyển giao công nghệ xin được thẩm định.Bộ kế Hoạch và Đầu
tư,ủy ban nhân dân cấp Tỉnh,Ban quản lí các khu công nghiệp,khu chế xuất –
gọi chung là cơ quan cấp giấy phép đầu tư,khi cấp giấy phép cho dự án nào
10
cần quan tâm đến nội dung góp vốn bằng công nghệ,đồng thời có sự phối hợp
chặt chẽ cới vụ Định giá,thẩm dịnh và giám định công nghệ của Bộ Khoa Học

đoạn đó thường diễn ra nhẹ nhàng, kéo dài không lâu khoảng một năm hoặc
ngắn hơn. Tuy nhiên, lịch sử vẫn chưa quên thời kỳ trầm trọng của siêu lạm
phát ở Đức những năm 20, đặc biệt cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới những
năm 30 của thế kỷ XX, khi cả thế giới lâm vào tình trạng thất nghiệp.
Chính sách tài chính bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu ngân sách
của Nhà nước nhằm điều tiết chu kỳ kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, ổn
định giá cả và tăng trưởng liên tục của nền kinh tế. Trong những thời kỳ kinh
tế suy giảm, chính sách tài chính có tác dụng kích cầu và sản xuất bằng cách
Chính phủ tăng mua, giảm thuế, do đó tạo ra được một thu nhập quốc dân khả
dụng lớn hơn để đưa vào luồng tiêu đùng. Còn trong những thời kỳ kinh tế
"quá nóng", chính phủ làm ngược lại. Để cân bằng lại những biện pháp tài
chính cố ý này, Nhà nước tạo ra nhưng cái gọi là cơ chế ổn định, như thuế thu
nhập luỹ tiến và phụ cấp thất nghiệp. Chính sách tài chính được điều hành
một cách độc lập với chính sách tiền tệ là chính sách nhằm điều tiết hoạt động
kinh tế bằng cách kiểm soát việc cung ứng tiền.
Khi tăng chi tiêu vào thời điểm thất nghiệp cao và lạm phát thấp, Nhà
nước đã tăng cung ứng tiền, dẫn tới giảm lãi suất (tức giám giá đồng tiền),
nhờ đó ngân hàng mới có nhiều điều kiện cho vay và chi tiêu cho tiêu dùng
được tăng lên. Điều đó có nghĩa là kích cầu vì tiêu dùng là bộ phận cấu thành
lớn nhất và ổn định nhất của tổng cầu. Lãi suất thấp, đồng thời khuyến khích
đầu tư, các chủ doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, thuê thêm công nhân.
Trong thời kỳ lạm phát cao và thất nghiệp thấp thì ngược lại, Nhà nước “làm
nguội" nền kinh tế bằng cách tăng lãi suất, giảm cung ứng tiền. Cùng với việc
giảm tiền và tăng lãi suất, cả chỉ tiêu lẫn giá cả đều có xu hướng giảm hoặc ít
12
nhất, nếu có tăng thì cũng rất chậm, và kết quả là thu hẹp lại sản lượng và
việc làm.
Trước năm 1960, chính sách tài chính và tiền tệ không được áp dụng
rộng rãi để ổn định các chu kỳ kinh doanh. Ngày nay, trừ các trường hợp liên
quan tới thiên tai và thảm hoạ chiến tranh, các chính sách này đã trở thành

PHẦN IV: TỔNG KẾT
Những thành tựu và những hạn chế của kinh tế Việt Nam trong giai đoạn
hội nhập quốc tế gắn liền với hoạt động quản lý của Nhà Nước.Trước thực
tiễn nêu trên và những đòi hỏi trong bối cảnh nền kinh tế Việt nam đang trong
tiến trình hội nhập kinh té khu vực và kinh tế thế giới,vấn đề nâng vao hiệu
quả quản lí của Nhà nước nhằm mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại nước
ta đang là một đòi hỏi khách quan.Hoạt động kinh tế quốc tế nằm ở nhièu
ngành kinh tế quốc dân và quản lí Nhà nước một mặt căn cứ vào hệ thống
pháp luật và chính sách hiện hành ,mặt khac phải quan tâm đến luật pháp của
nước đối ác và thông lệ quốc tế.Đồng thời,hoạt động quản lí nhà nước về hợp
tác kinh tế quốc tế đòi hỏi phải quán triệt những quan điểm,đường lối của
Đảng. và nắm vững những xu hướng vận động của nền kinh tế quốc tế cùng
các quan hệ kinh tế quốc tế biến động và phát sinh.Mong muốn rằng Nhà
Nước sẽ không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo của mình trong thời kì hội
nhập kinh tế quốc tế.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế Chính Trị
2. Chính sách kinh tế đối ngoại - lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế
3. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc 6, 7, 8
4. Thời báo kinh tế Việt Nam
5. Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới
6. Kinh tế Việt Nam -NXB Hà Nội, 1993
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status