Tài liệu LUẬN VĂN: Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001 – 2005 ở Việt Nam và giải pháp thực hiện - Pdf 10

LUẬN VĂN:
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế thời kỳ 2001 – 2005 ở Việt
Nam và giải pháp thực hiện
LờI Mở ĐầU

Kết quả của công trình nghiên cứu và nhiều hội thảo khoa học , cùng với kinh
nghiệm trong quá trình phát triển kinh tế , ở các nước trên thế giới và ở nước ta đều
cho rằng . Việc xác định đường lối ,chiến lược phát triển kinh tế của một đất nước là
yếu tố quan trọng và quyêt định đến sự thành công hay thất bại trong quá trình phát
triển kinh tế . Trong đó , việc chuyển dich cơ cấu kinh tế là một trong những vấn đề
hết sức quan trọng trong giai đoạn hiên nay .
Sau 15 năm đổi mới của đảng ( từ 1986- nay ) và 10 măm thực hiện chiến lược ổn
định và phát triển KT- XH ( 1991 - 2000 ), nền kinh tế nước ta đã ra khỏi tình trạng
khủng hoảng và đi vào phát triên nhanh và ổn định , cơ cấu kinh tế đã có bước
chuyển dịch tích cực theo đúng hướng , phù hợp với quá trình CNH- HĐH .

- Cơ cấu kinh tế là tổng thể các nhóm ngành, các yếu tố cấu thành hệ thống kinh
tế của một quốc gia.
- Số lượng và tỷ trọng của các nhóm ngành và của các yếu tố cấu thành hệ
thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nước.
- Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tố…
hướng vào các mục tiêu đã xác định. Cơ cấu kinh tế còn là một phạm trù trừu tượng.
*Các bộ phận cấu thành:
Muốn nắm vững bản chất của cơ cấu kinh tế và thực thi các giải pháp nhằm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể
của nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu kinh tế gồm 3 bộ phận cơ bản hợp thành và có quan hệ chặt chẽ với nhau:
- Cơ cấu ngành kinh tế.
- Cơ cấu thành phần kinh tế.
- Cơ cấu lãnh thổ.
Trong đó cơ cấu kinh tế có vai trò quan trọng hơn cả. Cơ cấu ngành và thành phần
kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên
phạm vi cả nước. Mặt khác, việc phân bố không gian lãnh thổ một cách hợp lý có ý
nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên lãnh thổ. 1.2-Cơ cấu ngành kinh tế.
*KháIniệm:
Cơ cấu ngành kinh tế là một trong những bộ phận cấu thành cơ cấu kinh tế. Nó là
tổng hợp các ngành kinh tế được hình thành và mối quan hệ giữa các ngành đó với
nhau, biểu thị bằng vị trí và tỷ trọng của mỗi ngành đó trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền
kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành
là nét đặc trưng của các nước đang phát triển.
*Các chỉ tiêu đánh giá:
-Chỉ tiêu về lượng: tỷ trọng các ngành so với tổng thể các ngành của nền kinh tế

*Khái niệm:
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình phát triển của các ngành kinh tế
dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối quan hệ tương
quan giữa chúng so với một thời điểm trước đó.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự thay đổi có cơ cấu ngành kinh tế từ
dạng này sang dạng khác phù hợp với sự phát triển của phân công lao động xã hội, phù
hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và các nhu cầu trong xã hội.
*Nội dung chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đem tính khách quan thông qua những nhận
thức chủ quan của con người, những nhận thức đó được thể hiện qua những tác động
vào cơ cấu kinh tế cũ nhằm:
+ Hoàn thiện cơ cấu cũ.
+ Bổ sung cơ cấu cũ.
+ Sửa đổi cơ cấu cũ.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế gồm các nội dung cơ bản:
- Điều chỉnh cơ cấu các ngành trong toàn bộ nền kinh tế: về tỷ và
vị trí của từng ngành.
- Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành.
- Chuyển dịch cơ cấu nội bộ từng ngành.
*Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:
Xuất phát từ đánh giá thực trạng nền kinh tế và xu thế CDCC kinh tế của các
nước, mà mỗi nước cần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cần phải chuyển dịch cơ cấu
theo xu hướng: - Giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, không ngừng gia tăng công nghiệp và
dịch vụ trong đó tỷ trọng dịch vụ tăng nhanh hơn.
- Cơ cấu ngành chuyển dịch theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Chuyển dịch cơ cấu ngành theo xu thế hội nhập quốc tế.
ở nước ta, hiện nay vẫn đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá,

việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Bởi lẽ, thị trường là yếu tố
hướng dẫn và điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi
doanh nghiệp phải hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung cấu hàng hoá trên
thị trường để định hướng chiến lược và chính sách kinh doanh của mình. Sự hình
thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nước như: thị trường hàng hoá,
dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học và công nghệ…) có
tác động mạnh đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
- Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước điều tiết các loại
thị trường thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô. Hình thành và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng nào phụ thuộc vào chiến lược và các định hướng phát triển của Nhà
nước trong từng thời kỳ và có tính đến các yếu tố trong bối cảnh mở cửa và hội nhập
quốc tế.
*Các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nước là cơ sở để hình thành và chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế một cách bền vững và có hiệu quả.
-Trước hết, việc xác định các ngành mũi nhọn, các ngành cần ưu tiên phát triển
phải dựa trên cơ sở xác định lợi thế so sánh và các nguồn lực (cả trong và ngoài nước
có khả năng khai thác) để chuyển hướng mạnh mẽ sang phát triển các ngành mà nước
ta có lợi thế và có điều kiện phát triển mới tạo đà tham gia có hiệu quả vào phân công
lao động quốc tế.
-Sự đa dạng và phong phú của nguồn tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện tự
nhiên ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là nhân tố
phải tính đến trong quá trình hoạch định chiến lược cơ cấu.
-Dân số, lao động được xem như là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế.
Sự tác động của nhân tố này lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế được xem xét trên bề mặt chủ yếu sau:
+ Kết cấu dân cư và trình độ dân trí, vì khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật
mới… là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao và nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các ngành đang hoạt động.
Xét về thực tế ở nước ta đã có những khả năng để ứng dụng lý thuyết này: - Thành thị và nông thôn đã tách biệt, có sự phân công bước đầu để hình
thành cơ cấu kinh tế.
- Năng suất lao động nông nghiệp đủ để cung cấp sản phẩm “tất yếu” cho
các ngành và có thể chuyển lao động nông thôn ra thành thị.
- Kinh tế thị trường mới hình thành nên cơ cấu tự nó phát triển còn những
khiếm khuyết.
- Kinh tế mở, hội nhập bắt đầu vào phân công lao động quốc tế, chi phối
cơ cấu kinh tế trong nước.
3.2-Lý thuyết về tái sản xuất tư bản xã hội của Mác xít.
Học thuyết này phân tích mối quan hệ giữa các ngành sản xuất trong quá trình vận
động và phát triển. Nội dung cơ bản của học thuyết này là: “Sản xuất TLSX để chế tạo
TLSX tăng nhanh nhất; sau đó đến sản xuất TLSX để chế tạo TLSX; và chậm nhất là
sự phát triển của sản xuất TLSX”. Khi nghiên cứu lý thuyết về tái sản xuất tư bản xã
hội, Mac đã đặt ra những điều kiện cần thiết để áp dụng gồm:
- Phải giả định kinh tế không có ngoại thương.
- Không coi dịch vụ là một ngành sản xuất.
- Phân ngành trìu tượng.
- Khu vực I (sản xuất TLSX) tăng nhanh hơn khu vực II (sản xuất TLTD)
Như vậy, hiện nay nền kinh tế nước ta đã vận động khác xa với những giả định trên
của Mác. Hiện nay Việt Nam có nền kinh tế mở, coi dịch vụ là một ngành sản xuất và
đi vào cách phân ngành cụ thể. Đồng thời, nền kinh tế nước ta vẫn còn mang dáng dấp
của một nước nông nghiệp do đó không thể áp dụng công thức ưu tiên phát triển khu
vực I (công nghiệp nặng) để hình thành cơ cấu mới.
3.3-Lý thuyết của trường phái kinh tế học thuộc trào lưu chính: “Kinh tế học
thuộc trào lưu chính” là một trong những trường phái kinh tế lớn nhất hiện nay vì đối
tượng của trường phái này là các nền kinh tế thị trường phát triển nên về phương diện
nào đó, có thể thấy bằng vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế không phải là mục

- Giai đoạn chuyển tới sự chín muồi: Giai đoạn này, tỷ lệ đầu tư trên
thương nghiệp quốc doanh đạt tới mức cao (10 – 20%) và xuất hiện nhiều cực tăng
trưởng mới.
- Kỷ nguyên tiêu dùng hàng loạt: là giai đoạn kinh tế phát triển cao sản
xuất đa dạng hoá, thị trường linh hoạt và có hiện tượng suy giảm nhịp độ tăng trưởng
kinh tế. Thông qua những tiêu chuẩn trong từng giai đoạn, chúng ta có thể thấy nước ta đang
ở giai đoạn tạo tiền đề cất cánh và chuẩn bị sang giai đoạn “cất cánh”, lý thuyết này
cho phép ta xác định được những tiêu chuẩn cần đạt được trong giai đoạn cất cánh, và
để xác định những tiền đề cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý cho mỗi giai
đoạn.
3.5-Vấn đề cơ cấu kinh tế trong lý thuyết nhị nguyên:
Lý thuyết nhị nguyên cho rằng các nền kinh tế có hai khu vực song song tồn tại:
- Khu vực kinh tế truyền thống: chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, có năng
suất lao động thấp và luôn có dư thừa lao động.
- Khu vực kinh tế công nghiệp hiện đại du nhập từ bên ngoài: Có năng
suất lao động cao, có khả năng sản xuất độc lập mà không bị phụ thuộc vào những
điều kiện chung của toàn bộ nền kinh tế.
Giữa hai khu vực trên luôn có mối quan hệ thông qua di chuyển lao động từ nông
nghiệp (nông thôn) sang công nghiệp (thành thị) và biến nền sản xuất xã hội từ trạng
thái nhị nguyên thành một nền kinh tế công nghiệp phát triển. ởViệt Nam cũng đang
hình thành hai khu vực: truyền thống và hiện đại. Hiện nay lực lượng lao động làm
việc trong ngành nông nghiệp ở nước ta vẫn còn chiếm phần lớn (70%), do đó nước ta
cần xác định khả năng phát triển khu vực hiện đại nhằm thu hút lao động từ nông
nghiệp, đồng thời cần quan tâm thích đáng tới nông nghiệp trong qúa trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Ngay bản thân khu vực truyền thống cũng cần xây dựng công
nghiệp nhỏ nông thôn, kết hợp trong cơ cấu công nghiệp và nông nghiệp một cách hợp
lý để giảm bớt sức ép lao động từ khu vực nông nghiệp chuyển sang khu vực công

rằng sự phê phán lẫn nhau theo kiểu nàythì đúng, còn cáI kia thì sai đã tỏ ra quá đơn
giản và đầy thiên kiến .Vấn đề là ở chỗ , khi xem xét chúng ,nhất thiết phảI đứng trong
logic của mỗi loạI lý thuyết và không được bỏ qua đối tượng cũng như phương pháp
mổ xẻ vấn đề.
II- Sự cần thiết phải CDCC ngành KT trong quá trình phát triển kinh tế:
1- Lý luận về mối liên hệ giữa CDCC ngành và quá trình phát triển nền kinh tế
.
Quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia thường được xem xét như là nền kinh
tế . Một trong những CCKT được quan tâm và nghiên cứu nhiều trong một quá trình
làm thay đổi thu nhập bình quân đầu người . Mặc dù có nhiều thay đổi trong quan
niệm về phát triển và tăng trưởng nhưng chỉ tiêu trên vẫn đưọc coi trọng và làm thước
đo cho sự phát triển kinh tế . Một xu hướng mang tính quy luật là cùng với sự ơphát triển của kinh tế là một quá trình thay đổi về CCKT , tức là một sự thay đổi tương đối
về mức đóng góp , tốc độ phát triển của từng tthành phần , từng yếu tố riêng về cấu
thành toàn bộ mối liên hệ với quá trình tăng trươngr và phát triển kinh tế là cơ cấu
ngành . Ngay từ cuối thế kỷ 19 ,nhà kinh tế học người Đức E.Engle đã phát hiện ra
mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với CDCC ngành KT .
Theo E.Engle ,khi thu nhập của các gia đình tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu của họ cho
lương thực , thực phẩm giảm đI . Do chức năng chính của khu vực NN là sản xuất
lương thực ,thực phẩm nên có thẻ suy ra là tỷ trong NN trong toàn bộ nền kinh tế sẽ
giảm đI ,tỷ lệ chi tiêu cho hàng tiêu dùng lâu bền và việc cung cấp dịch vụ tăng phù
hợp với thu nhập do đó có thể thấy tỷ trọng của ngành CN &DV. Như vậy , trong quá
trình tăng trưởng và phát triển kinh tế cơ cấu ngành kinh tế sẽ chuyển dich theo hướng:
tỷ trọng ngành NN giảm dần,tỷ trọng ngành CN&DV tăng dần.
2-Vai trò của CDCC ngành KT trong quá trình phát triển kinh tế .
Cơ cấu kinh tế hợp lý giúp cho việc thu được mức tăng sản xuất xã hội lớn nhất
, mới có thể phan bố hợp lý lực lượn sản xuất , phát triển các mối quan hệ đối ngoạI
dưa nhanh tiến bộ KHCN vào sản xuất .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status