Lời mở đầu
Công Nghiệp Hoá-Hiện Đại Hoá (CNH-HĐH ) nh một bản nhạc giao hởng kỳ
diệu khiến nhiều ngời bị lôi cuốn. Từ những nớc đang phát triển đến những nớc phát
triển đều coi đó là chiếc chìa khoá vàng để mở cửa cho sự thịnh vợng của đất nớc
mình. Ví dụ: CNH-HĐH là tiền đề cho quá trình tăng trởng nhanh ở Singapore từ năm
1974 đến năm 1989, cho HongKong những thập niên 70 và 80, Cộng hoà Nam Triều
Tiên giai đoạn 1972 -1981. Hầu hết các nớc phát triển hiện nay đều đi lên bằng con đ-
ờng CNH-HĐH. Vì sự tiến bộ vợt bậc của khoa học kỹ thuật đã tạo điều kiện cho sự
phát triển của nhiều nớc trong rất nhiều ngành từ những ngành mang tính công nghệ
cao đến những ngành mà trớc đây chỉ sử dụng phơng pháp thủ công nh ngành nông
nghiệp. Việt Nam trớc bối cảnh đó, với điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn,
chúng ta phải thực hiện CNH-HĐH. Nhng tính 2 mặt của vấn đề này đang là niềm băn
khoăn của các nhà hoạch định chính sách hiện nay. Bởi vì, bên cạnh những thành tựu
to lớn mà CNH-HĐH đem lại, còn có những mặt trái của nó để lại những nỗi buồn th-
ơng tâm về mọi mặt trong xã hội, nó đi vào từng ngõ ngách của xã hội để gây ra nhiều
hậu quả khó lờng. Do đó, ở bất cứ quốc gia nào đi lên bằng con đờng CNH-HĐH đều
cần đến bàn tay vô hình của Nhà nớc. Quan tâm đến tầm quan trọng này hơn nữa đây
là một vấn đề rất mang tính thời sự hiện nay, em đã chọn đề tài: Vai trò của nhà nớc
đối với quá trình CNH-HĐH ở nớc ta .
Đề tài này gồm có 2 phần:
Chơng 1: Một số vấn đề cơ bản về vai trò của nhà nớc đối với CNH-HDH.
Chơng 2: Thực trạng vai trò của nhà nớc đối với CNH-HDH trong thời gian qua
Để hoàn thành đợc đề án này em xin chân thành cảm ơn các thầy cô bộ môn đã giúp
em những kiến thức cơ bản cho đề tài!
Nội dung
Chơng 1: Một số vấn đề cơ bản về vai trò của
nhà nớc đối với CNH-HDH:
1.1: Quan điểm CNH-HĐH:
1.1.1. Quan điểm CNH:
Song song với sự áp dụng CNH-HĐH các trờng phái Kinh tế thế giới đã có rất
nhiều quan điểm khác nhau về CNH. Quan điểm đơn sơ nhất cho rằng công nghiệp
sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Đại hội lần thứ VIII của đảng cộng
sản việt nam lại một lần nữa xác định mục tiêu của công nghiệp hoá, hiệnđại hoá là
xây dựng nớc ta thành một nớc có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
2
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, đời
sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nớc mạnh, xã
hội công bằng văn minh.Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đa nớc ta cơ bản trở thành
một nớc công nghiệp.
Trớc đổi mới công nghiệp hoá đợc tiến hành theo cơ chế cũ tập trung bao cấp
ngày nay chúng ta tiến hành theo cơ chế mới đó là cơ chế thị trờng có sự quản lí của
nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trớc đây công nghiệp hoá đợc hiểu là việc
của nhà nớc thông qua hai khu vực quốc doanh và tập thể, ngày nay là sự nghiệp của
toàn dân với sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế. Chiến lợc công nghiệp hoá
trớc đây là công nghiệp hoá hớng nội thay thế nhập khẩu là chủ yếu gần nh cô lập với
thị trờng thế giới còn bây giờ là chiến lợc hớng về xuất khẩu trong điều kiện mở cửa
với các nớc khác trên thế giới.
1.1.2. CNH-HĐH không phải là hai quá trình tách rời mà gắn bó mật thiết với
nhau trong quá trình phát triển của đất nớc
Cho tới nay, thế giới đã hai lần trải qua cách mạng về kỹ thuật và công nghệ.
Lần thứ nhất với tên gọi là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra vào cuối thế kỉ
18 đợc thực hiện đầu tiên ở nớc Anh mà nội dung chủ yếu là thay thế lao động thủ
công bằng lao động cơ khí hoá; lần thứ hai với tên gọi là cuộc cách mạng khoa học
công nghệ hiện đại đợc bắt đầu vào giữa thế kỉ 20 mà nội dung chủ yếu của nó không
chỉ dừng lại ở tính chất hiện đại của các yếu tố t liệu sản xuất, mà còn ở kỹ thuật công
nghệ sản xuất hiện đại, phơng pháp sản xuất tiên tiến Hiện nay cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ có nhiều nội dung phong phú, trong đó có thể chỉ ra những nội
dung nổi bật sau đây:
Một là, cách mạng về phơng pháp sản xuất: đó là tự động hoá. Ngoài phạm vi tự
động trớc đây, hiện nay tự động hoá còn bao gồm cả việc sử dụng rộng rãi ngời máy
thay thế con ngời điều khiển quá trình sản xuất.
thác mọi tiềm năng sản xuất. Phát huy tính chuyển động sáng tạo của các chủ thể
thành phần kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế quốc doanh phải phát
triển mạnh mẽ và có hiệu quả để thực sự có tác dụng chủ đạo với các thành phần kinh
tế khác.
1.1.3. CNH-HĐH tạo điều kiện kinh tế cho chúng ta phát triển đất nớc đồng bộ:
4
Hiện nay hệ thống những nớc CNXH trên thế giới không còn chiếm u thế nh tr-
ớc nữa, vì vậy muốn khẳng định sự đúng đắn của con đờng mình đã chọn chúng ta
phải chứng tỏ sức mạnh kinh tế của mình. Con đờng nhanh nhất phát triển kinh tế, một
điều kiện tất yếu là CNH-HĐH trong mọi lĩnh vực. Với bớc đi đầu tiên là ngành nông
nghiệp, chúng ta đang phấn đấu có đợc vị thế lớn trên thị trờng lơng thực thế giới. Và
còn nhiều lĩnh vực khác trong hoạt động kinh tế mà có CNH-HĐH chúng ta thực hiện
đợc dễ dàng. Vì vậy CNH-HĐH giúp chúng ta xây dựng cơ sở vật chất kinh tế cho
CNXH.
Hơn nữa, trong chuyển dịch cơ cấu hiện nay, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn
nhất là về kỹ thuật. Trên thế giới đã trải qua rất nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật trong khi ở đất nớc ta nhiều vùng vẫn còn nền sản xuất nông nghiệp thuần tuý,
du canh du c, cha áp dụng kỹ thuật sản xuất vào trong nông nghiệp. Nên CNH-HĐH
nh cánh tay đắc lực giúp chúng ta chuyển dịch cơ cấu.
Trong giai đoạn hiện nay, trớc sự đi lên của nhiều nớc trên thế giới, áp dụng
khoa học kỹ thuật hiện đại, việc sản xuất đã đợc chuyên môn hoá cao, con ngời chỉ là
ngời điêù khiển máy móc. Điều đó đòi hỏi lực lợng sản xuất phải phù hợp với trình độ
sản xuất, CNH-HĐH chính là áp lực để chúng ta có những công nhân giỏi, chuyên
môn hóa cao, những ngời thợ lành nghề.
Với sự phát triển cả về trình độ sản xuất lẫn lực lợng sản xuất, đòi hỏi chúng ta
phải có đội ngũ quản lý giàu kinh nghiêm, giỏi về chuyên môn, linh hoạt và nhanh
nhạy trớc những biến động trong thực tế. Về bộ máy kinh tế của Nhà nớc, CNH-HĐH
đòi hỏi Nhà nớc phải có quyền lực to lớn để giữ vững đợc lập trờng xã hội, hơn thế,
CNH-HĐH giúp chúng ta có hiệu quả cao trong quản lý kinh tế.
Về quốc phòng và an ninh, CNH-HĐH đã trang bị kỹ thuật hiện đại cho việc
lợng để quản lý có hiệu quả, kiên quyết thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ công chức
nhà nớc, lựa chọn các cán bộ có khả năng, trình độ kinh nghiệm để đa đất nớc ta
nhanh chóng tiến lên hiện đại hoá hệ thống quản lý nhà nớc theo yêu cầu công nghiệp
hoá.
Nhà nớc thực hiện việc quản lý qúa trình công nghiệp hoá bằng pháp luật và các
văn bản dới luật. Hoàn thiện và xây dựng mới các công cụ cần thiết nh chế độ thống
kê kế toán và kiểm toán, chế độ tài chính và báo cáo tài chính công khai chính xác để
quản lý thống nhất.
Nhà nớc phối hợp, điều hoà các hoạt động trong quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá nền kinh tế quốc dân theo mục tiêu và định hớng đúng đắn đã đợc xác định, vì
6
quá trình công nghiệp hoá chỉ có thể thành công khi có sự phối hợp cả về chiều ngang
và chiều dọc.
1.2.2. Những vai trò của nhà nớc đối với quá trình CNH-HĐH:
Nhà nớc nh chiếc kim chỉ nam cho mọi hoạt động kinh tế, để thể hiện vai trò
này, trớc hết, Nhà nớc tạo môi trờng thuận lợi cho quá trình CNH-HĐH. Bằng cách
đầu t máy móc thiết bị Nhà nớc đã đa nền sản xuất từng bớc hiện đại hoá. Đối với hệ
thống pháp luật, Nhà nớc cố gắng xây dựng và điều chỉnh hợp lý cho từng thời kỳ, an
ninh quốc phòng và trật tự xã hội, môi trờng kinh doanh an toàn đó có đợc chỉ khi có
sự can thiệp sâu sắc của Nhà nớc.
Những bớc đi của CNH-HĐH cần phải có sự dẫn dắt hợp lý, phải có những kế
hoạch, mục tiêu trong tng giai đoạn, việc đó không thể do cá nhân đa ra mà phai do
toàn thể cá nhân trong xã hội đa ra và cảm thấy phù hợp, đại diện là Nhà nớc.
CNH-HĐH bên cạnh những thuận lợi còn có những mặt trái của nó, thể hiện
sâu sắc nhất là vấn đề chuyên môn hoá dẫn đến sự phân công lao động xã hội đôi khi
không hợp lý. Sản xuất ngày càng hiện đại dẫn đến tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã
hộiĐòi hỏi Nhà nớc phải có sự phân công lao động hợp lý, giải quyết vấn đề việc
làm và phúc lợi xã hội. Môi trờng trong giai đoạn CNH-HĐH sẽ là vấn đề rất lan dải,
bởi lẽ, với việc chạy theo lợi nhuận, các doanh nghiệp dờng nh quên đi nhiệm vụ bảo
vệ môi trờng của mình, Nhà nớc phải khơi mào, đa ra những chính sách để bảo vệ môi
triển, kinh tế kéo dài trong tình trạng tự cấp, tự túc. Nửa đầu thế kỷ XIX, một vài yếu
tố sản xuất kinh doanh t bản chủ nghĩa nảy sinh ở Trung Quốc, từ đó các nớc đế quốc
đã nhảy vào xâu xé, phân chia những khu vực ảnh hởng ở Trung Quốc, biến đất nớc
này thành xã hội nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Chế độ phong kiến và chế độ nửa
thuộc địa nửa phong kiến, đã để lại di sản kinh tế nặng nề ở Trung Quốc. Đó là nền
nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé, công nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng 10% trong
tổng sản lợng công nông nghiệp Trung Quốc trong những năm 1936-1949.Đó là thực
trạng của nền kinh tế Trung Quốc vốn đã yếu kém, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề.
1.3.2. Thành tựu của Trung Quốc khi thực hiện CNH-HĐH:
Sau ngày giải phóng, nền kinh tế Trung Quốc đang đứng trớc nhiều khó khăn,
sản xuẩt nông công thơng nghiệp trong tình trạng giảm sút nghiêm trọng. Đến năm
1976, Trung Quốc chủ trơng thực hiện Bốn hiện đại hoá: Công nghiệp, nông
8
nghiệp, khoa học kĩ thuật và quốc phòng.Thực hiện chủ trơng trên, Trung Quốc cố
gắng tăng nhanh tích luỹ, đẩy mạnh nhập khẩu thiết bị và vay vốn của nớc ngoài. Tỷ lệ
tích lũy trong thu nhập quốc dân tăng lên tới 36,5%, Trung Quốc tăng cờng đầu t cho
xây dựng cơ bản, năm 1978 là 45 tỷ nhân dân tệ, bằng 1,5 lần 1977. Nguồn vốn đầu t
của Trung Quốc chủ yếu tập trung cho những ngành công nghiệp hiện đại.Tuy nhiên
những diễn biến kinh tế ở Trung Quốc từ 1976 đến 1978 phản ánh sự nôn nóng, là quá
trình tiếp nối chủ trơng đại nhảy vọt trớc đây.Do vậy, dẫn tới những ảnh hởng
nghiêm trọng cho nền kinh tế xét trên phơng diện cơ cấu và hiệu quả.Trong thời gian
thực hiện Bốn hiện đại hoá, tỷ trọng nông nghiệp, công nghiệp trong nền kinh tế có
sự thay đổi. Nông nghiệp năm 1957 chiếm tỷ trọng 44%, năm 1978 chỉ còn khoảng
28%; tỷ trọng công nghiệp tăng từ 56% lên 72% trong tổng giá trị sản lợng công nông
nghiệp. Hơn 20 năm qua, nền kinh tế Trung Quốc liên tục tăng trởng cao, tiềm lực
của nền kinh tế đất nớc không ngừng đợc tăng cờng.Từ 1979 đến 1997, tốc độ tăng tr-
ởng hàng năm đạt 9,8%.Giá trị tổng sản phẩm trong nớc năm 1978 là 362 tỷ nhân dân
tệ, năm 1997 là7477,2 tỷ nhân dân tệ, đứng hàng thứ 7 thế giới. Trung Quốc đã vơn
lên đứng đầu trong một số lĩnh vực kinh tế. Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc không
ngừng tăng lên, năm 1978 là 167 triệu USD, năm 1998 là144,9 tỷ USD,đứng thứ 2 thế
cơ vản trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại. Nghĩa là về cơ bản chúng
ta phấn đấu trở thành nớc công nghiệp theo hớng hiện đại. Đó là một nớc có nền kinh
tế mà trong đó lao động công nghiệp trở thành phổ biến trong các ngành và các lĩnh
vực của nền kinh tế.Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế cả về GDP cả về lực lợng
lao động đều vợt trội hơn so với nông nghiệp.
Để thực hiện mục tiêu trên, trong mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế, công
nghiệp hoá cần phải thực hiện đợc những mục tiêu cụ thể nhất định. Trong điều kiện
khả năng về vốn vẫn hạn hẹp, nhu cầu về công nghiệp ăn việc làm rất bức bách, đời
sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tình hình kinh tế - xã hội phát triển, tăng trởng cha
thật ổn đinh.Chiến lợc của Nhà nớc ta là cần tập trung nỗ lực đẩy mạnh công nghiệp
hoá nông nghiệp, nông thôn, ra sức phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông -
lâm - thuỷ sản.
Đối với việc đào tạo nguồn nhân lực cho CNH-HĐH, Nhà nớc ta đã đề ra
những mục tiêu cơ bản sau:
Mục tiêu thứ nhất là nâng cao mặt bằng dân trí. Vận động thanh thiếu niên
dới 23 tuổi đi học để nâng số năm đi học trung bình của ngời dân ở mức 5 hiện nay
lên 9 vào năm 2020. Mặt bằng dân trí đợc nâng lên và biểu hiện của nó là ngời có
trình độ văn hoá phổ thông nắm đợc kiến thức khoa học công nghệ cơ bản. Thứ hai là
10
tăng học sinh các cấp học liên tục. Thứ ba là nâng tỉ lệ những ngời có trình độ cử nhân
tiến sĩ ngang bằng với các nớc trong khu vực.
Mục tiêu thứ hai là đào tạo nguồn nhân lực. Tập trung trớc hết vào đào tạo h-
ớng nghiệp cho học sinh một cách thiết thực. Để cho mọi ngời có kĩ năng lao động kĩ
thuật liên tục tăng lên 30% vào năm 2020. Tăng tỉ lệ lao động đợc đào tạo nghề ở mức
60% năm 2020.
Mục tiêu thứ ba là bồi dỡng nhân tài. Vì nhân tài là động lực của sự phát
triển tạo nên các thế mạnh trong hợp tác và cạnh tranh quốc tế. Để bồi dỡng nhân tài
Nhà nớc chủ trơng thành lập một bộ phận giáo dục có chất lợng cao có quy mô và chất
lợng đạt tiêu chuẩn quốc tế đó là các trờng điểm ở bậc học phổ thông và một số trờng
đại học quốc gia đào tạo đa nghành. Nâng dần tỉ lệ học sinh ở các trờng này lên 20%
đầu t cho phát triển của toàn xã hội đạt khoảng 15 - 16 tỉ USD trong đó Nhà nớc
chiếm 43% ( bao gồm đấu t từ ngân sách Nhà nớc tín dụng đầu t Nhà nớc và doanh
nghiệp Nhà nớc tự đầu t ) phần vốn từ đầu t trực tiếp nớc ngoài chiếm 37% đầu t của
dân là 20%. Chính phủ đầu t nhiều hơn cho hạ tầng kinh tế xã hội. Đầu t của nhân dân
dẫn tới nhiều cở sở sản xuất của t nhân đợc hình thành và hoạt động có hiệu quả phần
lớn là có quy mô nhỏ và vừa nhng cũng có một số doanh nghiệp t nhân lớn thu hút
nhiều lao động.
Về nguồn vốn nớc ngoài, hiện nay phần lớn là vốn ODA và FDI:
Đầu t trực tiếp (FDI):
Tổng vốn đầu t tuy tăng nhanh tăng 50% hàng năm trong thời kì 1989-1995
nhng vẫn cha đáp ứng đợc nhu cầu và khả năng phát triển thị trờng vốn cho quá trình
CNH-HĐH ở Việt Nam. Tổng vốn đầu t đợc thực hiện chiếm tỉ trọng 34% vốn đăng kí
tơng đối khá nhng đó cha phải là tỉ trọng cao nhất có thể đạt đợc do nhiếu nguyên
nhân gây chậm trễ việc thực hiện dự án nh kéo dài thời gian xét cấp đất giải phóng
mặt bằng và nhiều thủ tục rờm rà khác.
Hệ thống chính sách cha hoàn thiện thiếu đồng bộ, không đủ mức cụ thể th-
ờng hay thay đổi, đặc biệt việc thi hành pháp luật còn tuỳ tiện. Quy hoạch kinh tế và
lãnh thổ kêu gọi vốn đầu t nớc ngoài cha đợc xác định cụ thể triển khai chậm chạp gây
bị động cho cả hai phía đầu t và xét duyệt dự án. Hiện nay Việt Nam cha có nhiều đối
tác mạnh có ý nghĩa chiến lợc lâu dài. Việc góp vốn của bên Việt Nam trong nhiều dự
án quá thấp, chủ yếu bằng quyền sử dụng đất. Trong một số dự án bên nớc ngoài góp
vốn bằng thiết bị công nghệ lạc hậu với giá cao và bên Việt Nam còn có nhiều sơ hở
trong tiêu thụ sản phẩm.
Viện trợ phát triển chính thức (ODA ):
12
Thời kì 1991-1995 giá trị ODA cho Việt Nam bình quân mỗi năm đạt khoảng
480 triệu USD. Thực tế cho thấy tiềm năng vốn nớc ngoài tuy lớn nhng việc khai thác
huy động còn nhiều khó khăn và còn đang ở mức thấp.
Tháng 11 - 1993 các nhà tài trợ tại Hội nghị quốc tế tại Pari cam kết hỗ trợ
phát triển 1,86 tỉ USD vào tháng 11 - 1994 nhóm t vấn cam kết hỗ trợ phát triển 1,95 tỉ
ơng đều đã xây dựng quy hoạch phát triển, trong đó phân tích khá rõ những điều kiện
và lợi thế của địa phơng mình, nhng phân tích để làm rõ những lợi thế so sánh trong
xu thế phát triển chung của nớc ta và thế giới còn có những điểm khác xa nhau.
Tiến trình thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá cha đợc nhà nớc định ra cụ
thể. Về tổng quát, quá trình công nghiệp hoá sẽ đợc thực hiện trong thời gian từ nay
đến năm 2020 nhng các bớc cụ thể cha đợc xác định rõ ràng. Do đó trong tiến trình
thực hiện các mục tiêu phát triển đã nảy sinh một số vấn đề. Ví dụ nh vấn đề thực hiện
phát triển công nghiệp chế biến nh thế nào và vào lúc nào khi nguồn nguyên liệu cha
đợc phát triển v. v. giải pháp vay vốn và sử dụng vốn vay cha thật thuyết phục trong
cân nhắc về hậu quả. Nhu cầu vốn cho thực hiện CNH-HĐH rất lớn phải có sự hỗ trợ
từ bên ngoài. Nhng nhà nớc vẫn cha tính toán kĩ trong việc thanh toán trả nợ sau này.
Việc phát triển hiện nay với sức đè nặng của các món nợ trong 20-25 năm nữa.
Phơng hớng chỉ đạo nhập công nghệ cha cụ thể, nhiều vấn đề trong chủ trơng
nhập công nghệ không đợc chỉ đạo dứt khoát và thực hiện thống nhất nh: xác định
trình độ công nghệ tiên tiến ở mức nào, cơ cấu công nghệ cần nhập ra sao, hiện đại
hoá các công nghệ truyền thống nh thế nào. Việc kiểm soát nhập công nghệ qua các
dự án đầu t của nớc ngoài cũng không chặt chẽ, diễn ra tình trạng nhập các công nghệ
thấp công nghệ quá lỗi thời vào nớc ta. Chúng ta lại quá thiếu các thông tin về công
nghệ. Do vậy khi đợc nớc ngoài giới thiệu về một công nghệ nào đó thì không có điều
kiện để so sánh nhận biết đợc trình độ công nghệ đó tiên tiến mức nào, u điểm nhợc
điểm so với công nghệ cùng loại khác làm nhà nớc rất khó khăn trong quá trình quản
lý, ảnh hởng lớn tới quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của nớc ta.
14
Chính sách đào tạo nguồn nhân lực:
Nhận thức đợc vai trò to lớn của giáo dục trong sự nghiệp đổi mới và phát triển,
nghị quyết lần thứ 4 Ban chấp hành Trung Ương Đảng khoá VII đã chỉ rõ Cùng với
khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc
đẩy và là một điều kiện cơ bản để bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu kinh tế xã
hội. Giáo dục là quốc sách hàng đầu thể hiện ở các quan điểm cơ bản sau :
Thứ nhất, đầu t cho giáo dục là một dạng đầu t phát triển vì nó là động lực để
Xuất khẩu Nhập khẩu
1986 2507, 1 677, 8 1839, 3
1987 2856, 4 723, 9 2132, 5
1988 3373, 0 833, 5 2539, 5
1989 3908, 3 1524, 6 2383, 7
1990 4289, 0 1845, 0 2474, 0
1991 4980, 4 2081, 7 2187, 7
1992 4980, 0 2475, 0 2505, 0
1993 6909, 0 2985, 0 3924,0
1994 8100, 0 3600, 0 4500, 0
Nguồn Bộ thơng mại, Tạp chí Thơng mại 6-1995.
Ta thấy giá trị xuất khẩu tăng lên một cách đáng mừng nhng xét về giá trị xuất
khẩu theo đầu ngời và cơ cấu xuất khẩu thì Việt Nam phải có nỗ lực to lớn mới có thể
đáp ứng đợc nhu cầu công nghiệp hoá trong những năm tiếp theo.
Về kim nghạch xuất khẩu theo đầu ngời năm 1994 mới đạt đợc mức 50USD
cha bằng 1/3 mức của một nớc có nền ngoại thơng tơng đối phát triển nghĩa là Việt
Nam phải có những nỗ lực rất lớn mới có thể đạt đợc mức của các nớc có nền ngoại
thơng tơng đối phát triển trong khu vực.
Hoạt động xuất nhập khẩu 1991 - 1995 tơng đối sôi động và có chiều hớng đi
vào nề nếp tốt. Kết quả này một phần quan trọng nhờ sự chỉ đạo chặt chẽ của chính
phủ một mặt bãi bỏ những thủ tục hành chính cản trở hoạt động thơng mại, khuyến
khích xuất khẩu kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu. Ngày 28 - 2 - 1994 Thủ tớng Chính
phủ ban hành quyết định 78/TTg định hớng xuất nhập khẩu đây là cơ sở pháp lí điều
hành xuất nhập khẩu theo hớng khuyến khích tối đa xuất khẩu kiểm soát chặt chẽ
nhập khẩu. Việc ban hành nghị định 33/CP ngày 19 / 4 / 1994 của Chính phủ thay thế
nghị định 114/HĐBT ngày 7 / 4 -/1992 của Hội đồng Bộ trởng hạ thấp mức vốn tối
thiểu tại thời điểm đăng ký kinh doanh từ 200.000 USD xuống 100.000 USD đối với
các doanh nghiệp thuộc các tỉnh miền núi các doanh nghiệp kinh doanh những mặt
hàng cần khuyến khích xuất khẩu đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này có điều
kiện tham gia kinh doanh. Việc bãi bỏ hàng loạt những văn bản cũ, lạc hậu thiếu tình
nghiệp đã tăng từ năm 1990 - 1991 đến nay nhng xu thế không rõ ràng. Quy mô đào
tạo sinh viên đại học và cao đẳng có nhiều biến động lớn. Mỗi năm có khoảng 20.000
sinh viên đại học cao đẳng chính quy tốt nghiệp. Tỉ lệ sinh viên đại học cao đẳng trong
độ tuổi đi học của Việt Nam là 2, 3-2, 5%. Tỉ lệ này cao hơn mức 2% của Trung Quốc
17
nhng lại thấp hơn so với mức 16% của Thái Lan, 10% của Inđônêxia và 40% của Hàn
Quốc. Thời kì đầu số lợng sinh viên giảm sút nhng tăng nhanh trong những năm gần
đây. Hợp tác nớc ngoài cũng đợc chúng ta đặc biệt quan tâm. Trong suốt thời kì 1951 -
1990 các nớc Liên Xô và Đông Âu, Trung Quốc đã đào tạo cho Việt Nam hơn 52.000
sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh. Trong cùng thời gian đó có một số ít sinh
viên Việt Nam đợc các nớc Pháp Thuỵ Điển Nhật Bản giúp đào tạo. Đến cuối 1994 do
sự mở rộng giao lu quốc tế Việt Nam đã có 1.900 sinh viên 394 sinh viên cao học 715
nghiên cứu sinh 298 thực tập sinh đang học tập và nghiên cứu tại 25 nớc trên thế giới.
Nhiều nớc trên thế giới và các tổ chức quốc tế đã giúp Việt Nam xây dựng hàng nghìn
phòng học, thiết bị và đồ dùng học tập. Sự hợp tác trên đã giúp Việt Nam bắt kịp với
những thành tựu khoa học kĩ thuật mới.
Phát triển kết cấu hạ tầng có vai trò đặc biệt quan trọng đến tiến trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đến việc thu hút vốn đầu t nớc ngoài Kết cấu hạ tầng bao
gồm năng lợng, giao thông vận tải liên lạc Trớc hết ở các điểm nút mở ra với thị tr-
ờng thế giới và gắn với các trung tâm phát triển kinh tế hớng ngoại của đất nớc Kinh
nghiệm của các nớc ASEAN đều cho thấy rằng, ở đâu hệ thống năng lợng, giao thông
vận tải và liên lạc đợc hiện đại, lao động đợc đào tạo tốt thì ở đó công nghiệp dịch vụ
đều phát triển nhanh và hiệu quả.
Mục tiêu cụ thể là đầu t xây dựng mới theo hớng đồng bộ, hiện đại các công
trình giao thông tại các cửa khẩu (sân bay, hải cảng quốc tế), các hành lang quan trọng
tới cửa khẩu với nội địa, tại các vùng kinh tế trọng điểm, tuyến trục Bắc Nam. Mở
rộng và nâng cấp ba sân bay quốc tế đạt trình độ hiện đại có thể tiếp nhận12/13 triệu l-
ợt hành khách/ năm và nâng cấp các sân bay khác, cải tạo, mở rộng cảng Hải Phòng,
chuẩn bị xây dựng các cảng Cái Lân, Chân Mây, Liên Chiểu, Dung Quất, Bến Đình
Sao Mai, phát triển mạng lới bu chính viễn thông hiện đại, đồng bộ, phát triển và nâng
thông tinChúng ta phải có chính sách đào tạo lại cán bộ hành chính không những về
trình độ chuyên môn, mà còn về đạo đức nghề nghiệp. Bên cạnh đó, chúng ta nên áp
dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lý dữ liệu để thông tin đợc chính xác,
việc quản lý đợc nhanh và gọn nhẹ.
2.2.3. Nâng cao trình độ cán bộ quản lý kinh tế
Cán bộ quyết định tất cả là một nguyên lý luôn luôn đúng và đúng với mọi tr-
ờng hợp. Không có đội ngũ viên chức Nhà nớc giỏi có phẩm chất thì không có nền
hành chính quốc gia vững mạnh. Tất nhiên Nhà nớc phải tạo điều kiện cho họ làm tròn
chức năng kinh tế gia đình, không có đội ngũ các nhà kinh doanh giỏi thì nền kinh tế
19
không thể phát triển mạnh đợc. Do vậy, phải có mô hình tổ chức đào tạo cán bộ hành
chính và nhà quản trị doanh nghiệp. Việc lựa chọn mô hình đào tạo thích hợp cho mỗi
cán bộ là một vấn đề phải đợc nghiên cứu nghiêm túc.
Đổi mới công tác nâng cao thu hút vốn đầu t nớc ngoài:
Môi trờng đầu t hiện nay đang đợc các nhà đầu t nớc ngoài hết sức quan tâm.
Họ luôn muốn đợc đầu t vào những nớc có môi trờng kinh doanh thuận lợi để giảm
thiểu độ rủi ro. Nhng việc cải thiện môi trờng đầu t, chúng ta không những phải giữ
vững an ninh quốc phòng, mà còn phải có chính sách riêng đối với đầu t nớc ngoài,
chính sách về tài nguyên
Chúng ta đã biết hội nhập kinh tế sẽ dẫn chúng ta đến với thị trờng thế giới, là cơ hội
thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nớc. Vì vậy chúng ta nên có chính sách về trợ
vốn, về thuế hợp lý.
2.2.4. Phát triển khoa học công nghệ:
Hiện nay Thế giới đã vợt xa chúng ta rất nhiều về khoa học công nghệ, chúng ta
nếu không nắm bắt kịp thời sẽ bị thụt hậu, ảnh hởng rất nhiều đến sự phát triển kinh
tế. Nhng phát triển công nghệ chúng ta phải song song với việc quản lý công nghệ,
nhất là đối với công nghệ internet hiện nay.
Với thực tế về trình độ của chúng ta, sẽ rất tiềm năng nếu chúng ta biết khai
thác tài nguyên mang tính trí tuệ hiện nay, bằng việc đầu t vốn đào tạo thế hệ trẻ, đầu
t cho những dự án mang tính khoa học, đề ra luật bảo vệ bản quyền
nớc đi lên cùng với những thành tựu công nghệ đáng để thế giới khâm phục.
22