một số vấn đề chung về thị trường chứng khoán ở việt nam - Pdf 10

Lời mở đầu
Một sự kiện kinh tế nổi bật mang nhiều ý nghĩa chính trị, xã hội diễn
ra trên đất nớc ta sau hơn 10 năm đổi mới đó là việc vào tháng 7 năm 2000
bắt đầu sự vận hành của thị trờng chứng khoán (TTCK) Việt Nam, với việc
khai trơng hoạt động của trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) tại
thành phố Hồ Chí Minh.
Thế là hơn 30 năm nỗ lực và quyết tâm chuẩn bị tạo dựng những gì
phải có để TTCK Việt Nam ra đời - một kênh huy động và dẫn vốn cho đầu
t phát triển kinh tế đất nớc, đã hiện diện. Nhng dù gì cũng mới chỉ tạo dựng
một cỗ máy còn sự vận hành công năng của nó đạt hiệu quả kinh tế xã hội ra
sao, đó còn là vấn đề của sắp tới.
Bên cạnh những dự báo đầy lạc quan, tự tin, đâu đó vẫn còn những u t,
suy đoán ngợc lại về những thành bại của TTCK non trẻ Việt Nam. Tôi nghĩ
rằng cả hai xu hớng trên đều có cơ sở. Thơng trờng mở cửa cũng đầy nghiệt
ngã cam go nh chiến trờng. Trong khuôn khổ bài viết này tôi không có nhiều
tham vọng trong công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động để mọi tầng lớp
nhân dân yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội, hởng ứng dành dụm tiền tiết kiệm
để đầu t mua chứng khoán (CK) làm chuyển động cỗ máy CK Việt Nam đi
lên, ổn định và phát triển. Song cũng chỉ muốn cho độc giả và những ngời
quan tâm đến CK Việt Nam hiểu thêm đôi nét về tổng quan thị trờng chứng
khoán cũng nh tình hình thực tế CK của Việt Nam trong 2 năm qua.
1
I.Tổng quan thị tr òng chứng khoán
1.Chứng khoán - hàng hoá của thị tr ờng
Chứng khoán là bằng chứng (dới hình thức giấy tờ hay chi trên hệ
thống điện tử) xác nhận quyền sở hữu hay quyền chủ nợ hợp pháp có thể
chuyển nhợng của ngời sở hữu chứng khoán đối với vốn tài sản và các lợi ích
khác của ngời phát hành.
Chứng khoán đợc chia làm hai loại chính: cổ phiếu và trái phiếu. Với
sự phát triển ngày càng cao của công nghệ chứng khoán và hình thức phát
hành, ngày nay khái niệm về chứng khoán đã có sự thay đổi, nó không chỉ là

thể hoặc phá sản
Thời điểm hoàn trả đợc
xác định vào lúc phát
hành
Quyền tham gia vào
quản lý kinh doanh
Với mỗi cổ phần là một
phiếu bầu, cổ đông có
thể tham gia vào các
quyết định của công ty
tại Hội đồng cổ đông
Trả khi công ty bị phá
sản, không đợc tham gia
vào quản lý công ty
Xét về phía các nhà kinh doanh:
Cổ phiếu Trái phiếu
Vốn gốc Sau khi phát hành
không bị yêu cầu mua
lại
Phải chuẩn bị tiền hoàn
trả khi trái phiếu đáo
hạn
Tham gia vào quản lý
kinh doanh
Cơ quan ra quyết định
có nhất CT là đại hội
đồng cổ đông. Thông
thờng có quá nửa số
phiếu đồng ý thì quyết
định đợc thông qua

phiếu sẽ đợc xử lý trớc. Khi công ty trong quá trình thanh lý thf trật tự thanh
toán đợc xếp nh sau:
Phí giải quyết phá sản, lơng công nhân viên
Trả thuế
Thanh toán nợ. Trong đó có nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Cổ đông. Trong đó có cổ phiếu u đãi và cổ phiếu thông thờng
d.Phân loại cổ phiếu và trái phiếu
Cổ phiếu:
Khi một công ty đăng kí phát hành, nó sẽ đợc trao thẩm quyền phát
hành một số cổ phần nhất định. Hầu hết các công ty cổ phần ít hơn so với
con số đã đợc giao thẩm quyền nhằm duy trì một lợng chứng khoán nhất
định sử dụng trong tơng lai.
Các cổ phiếu đợc phát hành: là số lợng các chứng khoán thực sự đã đ-
ợc bán ra. Cổ phần cha đợc bán ra hoặc cha đợc lu hành gọi là các chứng
khoán cha đợc phát hành.
Cổ tức là một phần lợi nhuận của công ty chia cho cổ đông tỷ lệ với
số cổ phiếu của họ. Cổ tức thờng đợc công bố hàng năm và trả theo quí. Một
công ty có thể công bố trả cổ tức bằng tiền mặt, bằng cổ phiếu hay bằng tài
sản. Để phù hợp với tâm lý của ngời đầu t, ngời ta chia cổ phiếu ra một số
loại nh sau:
Cổ phiếu thờng:
Cổ phiếu thờng thể hiện quyền sở hữu đợc bỏ phiếu của một công ty
cổ phần. Mỗi cổ phiếu thờng thể hiền quyền lợi sở hữu của cổ đông trong
công ty. Số lợng cổ phiếu mà cổ đông nắm càng nhiều, quyền lợi sở hữu của
anh ta trong công ty càng lớn. Đôi khi, một công ty cổ phần có thể phát hành
nhiều loại cổ phiếu thờng khác nhau nh loại A và B. Hai loại này có một số
điểm khác nhau. Một loại cổ phiếu có thể nhận đợc cổ tức lớn hơn loại kia.
4
Ngoài ra, nếu công ty bị thanh lý thì một loại có thể nhận đợc phần tài sản
nhiều hơn loại kia.

có thể có mệnh giá hoặc không giống mệnh giá ở đây mệnh giá cũng có mối
liên quan đến giá thị trờng. Nừu một cổ phiếu u đãi có mệnh giá thì cổ tức sẽ
đợc tính dựa vào mệnh giá đó. Nếu cổ phiếu u đãi không có mệnh giá thì cổ
tức sẽ đợc công bố bằng một số đô la nào đó trên mỗi cổ phiếu mà công ty
phát hành ấn định.
Các loại cổ phiếu u đãi: Nếu một công ty phát hành nhiều sêri cổ
phiếu u đãi, họ có thể chỉ định một loại là u đãi thứ nhất, loại kia là u đãi thứ
hai. Hoặc họ cũng có thể phân biệt các cổ phiếu u đãi thông qua sự u đãi của
nó đối với việc hởng lợi tức cổ phần.
Cổ phiếu u đãi tham dự và không tham dự chia phần: Cổ phiếu u đãi không
tham dự chia phần là loại chỉ đợc hởng lãi cổ phần u đãi, ngoài ra không đợc
hởng thêm bất cứ phần lợi nhuận nào. Ngợc lại, cổ phiếu u đãi tham dự chia
phần thì cổ đông đợc hởng một phần lợi tức phụ thuộc theo qui đidnhj khi
công ty làm ăn có lãi cso.
Cổ phiếu u đãi tích luỹ và không tích luỹ: Cổ tức trên cổ phiếu u đãi cũng có
thể đợc tích luỹ hoặc không tích luỹ. Một cổ phiếu u đãi đợc tích luỹ có
nghĩa là nếu cổ tức không đợc công bố trả trong một năm nào đó thì cổ tức
này sẽ đợc tích luỹ hay cộng dồn. Cổ tức gộp này phải đuợc trả trớc khi công
bố trả cổ tức cho các cổ phiếu thờng. Mặt khác, nếu cổ tức không đợc tích
luỹ và công ty đã bỏ qua cổ tức của một năm nào đó thì cổ tức đó không phải
cộng thêm trớc khi cổ tức thanh toán cho những cổ phiếu thờng.
Cổ phiếu u đãi có thể chuyển đổi: Là loại cổ phiếu u đãi có quyền chuyển
sang một loại chứng khoán khác của chính công ty đó. Công thức để thực
hiện việc chuyển đổi cổ phiếu u đãi có thể chuyển đổi sang cổ phiếu thờng
do công ty quy định tại thời điểm cổ phiếu u đãi có thể chuyển đổi đợc phát
hành.
Chứng khoán ngân quỹ: Vì nhiều lý do, công ty mua về những cổ phần mà
họ đã phát hành mà hiện tại do công ty đó sở hữu đợc gọi là các chứng
khoán ngân quỹ, nó không có quyền bỏ phiếu và không đợc nhận cổ tức.
6

7
Trái phiếu có thể chuyển đổi: trái phiếu chuyển đổi cho ngời sở hữu quyền
đổi trái phiếu của anh trái phiếu sang một loại chứng khoán nào đó. Chứng
khoán này có thể là cổ phiếu u đãi hay cổ phiếu thờng của công ty phát hành.
Trái phiếu bảo đảm: cũng nh những ngời đi vay khác, công ty thờng đa ra
một thứ có giá trị làm vật bảo đảm cho các khoản vay. Khi công ty thực hiện
điều này, ta nói rằng nó đã phát hành một trái phiếu có bảo đảm. có một số
loại trái phiếu bảo đảm chủ yếu là:
Trái phiếu có tài sản cầm cố: một trái phiếu có tài sản cầm cố là việc
công ty phát hành thế chấp bất động sản để đảm bảo khả năng thanh toán nợ.
Trái phiếu có tài sản thế chấp: công ty phát hành đa ra các chứng
khoán để chuyển nhợng mà công ty sở hữu của ngời khác để bảo đảm cho
việc phát hành trái phiếu. Loại trái phiếu này bao gồm: Trái phiếu không bảo
đảm nghĩa là: một công ty có khả năng nhận tín dụng cao có thể phát hành
trái phiếu chỉ trên uy tín của mình. Những trái phiếu này đợc gọi là giấy
nhận nợ và công ty không phải thế chấp tài sản làm đảm bảo cho nó. Và các
chứng khoán nhận nợ do ngân hàng phát hành nghĩa là: Các ngân hàng có
thể tham gia vào thị trờng với các công cụ ngắn hạn nh: Chứng khoán tiền
gửi (cung cấp cho ngân hàng các nguồn vốn để thực hiện cho vay ngắn hạn),
phiếu chấp nhận thanh toán của ngân hàng (đợc phát hành để tài trợ cho
buôn bán quốc tế).
Trái phiếu chính phủ:
Để tài trợ cho chi tiêu ngân sách, các chính phủ có thể phát hành trái
phiếu thông qua kho bạc nhà nớc. Trái phiếu chính phủ có thể là ngắn hạn,
trung và dài hạn.
Kì phiếu kho bạc ngắn hạn: Phổ biến nhất là các loại 3 tháng và 6 tháng, các
kỳ phiếu ngắn hạn là những công cụ chiết khấu và thờng không có mức lãi
suất cố định. Các kì phiếu ngắn hạn thờng đợc mua bằng một số tiền và ngời
mua sẽ nhận đợc một số tiền lớn hơn (bằng mệnh giá) khi đến hạn. khoản
chênh lệch giữa hai số tiền trên gọi là khoản chiết khấu, lãi suất thu đợc

Các chứng khoán lần đầu tiên đợc bán ra thị trờng đợc gọi là chứng
khoán mới phát hành. Thị trờng mua bán chứng khoán mới phát hành đợc
gọi là thị trờng sơ cấp hay còn gọi là thị trờng phát hành.
b.thị tr ờng thứ cấp (secondary market)
9
Là thị trờng mà các chứng khoán đựoc mua bán lại sau khi các chứng
khoán đợc bán ở thị trờng sơ cấp. Trên thị trờng thứ cấp, lợi nhuận thu đợc từ
việc bán chứng khoán thuộc về nhà đầu t và những ngời buôn bán vhứ không
thuộc về công ty phát hành chứng khoán.
Thị trờng thứ cấp bao gồm thị trờng tập trung (sở giao dịch chứng
khoán) và thị trờng tập trung (OTC)
Sở giao dịch chứng khoán (tại sàn hoặc không có sàn)
Sở giao dịch chứng khoán đại diện cho thị trờng giao dịch theo phơng
thức đấu giá trong đó những ngời mua và những ngời bán cạnh tranh giao
dịch với nhau trên cơ sở đó hình thành giá cả cạnh tranh.
Hình thức sở hữu:
Lịch sử phát triển SDGCK các nớc đã và đang trải qua một số hình
thức sở hữu nh sau:
Trớc hết nó là một tổ chức do các thành viên (là công ty chứng khoán)
sở hữu. Thời kì đầu, SGDCK đợc tổ chức dới hình thức các câu lạc bộ mini
dần dần phát triển thành các tổ chức phi lợi nhuận do các thành viên sở hữu.
Tuy nhiên, hội đồng quản trị của SGDCK, bên cạnh những thành viên do
công ty thành viên cử ra vẫn có một số thành viên do chính phủ đề cử.
Là thành một công ty cổ phần, do các công ty thành viên, các ngân
hàng và cả các tổ chức không phải là thành viên sở hữu.
Là một tổ chức do chính phủ sở hữu: Có một vài nớc trong những giai
đoạn lịch sử nhất định, SDGCK do chính phủ sở hữu (nh trờng hợp của Hàn
Quốc). Trong các hình thức trên, hình thức sở hữu thành viên là phổ biến
nhất. Hình thức này cho phép SGDCK có quyền tự quản ở mức độ nhất định,
tính hiệu quả và sự nhanh nhạy trong vấn đề quản lý tốt hơn các hình thức

lệch về giá cả và lãng phí về cơ sở vật chất và kĩ thuật.
Chính vì vậy, xu hớng chúng trái ta hiện nay là hợp nhất các SDGCK
vào một thị trờng thống nhất trong cả nớc. Với sự phát triển của hệ thống vi
tính, xu hớng chung của các nớc là hợp nhất các SDGCK vào một thị trờng
thống nhất, với một sàn giao dịch có nối mạng với nhau. Thực tế cho thấy
việc tồn tại nhiều sở giao dịch chứng khoán sẽ dẫn đén việc cạnh tranh, chia
cắt thị trờng, chênh lệch về giá cả và lãng phí về cơ sở vật chất kĩ thuật.
Thị tr ờng phi tập trung (OTC)
Tại hầu hết các nớc, bên cạnh thị trờng giao dịch tập trung dành cho
việc giao dịch chứng khoán của những công ty lớn đã qua nhiều năm thử
thách của thị trờng, còn có thị trờng phi tập trung (OTC) dành cho việc giao
dịch chứng khoán của những công ty vừa và nhỏ. Thị trờng OTC đại diện cho
một thị trờng thơng lợng, nơi mà một ngời bán thơng lợng với một ngời mua.
Các hoạt động thờng đợc diễn ra ngoài SDGCK và thờng đợc sử dụng cho
11
các chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ không đủ tiêu chuần niêm yết.
Thông thờng thị trờng giao dịch tập trung đợc thành lập trớc, sau đó rất nhiều
năm thị trờng OTC mới đợc khởi động, vì việc thành lập thị trờng OTC đòi
hỏi nhiều vấn đề kinh phí, trang thiết bị kỹ thuật và vấn đề giám sát.
Các công ty trên thị trờng OTC đợc gọi chung là các nhà môi giới -
giao dịch bởi họ có thể mua, bán chứng khoán với t cách là ngời môi giới
hoặc với t cách chính chủ. Với t cách ngời tạo thị trờng, công ty có thể bán
cho khách hàng chứng khoán dự trũ của họ hoặc mua chứng khoán từ khách
hàng cho tài khoản của riêng họ. Với t cách là ngời môi giới, công ty có thể
mua bán chứng khoán với một nhà tạo thị trờng khác. Dù hoạt động với t
cách nào đi nữa, nhà môi giới giao dịch cũng phải nói rõ cho khách hàng biết
họ đang thực hiện lệnh của khách hàng với t cách gì.
Khi hoạt động với t cách ngời môi giới hay đại diện, công ty phải công
bố mức hoa hồng mà họ đòi hỏi. Khi giao dịch cho mình, một nhà môi giới
giao dịch cố gằng thu lợi nhuận bằng thao tác nâng giá (mark up) hay

thể ở bất cứ số ngoại tệ nào mà họ có hay họ muốn bỏ ra để mua cổ phần
không nhất thiết phải đòi hỏi một mức vốn nhất định nh đầu t trực tiếp vào
một dự án.
Thị trờng chứng khoán điều tiết việc phát hành cổ phiếu. Vai trò điều
tiết của thị trờng chứng khoán còn có thể hớng các đơn vị đầu t vào các
nghành hay lĩnh vực khuyến khích bằng cách phát hành cổ phiếu của những
đơn vị đã đợc đánh giá tơng đối chính xác.
Thị trờng chứng khoán tạo thói quen về đầu t: sự phát triển của thị tr-
ờng chứng khoán có sức hấp dẫn và tạo thói quen cho mọi ngời tham gia vào
hoạt động của thị trờng.
b.Nh ợc điểm:
Yếu tố đầu cơ dễ gây ảnh hởng dây chuyền làm cho cổ phiếu có thể
tăng giá tạo ra sự khan hiếm hay thừa làm cho giá cổ phiếu có thể lên xuóng
đột ngột khi có sự câu kết mua bán nội gián: dùng thông rin nội bộ trong
một đơn vị để mua bán cổ phiếu của đơn vị đó nhằm thu lợi bất chính gây
ảnh hởng đến giá trị của cổ phiếu vi phạm nguyên tắc công bằng.
Mua bán cổ phiếu ngầm không qua thị trờng chứng khoán có thể gây
áp lực cho các nhà đầu t khác đa đến việc khống chế hay thay thế lãnh đạo
đơn vị.
13
Phao tin hoặc thông tin sai về một đơn vị kinh tế khác làm giá cổ
phiếu thay đổi đột ngột nhằm mua bán hởng lợi bất hợp pháp.
Một số ngời nói tằng thị trờng chứng khoán nh các sòng bạc. ý nghĩ
này đợc xuất phát có lẽ căn cứ vào mặt trái của thị trờng chứng khoán. kho
hệ thống pháp lý và hệ thống giám sát không có hiệu quảm hệ thống kinh
doanh kém và yếu sẽ là môi trờng cho việc đầu cơ, mua bán nội gián, Tuy
nhiên, có thể nói thị trờng chứng khoán mang lại nhiều u điểm hơn nhợc
điểm.
II.Một số vấn đề chung về thị tr ờng chứng khoán ở Việt Nam
1.Những thuận lợi cơ bản và thách thức trên con đ ờng xây dựng và phát

nớc mới phát triển sau nên có thể tận hởng các kinh nghiệm quí báu của các
nớc đi trớc. Sự giúp đỡ của quốc tế cũng rất nhiệt tình và có hiệu quả.
Nớc ta là nớc mới phát triển, tài nguyên cha đợc thăm dò và khai thác
đầy đủ. Đây là yếu tố quan trọng cuốn hút vốn đầu t nớc ngoài mà lâu nay ta
mới chú trọng khai thác theo hớng trực tiếp. Đây cũng là yếu tố thuận lợi cho
sự phát triển của thị trờng chứng khoán, nhất là việc mở rộng ra thị trờng
quốc tế.
Nhờ chính sách kinh tế mở cửa, hội nhập với bên ngoài, kinh tế đối
ngoại đang thu đợc những thành quả rất đáng phấn khởi và là yếu tố cực kỳ
quan trọng cho sự phát triển của thị trờng chứng khoán.
b.Những khó khăn và thách thức:
Đã nói đến thị trờng thì phải nói đến hàng hoá của thị trờng đó. Nh trái
phiếu đề cập ở phần trên, hàng hoá của thị trờng chứng khoán Việt Nam hiện
nay đang rất nghèo nàn về cả số lợng và chủng loại, chứng khoán thơng có
danh, tính thanh khoản kém. Việc phát triển nó gặp rất nhiều khó khăn.
Công tác cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc, tuy nhà nớc có quyết
tâm cao, nhng thực tiễn lại bị ách tắc do nhận thức cha đầy đủ về nó. Một
cản trở khác rất quan trọng nữa là: mặc dầu việc cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nớc vừa hợp ý Đảng, vừa hợp lòng dân song lại không vừa lòng ban lãnh
đạo hiện tại và một bộ phận ngời lao động kém hiệu quả của doanh nghiệp.
Họ sợ mất quyền, mất vị trí. Bên cạnh đó, cơ chế cổ phần hoá cha đầy đủ và
đồng bộ. Quy trình, định giá tài sản, chính sách u đãi cho xí nghiệp cổ phần
15
hoá, chế độ với ngời lao động cha thoả đáng nh vấn đề cấp không cổ phần
cho ngời lao động. Chúng ta cũng cha có danh mục cụ thể cho ngòi lao động
và các công ty cổ phần, chỉ chú trọng cổ phần hoá các doanh nghiệp làm ăn
thua lỗ. Thông tin công khai của doanh nghiệp cổ phần cũng hạn chế, kém
tin cậy, cha chiếm đợc lòng tin của ngời đầu t.
Số công ty hội đủ các điều kiện để phát hành chứng khoán cha nhiều:
làm ăn hiệu quả, ổn định, chấp nhận phát hành chứng khoán rộng rãi ra công

(TRANSIMEX) vào giao dịch. Phiên giao dịch thứ 60, cổ phiếu của CtyCP
Chế biến hàng xuất khẩu LongAn (LAFFOOCO) đợc đa vào giao dịch. Ngày
16/7/2001, có thêm cổ phiếu của CtyCP Khách sạn Sài Gòn (SGH) đợc đa
vào giao dịch. Tính đến ngày 28/7/2001, trên thị trờng có 6 công ty niêm yết
với tổng số cổ phiếu đăng kí niêm yết là 33,8 tỷ đồng (tính theo giá trị sổ
sách).
Trái phiếu:
Trong 1 năm qua, TTGDCK Tp.HCM đã tổ chức 8 phiên đấu thầu trái
phiếu chính phủ qua TTGDCK, trong đó đã tổ chức thành công 3 đợt đấu
thầu, tổng giá trị trái phiếu chính phủ trúng thầu là 805 tỷ đồng, thời hạn 5
năm lãi suất từ 6,5%/năm đêa 7,3%/năm. có 5 đợt đấu thầu không thành
công vì lãi suất đặt thầu cao hơn lãi suất chỉ đạo của Bộ Tài Chính. Bên cạnh
đó, Kho bạc Nhà nớc đã phát hành 2 đợt trái phiếu chính phủ theo hình thức
bảo lãnh phát hành với tổng giá trị 700 tỷ đồng. Nh vậy, đến nay đã có trên
1.500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ đợc niêm yết trên thị trờng chứng khoán.
UBCKNN đã phối hợp với NHTW chỉ đạo hớng dẫn việc đa trái phiếu
trung và dài hạn của các ngân hàng thơng mại lên niêm yết và giao dịch trên
TTGDCK Tp.HCM. Đến nay có 2 loại trái phiếu của Ngân hàng Đầu t và
Phát triển Việt Nam đợc niêm yết tại TTGDCK Tp.HCM với tổng giá trị
niêm yết là 157,7 tỷ đồng, chiếm 14,75% tổng giá trị phát hành.
Hoạt động của các công ty niêm yết:
Hoạt động của các công ty kể từ khi niêm yết cổ phiếu trên TTGDCK
Tp.HCM cho thấy có những chuyển biến tốt. Do áp lực của cạnh tranh, công
khai thông tin, nên các công ty này đã có những tiến bộ trong việc điều hành
quản lý mở rộng sản xuất, kinh doanh. Các công ty niêm yết đều có tốc độ
tăng trởng cao về doanh thu và lợi nhuận. Doanh thu năm 2000 tăng 25
36%, lợi nhuận tăng 16%-20%. Các công ty niêm yết bắt đàu làm quen với
TTCK và bớc đầu đã thực hiện đợc những quy định công bố công khai thông
17
tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh tế tài chính của mình ra công

18
Lu ký, thanh toán, bù trừ:
TTGDCK Tp.HCM thực hiện đăng ký, lu ký và thanh toán bù trừ cho
9 loại chứng khoán. Đến nay, số cổ phiếu đợc lu ký chiếm 43,8% cổ phiếu lu
hành của các công ty niêm yết. Còn một bộ phận chứng khoán cha lu ký tập
trung nên cha kiểm soát đợc việc mua bán, và sang tên chuyển nhợng cho
những cổ phiếu này, gây khó khăn cho việc xác định và quản lý cổ đông lớn.
Việc thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán giữa TTGDCK
Tp.HCM và công ty chứng khoán qua Ngân hàng chỉ định thanh toán thực
hiện thông suốt theo chế độ quy định.
Công bố thông tin:
Việc công bố công khai thông tin của các bên tham gia thị trờng nh
công ty niêm yết, công ty chứng khoán đã bớc đầu đi vào nề nếp, song vẫn
còn có những trờng hợp cha tuân thủ đúng các quy định của quy chế công bố
thông tin. Một số công ty niêm yết còn nộp báo cáo không đúng hạn.
Trong thời gian vừa qua UBCKNN và TTGDCK Tp.HCM đã thực hiện
việc kiểm tra, chấn chỉnh và hoàn thiện quy trình và chất lợng công bố thông
tin của các bên tham gia thị trờng. Bên cạnh đó, UBCKNN và TTGDCK đã
phối hợp với các phơng tiện thông tin đại chúng tuyên truyền về TTCK cho
ngời đầu t, giúp họ nâng cao trình độ hiểu biết về lĩnh vực mới mẻ này.
c.Điều hành của TTGDCK Tp.HCM
Các hoạt động của TTGDCK Tp.HCM nhằm vào việc điều hành hoạt
động giao dịch, hoạt động lu ký, đăng ký và thanh toán bù trừ và giám sát
hoạt động công bố thông tin. Qua 151 phiên giao dịch, hệ thống giao dịch đã
hoạt động trôi chảy, không có các sự cố xảy ra. TTGDCK Tp.HCM đã đảm
bảo đăng ký, lu ký và thanh toán bù trừ cho các cổ đông, theo dõi tình hình
mua bán và tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của thành viên Hội đồng quản trị và cổ
đông lớn.
Trung tâm đã thờng xuyên nhắc nhở, đôn đốc tổ chức niêm yết nộp
đầy đủ các báo cáo định kỳ, báo cáo không định kỳ, yêu cầu tổ chức niêm

theo dõi sát và phát hiện những vi phạm của khách hàng.
Tổ chức lu ký:
Cho tới nay, UBCKNN đã cấp phép hoạt động lu ký chứng khoán cho
10 tổ chức, bao gồm 7 công ty chứng khoán và 3 chi nhánh ngân hàng nớc
ngoài. Sau một năm hoạt động, các công ty chứng khoán và chi nhánh ngân
20
hàng nớc ngoài đã tích cực phát triển khai nghiệp vụ lu ký, tuân thủ các quy
định của UBCKNN và TTGDCK Tp.HCM. Hoạt động lu ký, thanh toán bù
trừ và đăng ký chứng khoán về cơ bản đợc thực hiện tốt.
Ngân hàng chỉ định thanh toán:
Trong quá trình chuẩn bị để đa TTGDCK Tp.HCM đi vào hoạt đông,
UBCKNN đã phối hợp với NHTW cho phép Ngân hàng Đầu t và Phát triển
Việt Nam làm ngân hàng chỉ định thanh toán. Cho đến nay, hoạt động thanh
toán tiền cho các giao dịch chứng khoán của ngân hàng chỉ định thanh toán
đợc thực hiện tốt, cha có hiện tợng vi phạm nguyên tắc thanh toán.
Công ty kiểm toán:
UBCKNN đã lựa chọn tổ chức kiểm toán độc lập cho các tổ chức phát
hành và kinh doanh chứng khoán. Căn cứ vào giấy phép hoạt động kiểm toán
do Bộ Tài Chính cấp, đến nay UBCKNN đã chấp thuận cho 6 công ty kiểm
toán đợc kiểm toán cho các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán.
e.Quản lý và giám sát thị tr ờng
Xác định công tác quản lý, giám sát hoạt động thị trờng đóng vai trò
quan trọng có tính quyết định đối với sự ổn định và phát triênr của TTCK,
ngay từ khi thị trờng bắt đầu hoạt đông UBCKNN đã rất chú trọng công tác
này.
Trong quá trình điều hành thị trờng, UBCKNN đã chỉ đạo sát sao và
thực hiện một số biện pháp nhằm ổn định thị trờng nh sau:
Để đảm bảo cho thị trờng phát triển ổn đinh, trong thời gian đầu
UBCKNN qui định biên độ giao dịch cổ phiếu là 2%, đồng thời quy định giá
tham chiếu cổ phiếu trong phiên giao dịch đầu tiên. trong quá trình diễn biến

tin của các công ty niêm yết bớc đầu đã đi vào nề nếp.
TTGDCK Tp.HCM ra đời là bớc thí điểm tập dợt ban đầu rất quan
trọng, qua thực tế hoạt động của thị trờng vừa làm vừa rút kinh nghiệm nâng
cao trình độ quản lý, điều hành của UBCKNN, TTGDCK Tp.HCM và các tổ
chức tham gia thị trờng
Hoạt động của TTGDCK Tp.HCM bớc đầu đã thu hút đợc sự quan tâm
của đông đảo công chúng đầu t và sự hiểu biết, làm quen với hình thức đầu t
mới cả công chúng đợc tăng cờng.
22
Thông qua hoạt động của thị trờng mà các công ty tham gia niêm yết
tận dụng đợc lọi thế mà thị trờng đem lại, vị thế và uy tính của công ty đợc
nâng lên.
Hoạt động của TTCK cũng đã góp phần đẩy nhanh tiến trình cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Mặt còn hạn chế
Khối lợng hàng hoá niêm yết và giao dịch trên thị trờng cha nhiều,
phạm vi hoạt động của thị trờng còn hep, mới có 6 loại cổ phiếu đợc đăng ký
để niêm yết, trong khi đó nhu cầu đầu t cổ phiếu của công chúng lớn, tạo ra
sự mất cân đối cung và cầu. Mặc cù, UBCKNN đã phối hợp với các Bộ
nghành liên quan và trực tiếp làm việc với một số doanh nghiệp để hớng dẫn
việc tham gia niêm yết nhng kết quả đến nay vẫn còn rất hạn chế. Nhiều
doanh nghiệp cha muốn tham gia niêm yết vì thực tế họ cha có nhu cầu về
vốn (một số còn đợc Ngân sách cấp hoặc cho vay u đãi); tâm lý còn ngại
kiểm toán, công khai tài chính và công bố thông tin. Mặt káhc công ty cha
thấy hết lựi ích của việc tham gia niêm yết.
Trái phiếu chính phủ tuy đã đợc đa vào niêm yết nhng số lợng giao
dịch rất thấp, nguyên nhân chính là do lãi suất trái phiếu thấp hơn mặt bằng
lãi suất hiện nay. Lãi suất hiện hành của ngân hàng là 7%/năm, có ngân hàng
là 8%/năm, trong khi đó lãi suất trái phiếu chính phủ chỉ có 6,5%/năm nên
không hấp dẫn ngời đầu t. trái phiếu chính phủ phát hành qua đấu thầu và

quyết định của chính phủ và sự phối hợp tích cực với các bộ, ngành liên
quan, các địa phơng và doanh nghiệp, phấn đấu từ nay đến cuối năm 2001 có
thêm khoảng 10 công ty tham gia niêm yết.
Nâng cao năng lực hoạt động nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của các
tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán; tiếp tục mở các địa điểm giao dịch
của công ty chứng khoán nhằm mở rộng phạm vi phục vụ các nhà đầu t trong
cả nớc.
Xây dựng hệ thống giao dịch mới, hiện đại, đáp ứng đợc nhu cầu giao
dịch, phù hợp tốc độ phát triển của thanh toán. Đa TTGDCK Hà Nội đi vào
hoạt động, tạo một TTCK đồng bộ, thống nhất trong cả nớc.
Trên cơ sở thực tiễn của thanh toán thờng xuyên rà soát, chỉnh sửa,
hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy cho hoạt động của TTCK, vừa tạo cho
các đối tợng tham gia thanh toán 1 hành lang pháp lý phù hợp để phù hợp để
24
hoạt động hiệu quả, vừa nâng cao năng lực quản lý Nhà nớc của cơ quan
quản lý thanh toán.
Thờng xuyên thực hiện công tác giám sát, kiểm tra hoạt động thanh
toán theo pháp luật, đảm bảo hoạt động trên thị trờng: công bằng lành mạnh
và minh bạch. Từng bớc nâng cao năng lực, việc tự chịu trách nhiệm trong
điều hành, tổ chức giao dịch chứng khoán của TTGDCK; phối hợp chặt chẽ
trong chỉ đạo, phản hồi thông tin thanh toán giữa UBCKNN và TTGDCK.
III.Một số kiến nghị
Để thúc đẩy sự phát triển và từng bớc nâng qui mô, chất lợng hoạt
động của TTCK Việt Nam, UBCKNN xin kiến nghị Chính phủ và các Bộ,
ngành một số vấn đề sau:
Việc tăng hàng hoá cho thanh toán chứng khoán vẫn là nhiệm vụ trọng
tâm và cấp bách trong thời gian tới. Ngoài các giải pháp UBCKNN kiến nghị
trớc đây đang đợc các Bộ, ngành liên quan thực hiện nh: cho phép ngân hàng
thơng maị cổ phần ra niêm yết, thực hiện thí điểm CHP và niêm yết một số
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, bán bớt cổ phần Nhà nớc nắm giữ tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status