Mục Lục
Mở đầu 3
Nội dung 4
I. Cơ sở lý luận của việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần trong thời kỳ quá độ ở nớc ta. 5
1. Lý luận Mac - Lênin về sự phát triển của sản xuất
hàng hoá và kinh tế hàng hoá. 5
2. Điều kiện ra đời của nền kinh tế hàng hóa.
3. Ưu thế của sản xuất hàng hóa. 6
4. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá trong thời
kỳ quá độ. 7
II. Tính tất yếu khách quan phải phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần ở Việt Nam. 8
1. Do yêu cầu của phát triển lực lợng sản xuất. 8
2. Do tồn tại nhiều thành phần kinh tế. 9
3. Do đòi hỏi nâng cao đời sống nhân dân. 10
III. Những giải pháp phát triển kinh tế hàng hoá. 11
1. Thực trạng kinh tế hàng hóa nớc ta hiện nay. 11
1.1. Những thành tựu đạt đợc khi có chính sách mới. 11
1.2. Những khó khăn và thách thức mới. 12
2. Những giải pháp phát triển kinh tế hàng hoá ở Việt Nam. 14
2.1. Đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá sở hữu tạo điều kiện
phát triển mạnh nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nớc ta. 14
2.2. Đẩy mạnh quá trình phân công lại lao động xã hội. 17
2.3. Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trờng. 17
2.4. Tiếp tục đổi mới và nâng cao vai trò quản lý vĩ
mô của Nhà nớc. 20
2.5. Đẩy mạnh việc sản xuất và hoàn thiện hệ thống
pháp luật và cải cách nền hành chính quốc gia. 21
Kết luận 24
Sinh viên thực hiện.
Trần Hữu Đạt
3
Nội dung
I. Cơ sở lý luận của việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
trong thời kỳ quá độ ở n ớc ta.
Bất cứ nền kinh tế nào cũng bắt đầu dới dạng mần mống, tiền đề trong
nền kinh tế cũ, dần dần phát triển và chiến thắng kinh tế cũ thì mới trở
thành nền kinh tế mới. Dới chế độ công xã nguyên thuỷ trong điều kiện
những công cụ lao động quá thô sơ lúc bấy giờ, một cá nhân không thể
sống và lao động độc lập đợc, bởi vậy họ phải liên kết lao động tập thể để
chống lại sự uy hiếp của thiên nhiên, của thú dữ và những cộng đồng ngời
khác. Ngời nguyên thuỷ không có quan niệm t hữu, tất cả t liệu sản xuất, t
liệu sinh hoạt đều thuộc sở hữu công cộng, của thị tộc và bộ lạc. Đây là nền
kinh tế tự cung tự cấp. Trong xã hội nô lệ và phong kiến, nền kinh tế cũng
cha phải là nền kinh tế hàng hoá. Khi đó nền kinh tế hàng hoá mới chỉ là
mầm mống, là tiền đề, và nó vẫn bị nền kinh tế tự nhiên chi phối. Chỉ đến
khi xã hội t bản ra đời thì kinh tế hàng hoá mới giữ vai trò cho phối đời
sống kinh tế xã hội và khi đó mới thật sự là nền kinh tế hàng hoá.
1. Lý luận của Mác - Lênin về sự phát triển của sản xuất hàng hoá và
kinh tế hàng hoá.
a. Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá là hai hình thức tổ chức kinh tế -
xã hội đã tồn tại trong lịch sử hai hình thức này đợc hình thành trên cơ sở
trình độ phát triển của lực lợng sản xuất xã hội,trình độ phân công lao động
động xã hội, trình độ phát triển và phạm vi của quan hệ trao đổi.
Trong nền kinh tế tự nhiên, ngời sản xuất cũng đồng thời là ngời tiêu
dùng. Tự sản xuất, tự tiêu dùng là đặc điểm nổi bật của kinh tế tự nhiên.
Mục đích của sản xuất là tạo ra những giá trị sử dụng nhằm thoả mãn nhu
ngành thơng nghiệp. Khi thơng nghiệp ra đời quan hệ trao đổi đã có mầu
sắc mới. Ngời sản xuất và ngời tiêu dùng quan hệ với nhau qua nhân vật thứ
ba là thơng nhân. Thơng nghiệp phát triển làm cho sản xuất và lu thông
hàng hoá cùng với lu thông tiền tệ đợc phát triển nhanh chóng. Quan hệ
trao đổi ngày càng đợc mở rộng và phát triển đỏi hỏi hệ thống giao thông
vận tải cũng phải mở rộng và phát triển đây là điều kiện vật chất làm tăng
thêm các phơng tiện trao đổi mở rộng thị trờng.
Điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hoá là sự tách biệt về kinh tế
giữa những ngời sản xuất do các quan hệ sở hữu khác nhau về t liệu sản
xuất quy định. Dựa vào điều kiện này mà ngời chủ t liệu sản xuất có quyền
quyết định việc sử dụng t liệu sản xuất và những sản phẩm do họ sản xuất
ra. Nh vậy quan hệ sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất đã chia rẽ ngời sản
xuất, làm cho họ tách biệt với nhau về mặt kinh tế. Trong điều kiện đó, ngời
sản xuất này muốn sử dụng sản phẩm lao động của ngời sản xuất khác thì
phải trao đổi sản phẩm lao động cho nhau. Sản phẩm lao động trở thành
hàng hoá.
5
c. Ưu thế của sản xuất hàng hoá
Lịch sử phát triển sản xuất của xã hội là sản xuất tự túc tự cấp tiến
lên sản xuất hàng hoá (hay từ kinh tế tự nhiên hàng hoá). So với nền sản
xuất tự túc tự cấp thì sản xuất hàng hoá có u thế hơn hẳn về nhiều mặt:
Thứ nhất, do nhu cầu lớn và không ngừng tăng lên nên sản xuất hàng
hoá là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thứ hai, sự phát triển của sản xuất hàng hoá làm cho phân công lao
động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hoá, hợp tác hoá ngày càng
tăng, mối liên hệ giữa các ngành các vùng ngày càng chặt chẽ. Từ đó nó
xoá bỏ tính tự cấp, tự túc, bảo thủ trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá
trình xã hội hoá sản xuất và lao động.
Thứ ba, sản xuất tự túc tự cấp là sản xuất trong một môi trờng không
có cạnh tranh, còn môi trờng hoạt động của sản xuất hàng hoá là một môi
hàng hoá đối lập với kinh tế tự nhiên là loại hình kinh tế tiến hành sane xuất
sản phẩm để thoả mãn nhu cầu bản thân ngời sản xuất. ở nền kinh tế tự
nhiên thì ngời nông dân vừa phải tạo công cụ lao động nh cuốc xẻng vừa
6
trồng lúa còn trong nền kinh tế hàng hoá thì ngời nông dân chỉ phải trồng
lúa còn ngời thợ rèn làm ra cuốc xẻng để đổi lấy lúa gạo của ngời nông dân.
Việc ngời nông dân từ việc vừa phải sản xuất công cụ lao động vừa phải
trồng lúa và chuyển sang chỉ trồng lúa còn trao đổi lấy công cụ cuốc xẻng
của ngời thợ rèn chính là phân công lao động xã hội đó là sự chuyên môn
hoá ngời sản xuất thành những ngành nghề khác nhau, mỗi ngời chỉ sản
xuất một thứ hoặc một vài thứ sản phẩm, song nhu cầu của họ lại bao hàm
nhiều thứ khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu họ cần có sự trao đổi sản phẩm
với nhau. Nhng nếu chỉ có sự phân công lao động thôi thì cha đủ để có sản
xuất hàng hoá, đây mới chỉ là điều kiện cần của sản xuất hàng hoá. Nếu chỉ
có phân công lao động và tất cả t liệu sản xuất đều là của chung nh vậy mỗi
ngời sản xuất cung cấp sản phẩm cho xã hội và xã hội cung cấp sản phẩm
cho cá nhân tiêu dùng bởi vậy ở đây không có sự mua bán, trao đổi hàng
hoá với nhau nên chỉ có sự phân công lao động xã hội thôi thì chứa đủ để có
đợc nền sản xuất hàng hoá.
Ngoài điều kiện phân công lao động xã hội thì để chuyển từ kinh tế tự
nhiên sang kinh tế hàng hoá cần phải xuất hiện chế độ t hữu hoặc các hình
thức sở hữu khác nhau của t liệu sản xuất và sản phẩm, đây là điều kiện đủ
để có đợc sản xuất hàng hoá. Ta đặt vấn đề ngợc lại, nếu chỉ có điều kiện
hình thức sở hữu khác nhau về t liệu sản xuất và sản phẩm thì có thể chuyển
đơc từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh têa hàng hoá hay không? Câu trả
lời là không vì nếu chỉ có điều kiện sở hữu t nhân về t liệu sản xuất mà
không có sự phân công lao động sã hội thì cha thể có sản xuất hàng hoá,
ngời nông dân vừa dệt vải, vừa tự rèn lấy công cụ và trồng lúa. Tức là nền
kinh tế vẫn mang tính tự cung tự cấp hoàn toàn thì sản xuất đó không phải
là nền sản xuất hàng hoá.
dạng, tạo điều kiện cho sự phát triển độc lập, tự do bình đẳng của mỗi cá
nhân.
- Thứ t, nền sản xuất tự cấp tự túc khép kín đã cản trở sự phát triển của
phân công lao động xã hội, trái lại do sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ sở
phân công lao động xã hội, thúc đẩy sự chuyên môn hoá các ngành sản
xuất, làm cho các ngành sản xuất ngày càng đợc chuyên môn hoá và phát
triển mạnh mẽ, trình độ kỹ thuật ngày càng đợc nâng cao, trên thế giới hiện
nay khoa học kỹ thuật phát triển vô cùng nhanh chóng nhất là trong lĩnh
vực công nghệ thông tin và điện tử
Nh vậy ta có thể thấy rằng, so với nền sản xuất tự cấp tự túc thì nền sản
xuất hàng hoá tỏ ra có nhiều u điểm hơn hẳn, và điều quan trọng la nó luôn
kích thích cho sản xuất phát triển.
4. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độ.
Ta thấy rằng từ khi chủ nghĩa xã hội ra đời và phát triển thành một hệ
thống trên thế giới cho đến trớc thập kỷ 80, vấn đề có hay không tồn tại của
nền sản xuất hàng hoá trong chủ nghĩa xã hội luôn là đề tại tranh luận trong
giới nghiên cứu lý luận Macxit. Nhìn chung, về phơng diện lý luận, quan
điểm chính thống chi phối trong suốt mấy thập kỷ qua là quan niệm cho
rằng: kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế phát triển theo kế hoạch cân
dối và có kế hoạch cùng với các quy luật kinh tế đặc thù khác của chủ nghĩa
xã hội, Nhà nớc có vai trò chủ yếu trong quá trình tái sản xuất và phân phối
sản phẩm mà không cần đến các quan hệ trao đổi hàng hoá trên thị trờng.
Kinh tế hàng hoá bị coi nhẹ, đợc coi là đặc trng riêng của nền kinh tế t bản
chủ nghĩa cần phải hạn chế và đi tới xoá bỏ. Nhng trên thực tế chính điều
đó là nguyên nhân chủ yếu làm trì trệ, kìm hãm đa nền kinh tế của các quốc
gia XHCN đến khủng hoảng và tan vỡ. Từ những thực tế trên ta thấy quan
điểm cho rằng sản xuất hàng hoá là đặc trng riêng của chủ nghĩa t bản là
hoàn toàn sai lầm. Mặt khác theo Cacmac sản xuất hàng hoá ra đời trên cơ
sở phân công lao động xã hội và chế độ t hữu về t liệu sản xuất bởi vậy sản
xuất hàng hoá tồn tại trong thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan vì:
1. Do yêu cầu của phát triển lực l ợng sản xuất .
Lực lợng sản xuất phát triển tỷ lệ thuận với tiến trình tập trung xã hội
hoá quan hệ sở hữu mà đỉnh cao là sở hữu toàn dân. Sự hình thành các tập
đoàn kinh tế, các công ty cổ phần, công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia
chính là những biểu hiện của quá trình xã hội hoá quan hệ sở hữu ở một
trình độ nhất định. Khi mà lực lợng sản xuất đang ở mức thấp thì tơng ứng
với nó là sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu phân tán.
Thế giới ngày nay do phát triển lực lợng sản xuất của khoa học, công
nghệ mà giàu có rất nhanh; những đi liền với nó là bất công xã hội ngày
càng tăng, sự giàu có phát triển không làm cho bất công xã hội giảm đi mà
ngày càng phát triển, để giải quyết mâu thuẩn này không có cách nào khác
là khi tăng trởng kinh tế phải đi đôi với giải quyết công bằng xã hội, ở đây
không có nghĩa là cào bằng sự siêng năng tích cực, sự biếng nhác; làm ăn
có hiệu quả khác nhau đều đợc hởng nh nhau; làm nh vậy sẽ triệt tiêu động
lực phấn đấu của con ngời. ở đây cần phải dùng quan hệ hàng hoá tiền tệ
để phân chia quyền lợi , chỉ có làm nh vậy mới làm giảm sự bất công xã
hội. Hơn nữa trình độ phát triển lực lợng sản xuất của nớc ta còn ở mức rất
thấp, sự phân công lao động xã hội gắn với sự tồn tại của nhiều chủ thể sở
hữu khác nhau nh các thực thể kinh tế độc lập, do vậy việc trao đổi sản
phẩm không thể thực hiện bằng cách náo khác là thực hiện trao đổi hàng
hoá thông qua tiền tệ.
Trong thời kỳ quá độ của nớc ta hiện nay muốn phát triển lực lợng sản
xuất thì phải nâng cao xã hội hoá và chuyên môn hoá lao động mà điều này
chỉ có thể diễn ra thuận lợi trong nền kinh tế thị trờng.
Ngày nay, trên thế giới, do sự phát triển của lực lựng sản xuất của khoa
học công nghệ, đang có xu hớng quốc tế hoá đời sống nhân loại, xu hớng
này mở ra cả chiều rộng và chiều nghịch, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực tác
9
động đến con ngời, đến các quốc gia. Xu thế này đòi hỏi sự giao lu hợp tác,
hiểu biết lẫn nhau giữa các vùng và các quốc gia. Do vậy cần phải phát triển
những tác dụng tích cực của nền kinh tế hàng hoá. Nền kinh tế nhiều thành
phần là nguồn lực tổng hợp về nhiều mặt ( huy đông đợc mọi tiềm năng về
vốn, kỹ thuật và phát thy đợc mọi tiềm năng của con ngời Việt nam) có khả
năng đa nền kinh tế vợt qua đợc tình trạng thấp kém, đa nền kinh tế hàng
hoá phát triển ngay trong điều kiện nguồn vốn, ngân sách của Nhà nớc còn
hạn hẹp.
Một điều có ý nghĩa khá lớn là chúng ta đã nhận định đợc đó là: do
trong nền kinh tế hàng hoá chịu sự tác động của sự thay đổi cơ cấu ngành
kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng, bởi vậy lao động dịch vụ có khả
năng thu hút nguồn lao động không nhỏ, góp phần giải quyết đợc vấn đề
10
công ăn việc làm ở nớc ta hiện nay. Trong điều kiện đó các thành phần kinh
tế có khả năng mở rộng, tác dụng làm cho nền kinh tế hàng hoá và dịch vụ
phát triển.
Vậy đối với nớc ta hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hớng xhcn là một nhu cầu khách quan, là xu thế tất
yếu hợp thời đại.
3. Do đòi hỏi nâng cao đời sống nhân dân.
Vào thời kỳ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX này, dân tộc ta
bị sống đọa đầy dới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai.
Trong ách áp bức bọc lột, nhiều phong trào yêu nớc đã kế tiếp nhau diển ra
để chống lại bọn cớp nớc và bè lũ bán nớc, nhng những phong trào đó lần l-
ợt bị thất bại do không tìm đợc ra con đờng cứu nớc đúng đắn. Trong bối
cảnh đó Hồ Chí Minh với tên gọi Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm con đờng
cứu nớc tại bến cảng Nhà Rồng và Ngời đã tìm ra con đờng đúng đắn để
giải phóng dân tộc. Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng
mới giành đợc, Ngời đã nêu bật một chân lý Nớc độc lập mà dân không đ-
ợc hởng hạnh phúc thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì và Ngời thờng căn dặn
thắng đế quốc và phong kiến là tơng đối khó nhng thắng nghèo nàn, lạc
hậu còn khó khăn hơn nhiều.
Nam á.
Từ khi có chính sách đổi mới, thành tựu nổi bật nhất là đẩy lùi lạm phát,
chỉ trong một thời gian ngắn hàng loạt các đơn vị của thành phần kinh tế
kinh doanh thơng mại đợc hình thành, hoạt động trên mọi lĩnh vực từ xuất
nhập khẩu đến kinh doanh thiết bị nhỏ lẻ trên cả nớc. Các tổ chức này ra
đời đã làm cho thị trờng trở nên sôi động, khối lợng hàng hoá và tiền vốn từ
nhiều nguồn lực đợc huy động vào lu thông với mức mà trớc đây cha khi
nào có đợc. Việc ngăn sông cấm chợ đợc xoá bỏ, việc lu thông hàng hoá đ-
ợc dễ dàng, tình trạng khan hiếm hàng hoá đợc đẩy lùi, hiện tợng chênh
lệch giá giữa các vùng, khu vực bị hạn chế, nạn độc quyền trong kinh doanh
đợc giải quyết đáng kể, đời sống xã hội đợc nâng lên.
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế nớc ta phát triển tơng đối nhanh
và ổn định, lơng thực từ chỗ thiếu thốn cho đến nay không những đáp ứng
đợc nhu cầu trong nớc mà còn phục vụ cho xuất khẩu. Đầu năm 1988 có
nạn đói lớn ở nhiều vùng và lạm phát còn ở mức 393,8%, nhng từ năm 1989
trở đi, nớc ta đã bắt đầu xuất khẩu đợc mỗi năm 1- 1,5 tấn gạo; lạm phát
giảm dần, đến năm 1990 chỉ còn 67,4%, và đến năm 1999 vừa qua nớc ta
đã trở thành một nớc xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới, trên cả Mỹ.
Nhiều công trình trọng điểm về kết cấu hạ tầng đợc xây dựng đã tạo thêm
sức mạnh vật chất và thế cân đối cho những bớc phát triển tiếp theo.
Một thành tựu không nhỏ nữa đó là việc xuất hiện nhiều khu công
nghiệp lớn, ngành nghề mơí đã tạo thêm nhiều việc làm cho lao động xã hội
từ đó những tệ nạn xã hội cũng dần đợc kiềm chế, sự tăng trởng kinh tế
cũng đã góp phần nâng cao đời sống các tầng lớp dân c, số hộ nghèo đói ở
nớc ta đợc giảm đi đáng kể, nhiều hộ gia đình từ chỗ không đủ ăn đến đủ
ăn, đến nay thậm chí có những hộ gia đình từ khi có chính sách kinh tế mới
đã mạnh dạn đầu t sản xuất và trở thành những ông chủ giầu có. Đời sống
khôn phát huy đợc hết năng lực sản xuất. Đội ngũ những nhà quản lý doanh
nghiệp thành thạo còn quá ít, cha đáp ứng đợc nhu cầu to lớn của thực tiễn,
số lợng lao động thì lớn nhng số lợng đợc đào tạo kỹ thuật có khả năng đáp
ứng yêu cầu, đòi hỏi của những công nghệ hiện đại trên thế giới còn chiếm
tỷ lệ qúa nhỏ dẫn đến tình trạng tuy có nguồn lực dồi dào nhng không thể
khai thác đợc triệt để vì còn thiếu nhân lực có kỹ thuật có tay nghề. Hơn
nữa, thu nhập của ngời làm công ăn lơng cũng nh của nông dân lao động
còn thấp (khoảng 200 USD/ngời/năm, một trong những nớc có thu nhập
bình quân trên đầu ngời thấp nhất thế giới ), do đó sức mua hàng cha cao
làm cho dung lợng thị trờng trong nớc còn ở mức nhỏ hẹp, điều này khiến
chúng ta không thể khai thác hết đợc những tiềm năng phát triển trong nớc,
và cũng hạn chế cả khả năng hấp dẫn với những nguồn đầu t từ nớc ngoài.
Đứng trớc vấn đề trên, chúng ta phải đa ra những giải pháp hữu hiệu để giải
quyết.
2. Những giải pháp phát triển kinh tế hàng hoá Việt Nam
2.1. Đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá sở hữu tạo điều kiện phát
triển mạnh nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở n ớc ta.
a. Đối với kinh tế Nhà nớc.
Trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, một vấn
đề quan trọng cần nắm đợc đó là nền kinh tế Nhà nớc phải nắm vai trò chủ
đạo. Khi mà kinh tế Nhà nớc đủ mạnh và giữ đợc vai trò chủ đạo thì dễ lôi
cuốn đợc các thành phần kinh tế khác theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Nếu
không, thì không loại trừ khả năng thành phần kinh tế t bản t nhân sẽ lớn
mạnh hơn và kéo nền kinh tế quốc dân theo định hớng t bản chủ nghĩa,
thêm nữa thành phần kinh tế t bản t nhân đã, đang và sẽ đợc sự hậu thuẫn
rất lớn của quốc tế. Nhất là trong bối cảnh nớc ta hiện nay mọi thế lực
chống đối, phản động đang tìm mọi cách làm cho nền kinh tế t bản t nhân
của nớc ta thắng thế.
+ Thứ nhất, hoàn thành việc phân định doanh nghiệp hoạt động công ích
và các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả cũng nh các doanh nghiệp kinh
doanh giữ một vai trò vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Nhà nớc cần tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp này có đủ số vốn lu động cần thiết, đợc vay
vốn u đãi để đổi mới thiết bị công nghệ, kiện toàn tổ chức và đổi mới cơ chế
quản lý. Còn đối với những doanh nghiệp kinh doanh chuyển sang hoạt
động theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần thật sự
tự chủ thì phải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình.
+ Thứ hai, xác định lại doanh nghiệp Nhà nớc đầu t 100% vốn, loại
doanh nghiệp mà Nhà nớc nắm số cổ phần khống chế và những doanh
nghiệp Nhà nớc chỉ cần giữ cổ phần ở mức độ thấp và đa dạng hoá sở hữu
thông qua các biện pháp: cổ phần hoá, cho thuê kinh doanh, chuyển nhợng
quyền sở hữu và sử dụng trên cơ sở khắc phục mọi trở ngại khách quan và
chủ quan để đẩy nhanh tiến độ phát triển. Hớng dẫn, đôn đốc việc cổ phần
hoá doanh nghiệp theo những danh mục đã xác định, đảm bảo tiến độ triển
khai và kịp thời rút kinh nghiệm để tiến hành một cách vững chắc, không để
xẩy ra những sai lầm đáng tiếc. Đối với biện pháp tổng công ty hoá các
doanh nghiệp cần đợc xem xét theo hớng thu hẹp các tổng công ty đến mức
chỉ áp dụng trong những lĩnh vực phải đối diện cạnh tranh trực tiếp với nớc
ngoài, song song với việc xây dựng các công ty đa ngành, đa sở hữu và tạo
cơ chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong tổng công ty
14
b. Đối với kinh tế hợp tác.
Thành phần kinh tế hợp tác ở nớc ta hiện nay còn lúng túng, số hợp tác
xã hoạt động kém còn nhiều. Đây là một vấn đề cần phải tháo gỡ kịp thời
để đảm bảo cho nền kinh tế nhiều thành phần phát triển đúng hớng xã hội
chủ nghĩa. Để tháo gỡ vấn đề hoạt động kếm của hợp tác xã chúng ta cần
phải tổng kết kinh nghiệp phát triển hợp tác xã kiểu cũ trong nông nghiệp,
thúc đẩy hàng hoá phát triển.
Đối với thành phần kinh tế t bản t nhân này không tránh khỏi tính tự
phát là chạy theo lợi nhuận đơn thuần nảy sinh những hiện tợng tiêu cực và
làm tổn hại đến lợi ích chung của xã hội. Hiện nay, ở nớc ta tình trạng buôn
lậu, trốn thuế, và tiêu thụ hàng hoá giả còn phổ biến, bởi vậy những doanh
nghiệp thuộc thành phần kinh tế này Nhà nớc cần sử dụng nhiều biện pháp
để hạn chế, ngăn chặn những khuynh hớng tự phát, những hiện tợng tiêu
cực và hớng sự phát triển của các thành phần kinh tế này theo định hớng xã
hội chủ nghĩa.
e. Đối với thành phần kinh tế t bản Nhà nớc.
15
Đối với thành phần kinh tế này của nớc ta hiện nay, số vốn đầu t phát
triển còn thấp, do vậy Nhà nớc cần có nhng chính sách thu hút vốn đầu t
của các nhà t bản trong và ngoài nớc, đối với các nhà t bản nớc ngoài để
khuyến khích họ đầu t Nhà nớc cần tạo tâm lý yên tâm cho họ nh bằng cách
giữ vững ổn định về chính trị để họ nghĩ rằng những khoản đầu t của họ đợc
an toàn.
Nhà nớc cần có những chính sách khai phá những vùng đất còn bị bỏ
hoang những vùng đất thuộc nông thôn, miền núi nh có những u đãi đặc
biệt cho những ai đi khai phá và phảt triển ở những vùng đất này, mặt khác
cần phải nâng cấp hệ thống giao thông, thúc đẩy lu thông hàng hoá, giao lu
buôn bán giữa những vùng này với những vùng kinh tế phát triển trong nớc.
2.2. Đẩy mạnh quá trình phân công lại lao động xã hội.
Việc đẩy mạnh quá trình phân công lại lao động xã hội cũng chính là
quá trình đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nớc cần phải phát triển
mạnh theo hớng xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu. Trong mấy năm
vừa qua, tỷ lệ xuất khẩu của nớc ta tăng lên đáng kể nhng việc thúc đẩy
xuất nhập khẩu gặp một số khó khăn nh công nghiệp sản xuất hàng hoá
xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu đợc hình thành trong cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp, do vậy máy móc lạc hậu mấy thế hệ, các xí nghiệp, kho
công nghệ, các dịch vụ thông tin t vấn, thiết bị kiểm tra, kiểm soát và sử lý
nghiêm minh các trờng hợp gian lận thơng mại nh: kinh doanh trái phép,
trốn lậu thuế, tạo môi trờng cạnh tranh không lành mạnh trong sản xuất
kinh doanh. Thực hiện độc quyền Nhà nớc trong một số ngành, một số lĩnh
vực nhất định vì lợi ích chung của đất nớc.
Chỉnh đốn hoạt động của các tổ chức thơng nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế, đổi mới hệ thống thơng nghiệp Nhà nớc để làm tốt vai trò chủ
đạo khắc phục tình trạng buông lỏng thị trờng nông thôn miền núi.
Cần phải có phơng án kết hợp cả hai phơng hớng: Giảm chi phí sản xuất
để làm cơ sở cho việc giảm giá và tăng khối lợng sản phẩm cung ứng cho
thị trờng. Khi đó, sẽ kết hợp đợc cả hai yếu tố của ngời sản xuất và cả ngời
tiêu dùng.
17
b. Đối với thị trờng các yếu tố sản xuất.
Nhà nớc cần phải kìm hãm nguy cơ thất nghiệp, cần chú trọng vào việc
tạo thêm chỗ làm việc và tự tạo việc làm khuyến khích các cá nhân tổ chức
tổ chức tốt việc giới thiệu việc làm và đào tạo nghề nghiệp.
Tổ chức quản lý hớng dẫn tốt việc thuê mớn lao động nhằm bảo vệ lợi
ích chính đáng của ngời lao động và bảo đảm sự công bằng, bỉnh đẳng của
ngời lao động và ngời sử dụng ngời lao động trớc pháp luật.
c. Tổ chức quản lý tốt thị trờng bất động sản
Đất đai là quyền sở hữu của toàn dân, không phải của t nhân, không cho
phép mua bán đất đai, thực hiện tốt luật đất đai, xác định đúng giá các loại
đất để dự dụng có hiệu quả.
Chăm lo, giải quyết các vấn đề nhà ở cho nhân dân nhất là ở những vùng
đô thị phát triển, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xây dựng và
kinh doanh nhà ở theo sự quản lý và hớng dẫn của Nhà nớc.
d. Xây dựng thị trờng vốn và từng bớc hình thành thị trờng chứng
khoán.
Hiện nay, nớc ta đã hình thành thị trờng chứng khoán, nhng do thị trờng
ngẫu nhiên mà các nhà kinh tế học thế kỷ XV - XVII lại đánh giá cao vai
trò của ngoại thơng. Hó ví ngoại thơng nh máy bơm, nội thơng nh ống
truyền dẫn trong quá trình làm tăng của cải xã hội. Ngoại thơng sẽ đảm bảo
tái sản xuất mở rộng và nâng cao chất lợng của sản phẩm đầu vào và đầu ra.
Thông qua nhập khẩu, nền kinh tế có đợc hàng hoá, khoa học - kỹ thuật
hiện đại, thông tin, vốn, chất xám, những hàng tiêu dung, dịch vụ để đáp
ứng quá trình tái sản xuất trong nớc. Thông qua hoạt động xuất khẩu, mà
bán đợc hàng hoá ra nớc ngoài, thu tiền về để phục vụ những nhu cầu phát
triển kinh tế.
Để phát triển thị trờng ngoài nớc, tạo điều kiện mở rộng thị trờng trong
nớc, đảm bảo sự thông suốt giữa các thị trờng, cần thiết phải thực hiện các
nguyên tắc sau đây:
Một là, phải thực hiện xuất siêu. Để có tiền lãi cho tái sản xuất phát triển
thị trờng, hàng năm phải bán ra một số hàng lớn số hàng mà ta mua vào.
Muốn vậy, cần phải xuất thành phẩm chứ không xuất nguyên liệu. Phải chú
ý khuyến khích phát triển nông nghiệp, công nghiệp tiểu thủ công nghiệp
chế biến, đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế để thu đợc giá trị cao của hàng xuất
khẩu. Thực hiện thơng nghiệp trung gian, cho phép mang tiền đi lại t do qua
biên giới để buôn bán ở các nớc nhằm làm tăng nguồn tiền tệ của đất nớc.
Có chính sách bảo hộ hợp lý để khuyến khích các ngành kinh tế trong nớc
phát triển, thu hút công nghệ và khoa học kỹ thuật từ bên ngoài, ngân chặn
nhập những hàng hoá mà trong nớc có thể sản xuất và đáp ứng đợc nhu cầu
của ngời tiêu dùng.
Hai là, áp dụng nguyên lý lợi thế so sánh trong quan hệ trao đổi quốc tế.
Các yếu tố tự nhiên thuận ;ợi phải đợc xem xét cụ thể trong mối quan hệ với
các yếu tố kinh tế xã hội và kỹ thuật ở cả trong nớc và ngoài nơớ, từ đó
có phơng án tính toán chi tiết về từng mặt hàng và so sánh với trình độ quốc
tế để xác định sản xuất và cung cấp cho thị trờng thế giới loại hàng hóa nào
đó của nớc ta có lợi thế hơn.
2.4. Tiếp tục đổi mới và nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà n ớc.
thời kỳ cũng rất khác nhau. Có giai đoạn vai trò của pháp luật khá mờ nhạt
và trở nên thứ yếu trớc sức mạnh của phơng pháp điều chỉnh hành chính,
mệnh lệnh. Điều này đợc thể hiện rõ nét trong cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp. Ngày nay với cơ chế thị trờng nhiều thành phần ở nớc ta pháp luật
trở trở thành công cụ đặc biệt quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ
xã hội nói chung và các quan hệ kinh tế nói riêng. Vai trò của pháp luật
không chỉ đợc xác lập, thừa nhận mà việc củng cố, tăng cờng vai trò điều
chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ kinh tế hiện nay càng trở nên cấp
bách hơn bao giờ hết.
Hơn mời năm qua, những thành tựu của công cuộc đổi mới kinh tế ở n-
ớc ta đã gắn liền với những bớc biến đổi quan trọng của hệ thống pháp luật,
khẳng định vai trò to lớn của pháp luật trong việc mở đờng cho các quan hệ
kinh tế phát triển. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, dù đã đợc đổi mới cơ
bản nhng hệ thống pháp luật của nớc ta, đặc biệt là các văn bản trong lĩnh
vực kinh tế vẫn là hệ thống pháp luật của thời kỳ chuyển từ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng nhiều thành phần. Tính chất chuyển
đổi quá độ này làm cho pháp luật nớc ta nằm trong quá trình có nhiều biến
động và cha thể hình thành hệ thống pháp luật hoàn chỉnh có tính ổn định
lâu dài. Hệ thống pháp luật của nớc ta hiện nay vẫn cha thật sự hoàn thiện
và đồng bộ, còn nhiều thủ tục rờm rà gây nhiều khó khăn cho các hoạt động
sản xuất kinh doanh, trong luật kinh tế vẫn còn nhiều bất cập còn có những
khe hở tạo điều kiện cho một số những phần tử loợi dụng nhứng khe hở đó
để làm ăn phi pháp, tham ô tài sản của Nhà nớc. Để thực hiện có hiệu quả
sự quản lý của Nhà nớc đối với các hoạt động của đời sống kinh tế mà
không thơng hại đến quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, bên cạnh
việc xay dựng khung pháp luật kinh tế tạo môi trờng thông thoáng và an
toàn, cần phải xây dựng cơ chế pháp lý kiển tra, giám sát các hoạt động
kinh tế thông qua việc ban hành các đạo luật về kế toán thống kê, kiểm toán
theo các thuẩn mực kế toán thống kê quốc tế.
1. Giáo trình kinh tế chính trị - Tập 1.
2. Giáo trình kinh tế chính trị - Tập 2.
3. C.Mac và Anghen: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản. Toàn tập, tập 4
NXBCTQG và ST Hà Nội 1995.
4. V.I. Lenin - Toàn tập NXb Tiến bộ MCV, tiếng việt, 1978.
5. Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nớc Việt Nam.
6. Văn kiện Đại hội Đảng VIII.
7. Niên giám thống kê 1995.
8. Các sách báo và tạp chí có liên quan.
22