học thuyết hình thái kinh tế - xã hội với vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam - Pdf 10

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đờng lối đổi mới toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang đi
vào cuộc sống. Trong đờng lối đó, vấn đề phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc,
ĐHXHCN là vấn đề đợc đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện. Chủ trơng
trên, đợc triển khai trong thực tiễn, đã thu đợc những thành tựu quan trọng. Tuy
nhiên, đây là một hớng đi rất mới của con đờng CNXH. Con đờng đó cha có tiền
lệ trong lịch sử. Do tính mới mẻ mà có những ngời hoài nghi vào sự thắng lợi của
con đờng đó, thậm chí còn cho rằng con đờng đó là không thể thực hiện đợc,
rằng thực hiện CNXH trong kinh tế thị trờng là "con đờng hầm" không có lối ra
v.v Do tính mới mẻ của nó, hớng đi này sẽ có những khó khăn, thách thức và
cũng chứa đựng những nguy cơ, trong đó nguy cơ chệch hớng XHCN nổi lên
hàng đầu. Rõ ràng vấn đề ĐHXHCN cần đợc xem xét và khẳng định rõ hơn
trong điều kiện mới. Vì vậy, ĐHXHCN trở thành vấn đề vừa có tính lý luận, vừa
có tính thực tiễn cấp bách cần đợc nghiên cứu, làm sáng tỏ.
ĐHXHCN ở Việt Nam đợc khẳng định dựa trên những cơ sở khoa học,
trong đó cơ sở lý luận có tầm quan trọng đặc biệt là học thuyết Mác - Lênin về
HTKT-XH. Tuy vậy từ sau khi CNXH hiện thực ở một số nớc tan rã, sụp đổ thì
học thuyết Mác - Lênin nói chung, HTKT-XH nói riêng đang bị xuyên tạc và
công kích từ nhiều phía. Kẻ thù của CNXH đang lớn tiếng cho rằng lý luận
HTKT-XH đã lạc hậu lỗi thời, cần đợc thay thế. Các phần tử cơ hội dới mọi màu
sắc, tìm mọi cách phủ nhận học thuyết. Có những ngời trong cán bộ, Đảng viên
cũng tỏ ra nghi ngờ, kém tin tởng ở sức sống của học thuyết, do dự trong việc
vận dụng học thuyết vào thực tiễn Vì vậy việc khẳng định những giá trị khoa
học đích thực của học thuyết, từ đó mà có phơng hớng vận dụng đúng đắn và
sáng tạo vào trong thực tiễn xây dựng CNXH là vấn đề đang đợc đặt ra.
5
Trong thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam những năm trớc đây, việc
vận dụng học thuyết HTKT-XH cũng còn những sai lầm, hạn chế. Những sai
lầm, hạn chế đó là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về nhận thức.

làm sáng tỏ.
Gần đây, ở trong nớc đã xuất hiện các công trình:
- Đề tài khoa học cấp Nhà nớc KX10 "Dự thảo một số vấn đề về chủ
nghĩa Mác - Lênin trong thời đại hiện nay" (Hà Nội 1994) có một phần quan
trọng đề cập đến giá trị của học thuyết HTKT-XH với tính cách là cơ sở khoa học
của con đờng tiến lên CNXH ở Việt Nam.
- Đề tài KX 05 - 04 "Đặc trng cơ bản của hệ thống chính trị nớc ta trong
giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (1992 - 1994) của Khoa Triết học - Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh do giáo s, tiến sĩ Nguyễn Ngọc Long làm
chủ nhiệm - đã nêu những quan điểm có tính phơng pháp luận trong xây dựng hệ
thống chính trị ở nớc ta trong giai đoạn quá độ lên CNXH.
Vấn đề nêu trên đã đợc đề cập tới một số khía cạnh trong các sách và bài
viết của tác giả.
- Đào Duy Tùng: "Quá trình hình thành con đờng đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994) đã khái quát các giai
đoạn tiến hành cách mạng XHCN ở nớc ta.
- Giáo s Trần Xuân Trờng: "Định hớng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một
số vấn đề lý luận cấp bách" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996) có đề cập đến
một số vấn đề của lý luận hình thái và sự vận dụng nó trong tình hình mới.
- Phó giáo s, tiến sĩ Nguyễn Đức Bách, tiến sĩ Lê Văn Yên, Nhị Lê: "Một
số vấn đề về định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" (Nxb Lao động, Hà Nội
1998) đã xem xét những đặc thù của con đờng XHCN ở Việt Nam và một số nội
dung của con đờng đó.
7
- Giáo s, tiến sĩ khoa học Nguyễn Duy Quý (chủ biên) "Những vấn đề về
chủ nghĩa xã hội và con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" (Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội 1998) đã trên cơ sở khái quát quan điểm của C.Mác, Ph.
Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh về CNXH làm sáng tỏ quan điểm đổi mới
sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam của Đảng ta.
- Giáo s Hồ Văn Thông: "Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ

- Nguyễn Văn Oánh: "Định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: nội dung
cơ bản và những điều kiện chủ yếu để thực hiện" (Luận án Phó tiến sĩ Triết học,
chuyên ngành CNCSKH, mã số 5.01.03, Hà Nội 1994). Tác giả đã phân tích nội
dung và các điều kiện chủ yếu để thực hiện ĐHXHCN ở nớc ta.
- Trơng Hữu Hoàn: "Quy luật phù hợp của quan hệ sản xuất với lực l-
ợng sản xuất và vấn đề nhận thức, vận dụng quy luật này ở một số nớc xã hội
chủ nghĩa" (Luận án Phó tiến sĩ Triết học, chuyên ngành CNDVBC và
CNDVLS, mã số 5.01.02, Hà Nội 1995). Tác giả đã có khía cạnh đề cập đến sự
vận dụng quy luật nói trên trong thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ
TBCN ở Việt Nam.
- Đoàn Quang Thọ: "Lý luận hình thái kinh tế - xã hội với công cuộc đổi
mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam" (Luận án Phó tiến sĩ Triết học, chuyên ngành
CNDVBC và CNDVLS, mã số 5.01.02, Hà Nội 1995). Tác giả đã trên cơ sở
khẳng định giá trị của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội để luận giải tính tất
yếu và một số nội dung công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Nhìn chung các công trình trên, đặc biệt là các công trình trong nớc đều
tập trung vào việc bảo vệ lý luận HTKT-XH và vận dụng nó vào việc xác định
mục tiêu, thực hiện mục tiêu XHCN ở Việt Nam trong điều kiện mới. Tuy nhiên
thực tiễn luôn vận động, ĐHXHCN ở nớc ta đang đặt ra những vấn đề mới cần đ-
ợc tiếp tục lý giải và khẳng định.
9
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
3.1 Mục đích: Dới góc độ lý luận HTKT-XH, luận án góp phần làm sáng
tỏ thực chất vấn đề ĐHXHCN và việc giữ vững định hớng đó trong điều kiện
phát triển kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ:
1) Trên cơ sở khẳng định giá trị bền vững của lý luận HTKT-XH để luận
giải tính đúng đắn của sự lựa chọn mục tiêu tiến lên CNXH của Việt Nam.
2) Xem xét làm sáng tỏ thuật ngữ "định hớng xã hội chủ nghĩa" và chỉ ra
một số vấn đề từ thực tiễn vận dụng học thuyết HTKT-XH đặt ra đối với quá

Với những đóng góp trên, luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo
trong việc giảng dạy, nghiên cứu về học thuyết HTKT-XH và sự vận dụng học
thuyết đó trong xây dựng CNXH ở các trờng Đại học, trờng Chính trị và những
ngời quan tâm.
8. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao gồm 3 chơng 6 tiết và phần
danh mục tài liệu tham khảo.
11
Chơng 1 : Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội - cơ sở
khoa học của sự lựa chọn con đờng đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.1. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong nhận thức xã hội và xu thế
chủ nghĩa xã hội của thời đại
1.1.1. Giá trị và ý nghĩa thời đại của học thuyết HTKT-XH
Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết HTKT-XH
giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Học thuyết không những là cốt lõi, nền tảng
cho một thế giới quan mới - chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà còn là cơ sở khoa học
vững chắc cho toàn bộ các khoa học về xã hội nói chung.
Học thuyết HTKT-XH là một hệ thống các quan điểm lý luận có liên hệ
chặt chẽ hữu cơ với nhau của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhằm vạch ra cơ cấu và các
quy luật phát triển cơ bản và phổ biến của xã hội loài ngời. Sự xuất hiện của học
thuyết không phải là ngẫu nhiên hay là sản phẩm thuần túy chủ quan của C.Mác,
nh một số ngời nào đó nhận định, mà là kết quả hợp quy luật của một quá trình
nhận thức dựa trên sự khái quát thực tiễn hoạt động cách mạng, sự kế thừa mang
tính phê phán các nguồn tri thức nhân loại và một khả năng t duy thiên tài của
C.Mác và Ph.Ăngghen.
Xuất phát từ quan điểm có ý nghĩa phơng pháp luận cho rằng xã hội
không phải là tổ hợp ngẫu nhiên của các mặt, các yếu tố riêng biệt, không phải là
tổng số máy móc của các nhân riêng rẽ mà là một chỉnh thể của các quan hệ xã
hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khám phá ra các quy luật của sự phát triển xã hội.

nhân hiện thực đã đạt đến một trình độ nhất định của LLSX. Các mối quan hệ xã
hội, trớc hết là QHSX, cũng do con ngời tạo ra, nhng không phải tạo ra một cách
tùy tiện mà là trên một trình độ nhất định của LLSX. Đến lợt mình, các quan hệ
xã hội lại quy định nhu cầu của con ngời và sự vận động của nền sản xuất. Với
13
lập luận đó, lý luận HTKT-XH đã chỉ rõ nhân tố cốt lõi, quyết định trong nền sản
xuất vật chất của xã hội là PTSX với hai mặt gắn bó hữu cơ là LLSX và QHSX.
C.Mác nghiên cứu sâu sắc hơn các mặt của PTSX và đã chỉ rõ giữa LLSX và
QHSX luôn luôn tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó LLSX
bao giờ cũng giữ vai trò quyết định sự hình thành, phát triển của QHSX và
QHSX có sự tác động trở lại LLSX. Do sự vận động của LLSX, một khi đạt đến
trình độ mới, nó sẽ mâu thuẫn với những QHSX hiện đang tồn tại và, dù sớm hay
muộn, mâu thuẫn đó sẽ đợc giải quyết bằng cách thay thế QHSX cũ bằng một
QHSX mới cao hơn phù hợp với trình độ đã phát triển của LLSX. Khi đó cũng có
nghĩa là PTSX cũ đã bị thay thế bởi một PTSX mới cao hơn. Cứ nh vậy, PTSX
mới tới một chừng mực nào đó, lại bị thay thế bởi một PTSX cao hơn nữa Đó
chính là quy luật phát triển phổ biến của lịch sử xã hội. C.Mác khẳng định:
Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực l-
ợng sản xuất. Do có đợc những lực lợng sản xuất mới, loài ngời thay
đổi phơng thức sản xuất của mình và do thay đổi phơng thức sản xuất
của mình, cách kiếm sống của mình, loài ngời thay đổi tất cả những
quan hệ xã hội của mình [40, tr. 187].
Không dừng lại ở đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm sâu sắc hơn về quy
luật bằng các tiếp tục xem xét sự tác động của nó trong các xã hội có giai cấp đối
kháng. Các ông đã chỉ rõ rằng trong các xã hội có đối kháng giai cấp thì việc giải
quyết mâu thuẫn giữa LLSX với QHSX vẫn là nguyên nhân sâu xa quyết định sự
thay thế PTSX và sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, trong các xã hội đó, việc giải
quyết mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX bao giờ cũng đợc giải quyết thông qua
mâu thuẫn giai cấp, qua đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là các cuộc cách mạng xã
hội. Các ông viết:

sản" C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển rõ hơn t tởng đó. Trong lời tựa viết cho
bản tiếng Đức xuất bản năm 1883, Ph.Ăngghen chỉ rõ: "T tởng cơ bản và chủ
đạo của "Tuyên ngôn" là: Trong mọi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu
15
xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra - cả hai cái đó cấu
thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử t tởng của thời đại ấy" [46, tr. 11].
Chúng ta có thể diễn đạt quan điểm trên:
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy
vật lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một
kiểu quan hệ sản xuất đặc trng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ
nhất định của lực lợng sản xuất và với một kiến trúc thợng tầng tơng
ứng đợc xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy [27, tr. 59].
HTKT-XH là khái niệm bao quát các xã hội cụ thể ở những mặt cơ bản
nhất là LLSX, QHSX và KTTT, ở những quy luật cơ bản nhất là quy luật về sự
phù hợp của QHSX với trình độ LLSX và quy luật về mối quan hệ biện chứng
giữa CSHT với KTTT.
Việc phát hiện các quy luật chi phối sự vận động của HTKT-XH đã bao
hàm quan điểm về "quá trình vận động lịch sử - tự nhiên" của nó. Mỗi một
HTKT-XH đều là một chỉnh thể toàn vẹn luôn luôn vận động và phát triển. Sự
vận động phát triển của các HTKT-XH, xét đến cùng là do sự phát triển LLSX
quy định và luôn luôn tuân theo những quy luật khách quan. Do sự tác động của
các quy luật khách quan, trong đó quyết định nhất là quy luật về sự phù hợp của
QHSX với tính chất và trình độ của LLSX, mà các HTKT-XH vận động nh một
quá trình lịch sử tự nhiên. Tức là xuất phát từ sự vận động của LLSX, khi đạt tới
một trình độ mới, sẽ làm thay thế QHSX hiện tồn đã trở thành lạc hậu bằng một
QHSX mới cao hơn và khi có QHSX mới, nó sẽ tác động làm cho KTTT xã hội
mới ra đời phù hợp. Khi đó cũng có nghĩa một HTKT-XH cao hơn đã bắt đầu
xuất hiện. Con đờng phát triển đó vừa là kết quả của hoạt động con ngời, vừa
tuân theo những quy luật khách quan. Chính con đờng phát triển lịch sử - tự
nhiên của HTKT-XH đã tạo ra xu thế phát triển liên tục của xã hội từ hình thái

17
nào xa rời những tiền đề ấy" [39, tr. 38]. Đó là con ngời hiện thực, đang sống,
đang hoạt động trong thực tiễn.
Xuất phát từ tiền đề hiện thực đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét vai
trò của nền sản xuất xã hội, chỉ ra cơ cấu cơ bản và phổ biến của nó, chỉ ra những
quan hệ tất yếu, những quy luật chi phối sự vận động của nó. ở đây các ông đã
rút ra những kết luận khoa học về vai trò của các yếu tố LLSX và QHSX, về quy
luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX.
Từ quan niệm về vai trò nền tảng của nền sản xuất vật chất, C.Mác và Ph.
Ăngghen tiếp tục xem xét quan hệ của nó tới các mặt khác của xã hội, chỉ ra vai
trò của các nhân tố trong KTTT xã hội và quan hệ biện chứng giữa các nhân tố
đó với cơ sở kinh tế.
Nh vậy, nhất quán với cách tiếp cận duy vật biện chứng C.Mác và Ph.
Ăngghen đã phát hiện ra những mặt cơ bản của HTKT-XH và các quy luật cơ
bản chi phối sự vận động phát triển của nó. Những phát hiện đó cho phép C.Mác
và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên một hệ thống quan điểm hoàn chỉnh, phản ánh
quan hệ nội tại giữa LLSX, QHSX và đời sống chính trị, t tởng, từ đó chỉ ra kết
cấu và các quy luật chung của sự vận động xã hội [74]. Hệ thống quan điểm
hoàn chỉnh đó đã đem lại một quan niệm mới trong nghiên cứu xã hội. Quan
điểm đó xem xét xã hội nh một chỉnh thể, một hệ thống toàn vẹn của các lĩnh
vực và các quan hệ xã hội. Trong các lĩnh vực và các quan hệ xã hội đó thì lĩnh
vực kinh tế và các quan hệ vật chất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định các lĩnh
vực và các quan hệ xã hội khác. Trong lĩnh vực kinh tế và các quan hệ vật chất
của xã hội thì LLSX và QHSX là những nhân tố cốt lõi tạo thành nền tảng của xã
hội. V.I.Lênin đã cho rằng bằng cách "đem quy những quan hệ xã hội vào những
quan hệ sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực
lợng sản xuất" [33, tr. 163], C.Mác đã tạo ra một cơ sở khoa học vững chắc trong
nghiên cứu về xã hội. Cách nhìn mới đó đòi hỏi xem xét xã hội phải đánh giá
đúng vị trí, vai trò của các nhân tố hợp thành nó nhng lại không đợc tuyệt đối hóa
18

thấy vị trí ngày càng chủ yếu của lao động trí tuệ và do vậy phải nhấn mạnh
chiều sâu trong sự phát triển của nó; chẳng hạn hiểu về chế độ sở hữu cần thấy vị
trí của sở hữu trí tuệ v.v Tuy nhiên với tính cách là phơng pháp tiếp cận, học
thuyết vẫn giữ nguyên giá trị, vẫn là cách tiếp cận khoa học nhất trong thời đại
hiện nay. Thực ra chính những quan điểm phê phán học thuyết lại chỉ xuất phát
từ một nhân tố đơn lẻ mà bỏ qua những mặt cơ bản khác, chẳng hạn chỉ thấy vai
trò của khoa học công nghệ mà bỏ qua QHSX, quan hệ giai cấp. Quan điểm đó
chỉ nhấn mạnh một chiều quan hệ mà bỏ qua sự tác động biện chứng của các
nhân tố của xã hội, chẳng hạn tuyệt đối hóa một chiều quan hệ từ khoa học công
nghệ tới kinh tế, xã hội mà không thấy đầy đủ chiều ngợc lại. Thực chất, quan
điểm đó vẫn ở trong quỹ đạo tiếp cận "hình thái" nhng phiến diện hơn, thiếu tính
khoa học hơn.
Hai là: Học thuyết HTKT-XH đã chỉ rõ những động lực cơ bản của sự
phát triển lịch sử.
Dựa trên cơ sở thực tiễn lịch sử, bằng sự phân tích khoa học, học thuyết
"hình thái" đã chỉ rõ những động lực cơ bản và phổ biến của sự phát triển lịch sử
xã hội. Học thuyết đã khẳng định rằng lịch sử xã hội là lịch sử vận động trải qua
các giai đoạn từ thấp đến cao và tơng ứng với từng giai đoạn ấy là một HTKT-XH
nhất định. Xu hớng vận động của các HTKT-XH là xu hớng ngày càng văn
minh, tiến bộ hơn. Nguồn gốc để tạo nên xu hớng phát triển ấy là sự phát triển
của các nhân tố cơ bản trong HTKT-XH và mối quan hệ nội tại của chúng.
Học thuyết HTKT-XH, trớc hết coi động lực chung nhất, phổ biến nhất
của sự phát triển xã hội là hoạt động thực tiễn của con ngời. C.Mác viết: "Chính
con ngời, khi phát triển sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình đã làm
biến đổi, cùng với sự tồn tại hiện thực của mình, cả t duy lẫn sản phẩm t duy của
mình" [39, tr. 38]. Mác nhấn mạnh rằng trong những nhân tố tham dự vào sự
phát triển lịch sử, thì trớc hết đó là con ngời vì họ phải lao động để tạo ra các t
20
liệu sinh hoạt cho mình, phải tái tạo ra đời sống của mình và thế hệ kế tiếp mình.
T tởng đó đợc C.Mác khẳng định rất rõ trong "Hệ t tởng Đức":

con ngời nhng bản thân chúng lại không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của những
cá nhân con ngời. Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng khách quan và quan hệ
đó đã tạo thành quy luật khách quan chi phối mọi quá trình sản xuất. Chính quy
luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX là một quy luật
khách quan cơ bản của mọi PTSX, mọi thời kỳ lịch sử. Quy luật đó là một động
lực quan trong nhất chi phối sự phát triển của lịch sử xã hội. C.Mác chỉ rõ rằng,
do sự vận động có tính cách mạng hơn, nên đến một chừng mực nào đó LLSX
của xã hội sẽ mâu thuẫn với QHSX hiện đang tồn tại, và theo tính tất yếu, những
QHSX đó sẽ bị thay thế bởi một QHSX cao hơn, phù hợp với LLSX đã phát triển.
Tuy quá trình giải quyết mâu thuẫn đó là không đơn giản mà phải thông qua
nhiều nhân tố xã hội khác, song đó chính là nguồn gốc sâu xa của sự phát triển
lịch sử. C.Mác đã viết:
Nh vậy là theo quan điểm của chúng tôi, tất cả mọi xung đột
trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa những lực lợng sản xuất
và hình thức giao tiếp. Ngoài ra, hoàn toàn không cần thiết là mâu
thuẫn đã phải đẩy đến cực độ trong một nớc, mới gây ra những cuộc
xung đột trong nớc ấy. Sự cạnh tranh với những nớc phát triển hơn về
công nghiệp cũng đủ gây ra những mâu thuẫn loại đó, ngay cả nớc
kém phát triển hơn về mặt công nghiệp [39, tr. 107].
Quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX sẽ làm thay đổi cơ
sở kinh tế của xã hội và khi đó sẽ làm cho chính trị, pháp quyền và các mặt xã
hội khác biến đổi theo. Tức là xã hội đã quá độ sang một giai đoạn mới, cao hơn.
Rõ ràng các quan hệ giữa LLSX với QHSX, giữa CSHT với KTTT là những quy
luật khách quan của sự vận động xã hội và là những động lực khách quan của sự
phát triển lịch sử. Không có một xã hội cụ thể nào, không có một giai đoạn lịch
sử nào không chịu sự chi phối của các quy luật đó.
22
Thực tiễn lịch sử đã và đang chứng minh vai trò của các quy luật trên đối
với sự vận động của một xã hội cụ thể, cũng nh của từng giai đoạn lịch sử. Việc
nhận thức các động lực nói trên cùng với các động lực xã hội khác có ý nghĩa hết

cơ sở nền tảng cho tính chỉnh thể", "cho sự cố kết, thống nhất các bộ phận, yếu tố
cấu thành và các mối liên hệ của xã hội" [69, tr. 33]. Với ý nghĩa đó, V.I.Lênin
cho rằng việc Mác phát hiện ra QHSX là đã tìm ra một quan hệ cơ bản nhất của
cơ thể xã hội. Với chức năng và vị trí nh vậy, QHSX, thống nhất với một trình độ
LLSX nhất định, trở thành tiêu chuẩn khách quan để xem xét sự tiến bộ của lịch
sử, để phân biệt tính chất xã hội của các thời kỳ lịch sử khác nhau, các chế độ xã
hội khác nhau. Căn cứ vào tiêu chuẩn khách quan đó mà xem xét tính lặp lại, tính
quy luật của lịch sử. Từ tiêu chuẩn khách quan đó mà học thuyết "Hình thái" đã
đa ra sự phân kỳ lịch sử một cách khoa học: lịch sử bao gồm các thời kỳ là xã hội
cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, TBCN và cộng sản chủ
nghĩa. Mỗi thời kỳ đó đợc biểu hiện tập trung trong một HTKT-XH. Mỗi thời kỳ
đó có QHSX đặc trng riêng phù hợp với một trình độ phát triển của LLSX, có chế
độ, tính chất chính trị và các t tởng xã hội riêng. Rõ ràng phơng pháp tiếp cận
"Hình thái" không chỉ giúp ta thấy sự khác nhau giữa các HTKT-XH mà còn thấy
sự khác nhau giữa các xã hội trong một hình thái. Phơng pháp tiếp cận theo nền
văn minh và một số quan điểm đối lập khác có lẽ cũng nhận ra tính chất quan
trọng của phát hiện này, nhất là nó lại không phù hợp với mục đích chính trị của
họ, cho nên đã cố tình lờ đi vấn đề QHSX trong luận giải của mình hoặc, bằng
mọi cách phủ nhận quan niệm về QHSX của học thuyết.
Bốn là: Học thuyết đã chỉ ra xu thế phát triển tất yếu của lịch sử xã hội.
Trên cơ sở phát hiện các quy luật khách quan chi phối sự vận động của các
HTKT-XH, học thuyết đã chỉ ra xu thế phát triển tất yếu của toàn bộ lịch sử. Xu
thế đó chính là xu thế tiến lên không ngừng từ trình độ thấp đến cao hơn. Xu thế
ấy đợc quyết định từ sự tác động biện chứng của các nhân tố khách quan trong
chính ngay HTKT-XH. C.Mác viết:
24
Trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện
chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện
đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó; vì mỗi hình thái đã
hình thành đều đợc phép biện chứng xét ở trong sự vận động, tức là xét

giải thích rõ những quy luật đặc thù chi phối sự phát sinh, tồn tại, phát triển và
diệt vong của một trật tự xã hội nhất định và sự thay thế nó bằng một cơ thể khác
cao hơn" [26, tr. 12].
Mặt khác, giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết còn đợc thể hiện
ở chính chức năng phơng pháp luận của nó. Học thuyết không chỉ giải thích sự
tiến lên của lịch sử mà còn là phơng pháp chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong xây
dựng một xã hội cụ thể một cách tự giác hơn. Học thuyết đòi hỏi sự vận dụng nó
không phải nh một bản thiết kế có sẵn mà phải với tinh thần linh hoạt, sáng tạo,
gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể. Mọi sự áp dụng giáo điều, rập khuôn,
máy móc đều xa lạ với tính phơng pháp, tính cách mạng của học thuyết.
Do tính cách mạng và khoa học của nó, học thuyết HTKT-XH từ khi ra
đời đến nay đã nhiều lần phải đơng đầu với sự chống đối, công kích của các trào
lu t tởng đối lập. Giai cấp t sản không thể chấp nhận đợc học thuyết vì nó đã luận
chứng một cách khoa học và chặt chẽ về sự thay thế tất yếu của xã hội TBCN
bằng một xã hội khác cao hơn. Các phần tử cơ hội dới mọi màu sắc cũng luôn
tìm cách chống lại học thuyết vì nó đã tuyên ngôn một thế giới quan mới đối lập
với lợi ích của chúng.
Từ những năm 1960, "chủ nghĩa kỹ trị" tuyên bố rằng nhân tố kỹ thuật,
công nghiệp là nhân tố quyết định sự vận động, phát triển của xã hội. Những
năm 1980, thuyết "xã hội hậu công nghiệp" trên hớng tiếp cận của "chủ nghĩa
kỹ trị" nhng tìm mọi cách lảng tránh các vấn đề về hệ t tởng, về tính chất của
chế độ chính trị. Gần đây nhất, thuyết "các nền văn minh" đã đa ra cách tiếp
cận từ văn hóa mà cốt lõi là từ phát triển của khoa học - công nghệ. Thuyết "các
26
nền văn minh" cũng tìm mọi cách lảng tránh vấn đề về QHSX, quan hệ giai
cấp, cách mạng xã hội, sự khác biệt giữa chế độ chính trị TBCN và XHCN. Với
những thuyết đó, giai cấp t sản đã tuyên bố rằng học thuyết HTKT-XH là "giới
hạn", "xơ cứng", "không tởng", "lạc hậu", không còn phù hợp với thời đại hiện
nay [81, tr. 61-62].
Đặc biệt từ sau khi CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ,

của xã hội hiện đại về mặt kinh tế - kỹ thuật, dới tác động của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ hiện nay, nhng cha đạt tới tính toàn diện, tính chỉnh thể,
khoa học nh phơng pháp HTKT-XH. Tất cả những học thuyết đó đều tuyệt đối
hóa một vài nhân tố riêng biệt nào đó, một vài quan hệ nào đó, mà không thấy
hết vai trò của các nhân tố và quan hệ xã hội khác. Các cách tiếp cận ấy thậm chí
còn những "sai lầm, lệch lạc" [21, tr. 24-25] trong xem xét một số lĩnh vực xã
hội. Học thuyết HTKT-XH vẫn là cách tiếp cận đúng đắn trong thời đại hiện nay.
Học thuyết vẫn đang định hớng cho hoạt động tự giác, sáng tạo của con ngời h-
ớng tới xây dựng một xã hội tiến bộ hơn theo đúng quy luật khách quan của lịch
sử. Giá trị khoa học và cách mạng của học thuyết vẫn đang tỏa sáng trong thời
đại chúng ta.
1.1.2. Học thuyết HTKT-XH trong nhận thức xu thế CNXH của thời đại
hiện nay
Học thuyết HTKT-XH, trên cơ sở vạch ra những quy luật khách quan chi
phối, đã chỉ rõ xu thế vận động tất yếu của xã hội là loài ngời nhất định sẽ tiến
tới chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH. Xu thế đó không chỉ là lý
luận mà còn là thực tiễn của thời đại.
Thứ nhất: Tiếp cận của lý luận HTKT-XH đối với sự ra đời của CNXH
Trong bộ "T bản" C.Mác viết: "Tôi coi sự phát triển của những hình thái
kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên" [47, tr. 21]. Luận điểm đó của
28
Mác đã bao hàm quan điểm xem xét xã hội không chỉ trong tính cơ cấu, tính
chỉnh thể của nó mà còn trong quá trình vận động và phát triển không ngừng.
Lý luận HTKT-XH coi cơ sở của mọi biến đổi lịch sử là hoạt động của con
ngời. Con ngời hoạt động theo đuổi những mục đích khác nhau nhng hoạt động
đó không phải là tùy tiện mà vẫn bị chi phối, phải tuân theo những quy luật
khách quan nhất định. Quy luật xã hội không nằm ngoài hoạt động con ngời, nó
đợc hình thành thông qua hoạt động của con ngời nhng lại tồn tại khách quan đối
với hoạt động đó. Vì vậy mỗi một HTKT-XH trong lịch sử là kết quả của hoạt
động thực tiễn con ngời tuân theo những quy luật khách quan nhất định. Mỗi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status