LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn là một vấn đề rộng lớn và
phức tạp của nhiều quốc gia trên thế giới. Tình trạng đói nghèo và kinh tế
kém phát triển của khu vực nông thôn là mối quân tâm lớn của các chính phủ,
được nhiều ngành khoa học đi sâu vào nghiên cứu nhằm tìm ra giải pháp
trước mắt và lâu dài.
Đất nước Việt Nam hàng nghìn năm lịch sử luôn gắn bó với nền văn minh
lúa nước. Vấn đề nông nghiệp nông thôn luôn được Đảng, nhà nước và nhân
dân quan tâm đến vấn đề này.
Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn cần có nhiều giải pháp và nhiệm vụ cơ bản như: Hoàn thiện quy hoạch
tổng thể về công nghiệp nông thôn, làm cơ sở cho kế hoạch hoá và đầu tư cho
cơ sở hạ tầng; tăng cường hơn nữa vai trò của nhà nước đối với quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn thông qua các chính sách và giải pháp
cụ thể cho từng thời kỳ…
Để tăng cường vai trò tín dụng của ngân hàng nông nghiệp đối với việc
phát triển sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn. Ngân hàng nông nghiệp xác định nông thôn là thị trường cho vay, nông
nghiệp là đối tượng cho vay, nông dân là khách hàng chủ yếu của mình. Cần
tạo mọi điều kịên thuận lợi về vốn để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu
nông nghiệp đạt kết quả tốt. Muốn vậy ngân hàng nông nghiệp phải thực hiện:
Đa dạng hoá hình thức hình thức huy động vốn theo phương châm “đi vay để
cho vay” chủ yếu là huy động tại chỗ để đầu tư tại chỗ. Tích cực tham gia vào
thị trường vốn của ngân hàng nhằm tạo nguồn vốn cho đầu tư tín dụng. Gắn
việc huy động tiền gửi với việc cung cấp tín dụng, tạo ý thức tiết kiệm và sử
dụng vốn có hiệu quả trong toàn dân, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền…
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động đối với hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, trong thời gian thực tập tại chi nhánh NHNo
& PTNT huyện Yên Lạc em đã nghiên cứu và mạnh dạn chọn đề tài: “Một số
1
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn và cho vay vốn phục vụ
ngân hàng làm cho lưu thông có nhiều loại giấy bạc ngân hàng khác nhau đã
gây cản trở cho quá trình lưu thông hàng hoá và phát triển kinh tế. Chính điều
này đã dẫn đến sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng. Lúc này hệ thống ngân
hàng được phân làm hai nhóm:
+ Thứ nhất là các ngân hàng được phép phát hành tiền được gọi là ngân
hàng phát hành sau chuyển thành NHTƯ.
+ Thứ hai là các ngân hàng không được phép phát hành tiền, chỉ làm
chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán trong nền kinh tế gọi là
ngân hàng trung gian. Đây là một mắt xích cực kỳ quan trọng nối NHTƯ với
nền kinh tế, cũng như là cầu nối để những người có vốn với những người cần
vốn trong xã hội gặp nhau.
Thời kỳ đầu khi mới thực hiện phân hoá hệ thống ngân hàng, các ngân
hàng trung gian thực hiện tất cả các hoạt động như nhận tiền gửi, cho vay và
làm các nhiệm vụ thanh toán. Ban đầu chủ yếu là nhận tiền gửi không kỳ hạn,
cho vay ngắn hạn. Về sau nhận cả cho vay trung và dài hạn bằng nguồn vốn
trung hạn, dài hạn do huy động tiền gửi và phát hành chứng khoán. Hoạt động
3
của ngân hàng ngày càng phát triển với sự phát triển của thị trường chứng
khoán đòi hỏi hình thành nên những ngân hàng, những trung gian tài chính
chuyên hoạt động một lĩnh vực nào đó, đã phân chia các ngân hàng trung gian
thành các ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực riêng: NHNo & PTNT, NHĐT,
…trong đó ngân hàng thương mại đóng vai trò chủ đạo.
2. Khái niệm ngân hàng.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng.
Theo luật ngân hàng Pháp năm 1914: “Ngân hàng là những xí nghiệp
hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận tiền gửi cho công chúng dưới
hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào
các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”.
Luật ngân hàng Ấn Độ năm 1950, được bổ xung năm 1959 đã nêu: “
ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền kí thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”.
sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan vì thế sản xuất phải trên cơ sở
đáp ứng nhu cầu thị trường trên mọi phương diện. Để làm được điều này
doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng lao động, cải tiến máy móc, công nghệ,
mở rộng quy mô sản xuất…Những hoạt động này đòi hỏi có một lượng vốn
đầu tư lớn nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Để giải
quyết doanh nghiệp tìm đến ngân hàng xin vay vốn thoả mãn nhu cầu về vốn
của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là cầu nối giữa doanh
nghiệp với thị trường.
3.3 NHNo & PTNT là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Bằng nghiệp vụ tín dụng và thanh toán giữa các NHNo & PTNT trong
hệ thống, các NHNo & PTNT đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng
trong lưu thông. Thông qua việc cấp tín dụng cho các ngành trong nền kinh
tế, NHNo & PTNT thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân
5
chia vốn thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò
điều tiết vĩ mô “ nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.
3.4 NHNo & PTNT là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính
quốc tế.
Trong nền kinh tế thị trường nhu cầu giao lưu kinh tế xã hội ngày càng
trở nên cần thiết và cấp bách. Sự phát triển kinh tế mỗi nước luôn gắn liền với
sự phát triển toàn thế giới. NHNo & PTNT cùng hoạt động kinh doanh của
mình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này. Thông qua các
hoạt động thanh toán, mua bán ngoại hội, quan hệ với các ngân hàng nước
ngoài, hệ thống NHNo & PTNT đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính
trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
4. Chức năng của NHNo & PTNT.
4.1 Chức năng trung gian tín dụng.
Đây là chức năng đặc trưng nhất của NHNo & PTNT. NHNo & PTNT
nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó để cho vay. Chính là đã chuyển tiền tiết
kiệm thành đầu tư. Người có tiền dư thừa có thể mua công cụ tài chính như:
thống NHNo & PTNT có thể mở rộng khối lượng tiền tối đa theo công thức:
Khả năng mở rộng tiền tối đa = Số tiền gửi mới tăng thêm x 1/Tỷ lệ dự
trữ bắt buộc.
Điều kiện thực hiện mở rộng tiền gửi tối đa là sự kết hợp hai chức
năng: Trung gian tín dụng và trung gian thanh toán. Bởi vì thông qua chức
năng làm trung gian tín dụng ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để
cho vay, số tiền cho vay được lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hoá,
thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của
khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng
7
để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ. Khi ngân hàng chỉ thực hiện chức năng
nhận tiền gửi mà chưa cho vay, ngân hàng chưa hề tạo tiền, chỉ khi thực hiện
nhiệm vụ cho vay thì ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền.
5. Các nghiệp vụ cơ bản của NHNo & PTNT.
5.1 Nghiệp vụ thuộc tài sản nợ.
Đây là nghiệp vụ quan trọng nhất của NHNo & PTNT vì nó chính là
nghiệp vụ tạo vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. NHNo
& PTNT là tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ nên vốn lại càng quan
trọng. Chỉ khi ngân hàng là tổ chức được một nguồn vốn đủ lớn và ổn định thì
ngân hàng mới có thể mở rộng được hoạt động kinh doanh của mình.
5.2 Vốn tự có.
Vốn tự có của NHNo & PTNT là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo
lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn này chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng
nguồn vốn của NHNo & PTNT song nó là điều kiện cần thiết khi thành lập
một ngân hàng. Do tính chất ổn định của vốn tự có, ngân hàng có thể sử dụng
chủ động vào các mục đích khác nhau: Trang bị cơ sở vật chất, mua sắm tài
sản cố định…phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay và đặc biệt là tham
gia đầu tư, góp vốn liên doanh. Mặt khác với chức năng bảo vệ, vốn tự có
được coi như tài sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách hàng.
5.3 Nghiệp vụ cho vay.
Tín dụng ra đời từ rất sớm cùng với sự phân công lao động và sở hữu
tư nhân về tư liệu sản suất. Trong những năm qua có nhiều tác giả nghiên cứu
và đưa ra định nghĩa tín dụng.
+ Theo quan điểm của Mác thì “ Tín dụng là quá trình chuyển nhượng
tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu với một lượng giá trị từ người sở
hữu sang người sử dụng một thời gian nhất định, nó lại quay lại người sở hữu
với một lượng giá trị lớn hơn ban đầu”.
9
+ Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: “ Tín dụng là lòng
tin, nghĩa là cho vay tin tưởng và người đi vay sử dụng vốn đúng mục đích
hiệu quả và hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng thời gian quy định”.
+ Một số tác giả cho rằng “ Tín dụng là việc sử dụng vốn của người
khác và hứa sẽ trả sau”.
Như vậy, nói cách khác tín dụng là quan hệ vay mượn bằng tiền hoặc
hàng hoá trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi suất một thời gian nhất định
giữa người đi vay và người cho vay.
3. Bản chất của tín dụng.
Tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay và
giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua sự vận động giá trị tín dụng được
biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hàng hoá. Quá trình vận động được khái
quát qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: giai đoạn phân phối vốn tín dụng dưới hình thức cho vay.
Ở giai đoạn này, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hoá được chuyển từ tay
người dùng sang người đi vay. Đây là giai đoạn cơ bản khác với việc mua bán
hàng hoá thông thường là khi vay giá trị vốn tín dụng được chuyển sang
người đi vay mà không thay đổi hình thái tồn tại.
Giai đoạn 2: Bên vay sử dụng toàn bộ giá trị nguồn vốn vay như phần
tài sản của mình lúc này người đi vay chỉ có quyền sử dụng mà không có
quyền sở hữu vốn tín dụng.
Giai đoạn 3: Là giai đoạn cả gốc và tiền lãi được hoàn trả cho người
xuất hàng hoá bởi nó gắn liền với sự phân công lao động xã hội và chiếm hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất. Do đó bất kỳ xã hội nào có sản xuất hàng hóa thì
tất yếu phải có sự hoạt động của tín dụng.
Trong những năm qua, nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ
chế thị trường đã thực sự đi vào đời sống kinh tế - xã hội nông thôn Việt
11
Nam. Trong nông nghiệp, nước ta đã chủ trương phát triển sản xuất cả về
chiều rộng và chiều sâu, đầu tư vốn mua sắm tư liệu, công cụ sản xuất, hướng
vào đầu tư nuôi trồng cây con có giá trị kinh tế, từ đó cơ sở vật chất của người
dân được bảo vệ và nâng cao. Để đạt được những thành tựu to lớn và để tiếp
tục duy trì sản xuất mang lại những cơ hội tốt nhất cho sản xuất kinh doanh
thì vốn tín dụng đã trở thành công cụ đắc lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp,
nông thôn và không thể thiếu được đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh
tế. Vốn tín dụng có những vai trò sau:
* Góp phần đáp ứng nhu cầu đầu tư thâm canh từ đó góp phần khai
thác mọi tiềm năng về đất đai ở đồng bằng, trung du, đồi núi, ven biển; lao
động và tài nguyên địa phương.
* Góp phần hình thành thị trường vốn ở nông thôn. Thị trường vốn tín
dụng chính là cầu nối để người cần vốn đến người có vốn nhàn rỗi dễ dàng
hơn. Chính vì vậy, đây là yếu tố quan trọng để giải quyết mối quan hệ cung
cầu về vốn nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế ở nông thôn.
* Góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
chuyển giao khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh. Nhờ có vốn tín dụng
mà hệ thống đường xá, mương máng, cơ sở vật chất của nhiều vùng nông
thôn được cải tạo, hoặc xây dựng mới. Theo đó các tiến bộ khoa học kỹ thuật
đến được với người dân dễ dàng hơn.
* Góp phần khôi phục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp cổ
truyền, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập từng bước xoá đói, giảm nghèo.
* Góp phần giải quyết các biến động và hạn chế rủi ro trong kinh
doanh. Hoạt động nông nghiệp có tính thời vụ rõ nét nên nhu cầu về chi tiêu
Ngân hàng có chức năng sau:
13
- Chức năng tạo nguồn tài chính và sử dụng vốn: Ngân hàng thực chất
đi huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, lấy vốn đó cho nền kinh
tế vay để phát triển kinh doanh và cải thiện đời sống. Ngân hàng một mặt thu
hút các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội từ các doanh nghiệp, hộ gia đình, các
cơ quan và tổ chức. Mặt khác, ngân hàng dùng chính số tiền đã huy động
được cho vay đối với các thành phần kinh tế khi chúng tạm thời thiếu vốn.
Thông qua chức năng này ngân hàng góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn
định sức mua của đồng tiền, thúc đẩy phát triển kinh tế.
- Chức năng thanh toán: Ngân hàng thực hiện phần lớn các khoản chi
trả về hàng hoá, dịch vụ của xã hội với các hình thức thanh toán phù hợp, thủ
tục đơn giản và kỹ thuật ngày càng tiên tiến. Vì vậy, việc thanh toán trở nên
thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm.
- Chức năng dịch vụ khác: Ngân hàng đảm nhận một số dịch vụ khác
cho khách hàng: Sử dụng dịch vụ chuyển séc, tiền mặt, ngoại tệ, nhận lệnh
phát hành, mua, bán cổ phiếu, trái phiếu. Chính ngân hàng cũng đầu tư mua
bán trái phiếu để kiếm lợi nhuận. Ngoài ra, ngân hàng kết hợp với nhiều ngân
hàng ở trong nước và ngoài nước thiết kế dự án lớn để tài trợ cá nhân và
doanh nghiệp.
2. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
2.1 Hệ thống tổ chức
“Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (gọi tắt là
ngân hàng nông nghiệp Việt Nam) là doanh nghiệp nhà nước dạng đặc biệt,
bao gồm các thành viên có quan hệ mật thiết gắn bó với nhau về lợi ích kinh
tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt động
trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng, đầu tư phát triển nông thôn và các
dịch vụ liên quan đến hoạt động tài chính - tiền tệ - ngân hàng”
Là một ngân hàng thương mại nhưng đặc thù riêng của NHNo & PTNT
Việt Nam là mọi hoạt động kinh doanh chủ yếu đều gắn với nông nghiệp,
Việt Nam đã có 271 đơn vị ngân hàng các cấp, trong đó ngân hàng cấp IV
(liên xã) là 155 chi nhánh.
NHNo & PTNT là ngân hàng thương mại duy nhất có mạng lưới trên
toàn quốc. Mở rộng mạng lưới xuống tận cấp huyện vùng sâu, vùng xa là
chiến lược phát triển lâu dài của ban lãnh đạo NHNo & PTNT Việt Nam từ
đó tạo ra ưu thế cạnh tranh của mình, đảm bảo kênh chuyển vốn và phục vụ
mọi đối tượng khách hàng. Khách hàng có thể gửi một nơi và lĩnh nhiều nơi.
Sơ đồ: Hệ thống tổ chức Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
2.2 Vai trò của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
* Vai trò trung gian tài chính: “Sự phát triển của nền kinh tế thường
xuyên phát sinh nhu cầu về vốn rất lớn và cũng xuất hiện khả năng cung ứng
vốn của các cá nhân và tổ chức có vốn nhàn rỗi”. Từ đó xảy ra một thực trạng
16
NHNo&PTNT
Việt Nam
Ngân hàng cấp II
(cấp tỉnh)
Ngân hàng cấp III
(cấp huyện)
Ngân hàng cấp
IV (cấp xã)
Ngân hàng cấp III
(cấp huyện)
Ngân hàng cấp
IV (cụm xã)
Ngân hàng cấp
IV (cụm xã)
Ngân hàng cấp
IV (cụm xã)
là có nhiều cá nhân và tổ chức không có hoặc không có đủ vốn để tiến hành
của người dân và những người có quan hệ vay vốn của ngân hàng hơn. Hoạt
động tín dụng của ngân hàng ngoài việc đầu tư vốn cho phát triển nông
nghiệp, nông thôn còn giúp cho người dân biết cách sử dụng, tính toán đồng
vốn có hiệu quả, từng bước làm quen với sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế
thị trường sôi động.
Tín dụng ngân hàng đã trở thành cầu nối giữa các hộ nông dân và ngân
hàng, cùng hỗ trợ nhau để cùng phát triển sản xuất, lưu thông hàng hoá, tiền
tệ.
3. Những vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT
3.1 Hoạt động huy động vốn.
Huy động vốn có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động tín dụng vì có
huy động được vốn thì ngân hàng mới có nguồn vốn để thực hiện chức năng
cho vay của mình. Nếu ngân hàng phát huy tốt công tác huy động vốn không
những mở rộng được công tác cho vay, tăng cường cho nền kinh tế mà còn
mang tới cho ngân hàng nhiều lợi nhuận.
Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng được huy động từ các nguồn chính
sau:
- Vốn huy động nhàn rỗi từ các nhà tổ chức kinh tế và các tổ chức xã
hội.
+ Tiền gửi không kỳ hạn: chính là tiền gửi thanh toán của các doanh
nghiệp có mở tài khoản tại ngân hàng để phục vụ cho nhu cầu thanh toán.
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Tiền gửi chủ yếu từ tiền tiết kiệm
của dân (lãi suất thấp).
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, phân thành:
Tiết kiệm có kỳ hạn 3 tháng.
18
Tiết kiệm có kỳ hạn 6 tháng.
Tiết kiệm có kỳ hạn 12 tháng.
-Vốn nhà nước cấp hoặc cho vay: Nhà nước trích một phần ngân sách
của mình để đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Lãi suất tín dụng được định nghĩa như sau: “ Lãi suất tín dụng là tỷ lệ
phần trăm giữa số tiền mà người đi vay phải trả thêm cho người vay trên số
tiền vay sau một thời gian sử dụng số tiền vay đó”.
Ngân hàng nói chung và NHNo & PTNT nói riêng có hai loại lãi suất
là: Lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
- Lãi suất huy động: là lãi suất quy định tỷ lệ lãi ngân hàng phải trả cho
các hình thức nhận tiền gửi của ngân hàng.
- Lãi suất cho vay: Là lãi suất quy định tỷ lệ lãi mà người đi vay phải
trả cho ngân hàng.
Lãi suất Lãi suất
Chi phí
Rủi ro Lợi nhuận của
Cho vay huy động hoạt động tối thiểu ngân hàng
Vì vậy đòi hỏi ngân hàng phải điều chỉnh cả hai mức lãi suất sao cho
vừa có thể đáp ứng được yêu cầu của khách hàng có tiền nhàn rỗi cũng như
các cá nhân và các tổ chức có nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh vừa đảm
bảo tính hiệu quả trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
3.4 Chất lượng tín dụng.
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu của người vay phù hợp với
sự phát triển kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Đối với ngân hàng: Chất lượng tín dụng phù hợp với thực lực bản thân
ngân hàng, tạo điều kiện gia tăng khả năng sinh lời sản phẩm dịch vụ do giảm
20
=
+_-
=
+_-
+_-
Tỷ lệ lãi so với doanh thu = (%)
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất. Khi chỉ tiêu này âm, tức là ngân hàng
hoạt động bị lỗ, bằng không là hoà vốn và dương tức là hoạt động của ngân
hàng có lãi. Vậy chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
- Doanh thu tính trên một cán bộ ngân hàng: chỉ tiêu này nói lên hiệu
quả sử dụng lao động của ngân hàng.
- Tốc độ luân chuyển vốn: Tốc độ luân chuyển vốn càng tăng thì ngân
hàng hoạt động càng có hiệu quả.
Tốc độ luân chuyển vốn =
* Các chỉ tiêu thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Tỷ lệ sử dụng vốn = (%)
Tỷ lệ nợ quá hạn = (%)
Chỉ tiêu này cho biết tinh hình sử dụng vốn, hiệu quả hoạt động tín
dụng của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng tốt
nguồn vốn huy động được.
IV. CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI.
Quá trình phát triển kinh tế những thập niên gần đây của nhiều quốc gia
trên thế giới cho thấy nền kinh tế tăng trưởng nhanh hay chậm, thậm trí suy
thoái, nó phụ thuộc rất nhiều vào các chính sách kinh tế vĩ mô với vai trò là
những công cụ kinh tế. Khủng hoảng kinh tế ở Mỹ La Tinh năm 1984, ở
Đông Nam Á những năm cuối thập kỷ 90 vừa cho thấy ý nghĩa quan trọng
của việc chọn lựa và hoạch định một cách đúng đắn và phù hợp các chính
sách tài chính, tiền tệ trong đó có chính sách tín dụng. Các nước đều sử dụng
chính sách tín dụng làm công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng để tác động trực
22
tiếp hoặc gián tiếp vào các định hướng phát triển kinh tế, với các mục tiêu
khai thác tối đa và phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn trong nền kinh tế, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế trên cơ sở ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát, định
hướng và tạo tiền đề cho các hoạt động tín dụng của các tổ chức trung gian tài
vực kinh tế quan trọng. Để thực hiện vấn đề này, chính phủ một số nước đã
thành lập ra các định chế tài chính có chức năng chuyên trách cung ứng các
khoản tín dụng chính sách cho các đối tượng cần thiết như là ngân hàng người
nghèo (Bank for Agricultural Cooperative) ở Thái Lan. Ngoài ra cũng có
nhiều nước thực hiện chính sách cung cấp đủ 100% vốn tự có cho một ngân
hàng thương mại để làm nhiệm vụ cho vay chính sách, ưu đãi các ngân hàng
thương mại khác có trách nhiệm dành một phần vốn huy động chuyển cho
ngân hàng chính sách để bổ xung cho nguồn vốn cho vay. Điển hình của mô
hình này là các nước Ấn Độ, Thái Lan, Myanma.
- Xây dựng chính sách tín dụng mở và hướng tới tự do hoá trong kinh tế
thị trường.
Nhiều nước phát triển và đang phát triển đã thực hiện từng bước để tự
do hoá hệ thống tài chính trong thập kỷ vừa qua. Các chính sách kinh tế vĩ mô
có thể xem như là nội dung cải cách, vừa là công cụ cải cách để hướng tới
mục tiêu tự do hoá hệ thống tài chính. Trong đó chính sách tín dụng một phần
nội dung cơ bản của tiến trình cải cách đó.
Về tổng thể, hướng tới một hệ thống tài chính mở và tự do hoá các hoạt
động tín dụng đã giúp cho viẹc tăng cường huyđộng và sử dụng có hiệu quả
các nguồn lứ còn khan hiếm. Xu hướng vận động này vừa đáp ứng những yêu
cầu và đòi hỏi khách quan của cơ chế vận động kinh tế thị trường. Mặt khác
bản thân sự vận động đó lại tạo điều kiện túc đẩy sự hoàn thiện và phắt triển
kinh tế thị trường ở mưc độ cao hơn.
24
PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN VÀ
VAY VỐN CỦA NHNo & PTNT YÊN LẠC.
I. SƠ LƯỢC VỀ NHNo & PTNT VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN.
1. Khái quát quá trình ra đời và phát triển của NHNo & PTNT Yên Lạc.
NHNo & PTNT huyện Yên Lạc được thành lập theo quyết định 498
của tổng giám đốc NHNo Việt Nam, là chi nhánh trực thuộc đơn vị thành