Đối phó với ảnh hưởng của công nghệ và
văn hóa
Thật khó để tưởng tượng, nhưng đã có một thời gian dài trong quá khứ,
khi mà ti-vi và máy tính còn chưa xuất hiện, các gia đình đã giải trí bằng
những hoạt động như đọc sách, cùng nhau quây quần quanh chiếc đàn
piano để hát, và kể những câu chuyện. Chính bản thân bạn vào lúc này có
thể đang muốn ước cho mình có được những khoảng thời gian đơn giản
hơn giống như thế, nhưng cho dù bạn có thích hay không, thời gian đó
vẫn sẽ không quay lại. Ti-vi, máy tính, internet, máy nghe nhạc kỹ thuật số
hay điện tử đang ở đây, và chắc chắn là những trang thiết bị mới có mặt ở
ngay trong nhà bạn. Trong những năm đầu đời của con bạn, bạn phải
quyết định về việc đặt những thiết bị công nghệ hiện đại này ở đâu trong
nhà. (Trong chương này, "thời gian ngồi trước màn hình" là ám chỉ đến
thời gian con bạn ngồi xem ti-vi, sử dụng máy tính, chơi điện tử và các
thiết bị điện tử khác.)
Hãy xem xét những thống kê ở các nước phát triển sau:
Trung bình một gia đình có 2,75 ti-vi.
60% trẻ em có một chiếc ti-vi trong phòng ngủ (bao gồm 20% trẻ ở trong
độ tuổi 2 và 7).
Trung bình trẻ em và những trẻ vị thành niên xem ti-vi nhiều hơn 21 giờ
một tuần, nghĩa là gần bằng ¼ tổng thời gian thức của một đứa trẻ.
Xem ti-vi có thể ảnh hưởng đến mức độ tập trung chú ý của trẻ.
Mỗi năm những nhà quảng cáo tiêu hết xấp xỉ 15 tỷ đô-là dành cho sản
phẩm của trẻ em.
Sử dụng ti-vi làm hạn chế khả năng phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Xem ti-vi quá nhiều có ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh béo phì; trẻ càng
dành nhiều thời gian ngồi trước màn hình ti-vi thì trẻ càng có ít thời gian
để vận động, sử dụng trí tưởng tượng của mình, và học các kỹ năng sống
và kỹ năng xã hội.
Cho trẻ xem những hành động bạo lực trên ti-vi sẽ gây ảnh hưởng đến
những hành vi cư xử hiếu chiến ở tuổi trưởng thành cho cả nam và nữ.
hưởng nhiều trong tâm trí của trẻ giống như những chương trình ti-vi làm
cho trẻ ngưỡng mộ. Tự bản thân chương trình dành cho trẻ trở thành sự
quảng cáo - đó chính xác là điều đang diễn ra.
Quảng cáo tiếp thị cho trẻ là một quá trình có tính toán. Những trẻ em từ 1
đến 4 tuổi được nghiên cứu trong những nhóm trọng tâm để xác định
những kiểu mẫu vui chơi của trẻ. Sau khi được cho xem một chương trình
mẫu, họ quan sát trẻ để xác định loại vui chơi nào trẻ sẽ tham gia. Họ
quan sát xem trẻ có muốn xem chương trình giống như vậy không? Sau