Tài liệu NGUYỄN KHẢI VÀ “ MỘT NGƯỜI HÀ NỘI” - Pdf 10

NGUYỄN KHẢI VÀ “ MỘT NGƯỜI HÀ NỘI”

I TÁC GIẢ
Tiểu sử
Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 tháng
12 năm 1930 tại Hà Nội. Quê nội ởthành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều
nơi. Đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám. Trong Kháng chiến chống
Pháp, Nguyễn Khải gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào bộ đội,
làm y tá rồi làm báo. Bắt đầu viết văn từ những năm 1950, được chú ý từ tiểu
thuyết Xung đột (phần I năm 1959, phần II năm 1962).
Sau năm 1975 Nguyễn Khải chuyển vào sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
Ông rời quân đội năm 1988 với quân hàm đại tá để về làm việc tại Hội Nhà văn Việt
Nam. Nguyễn Khải từng là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam các khóa
2, 3 và là Phó tổng thư ký khóa 3. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa VII.
Nguyễn Khải mất ngày 15 tháng 1 năm 2008 tại thành phố Hồ Chí Minh do
bệnh tim.
Tác phẩm
Chủ đề các tác phẩm của Nguyễn Khải khá phong phú: về nông thôn trong quá
trình xây dựng cuộc sống mới, về bộ đội trong những năm chiến tranh chống Mỹ, về
những vấn đề xã hội-chính trị có tính thời sự và đời sống tư tưởng, tinh thần của con
người hiện nay trước những biến động phức tạp của đời sống.
Sáng tác của Nguyễn Khải thể hiện sự nhạy bén và cách khám phá riêng của
nhà văn với các vấn đề xã hội, năng lực phân tích tâm lý sắc sảo, sức mạnh của lý trí
tỉnh táo. Năm 1982, Nguyễn Khải nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tiểu
thuyết Gặp gỡ cuối năm. Năm 2000, nhà văn được phong tặng Giải thưởng Hồ Chí
Minh đợt II về Văn học nghệ thuật.
Ông sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự, kịch. Trong đó,
Nguyễn Khải để dấu ấn qua nhiều tác phẩm như: Xung đột (1959-1962), Mùa lạc (tập

chính sách.
• Mở cửa hàng đồ lưu niệm để đảm bảo “đủ ăn” mà không bóc lột bất kì ai.
- Có đầu óc thực tế, sự trung thực, thẳng thắn:
* Không có lòng tự ái, sự ganh đua, thói thời thượng, không có cái lãng mạn
hay mơ mộng viển vông.
* Đã tính là làm, đã làm là không để ý đến lời đàm tiếu của thiên hạ => bản
lĩnh, có lập trường.
* Đi lấy chồng: dù giao du rộng nhưng chọn làm vợ một ông giáo cấp Tiểu học
hiền lành, chăm chỉ => cả Hà Nội “kinh ngạc”.
* Tính toán cả chuyện sinh đẻ sao cho hợp lí, đảm bảo tương lai con cái.
* Khi cháu là cán bộ cách mạng về chơi, chồng và con gọi là "đồng chí", bà
nhắc nhở phải gọi là "anh Khải" => biết nhìn nhận mọi việc theo đúng bản chất, thức
thời nhưng không xu thời.
* Khi cháu- người cách mạng hỏi về cuộc sống mới khi giải phóng, bà nhận xét
thẳng thắn, sắc sảo, không giấu diếm
- Trân trọng, nâng niu, gìn giữ truyền thống văn hoá người Hà Nội:
* Dặn dò bọn trẻ: “********* là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải
có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng”
* Coi việc giữ gìn nếp sống là một cách “tự trọng, biết xấu hổ”.
=> Là hạt bụi vàng của Hà Nội: Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc
phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng =>
biểu tượng của vẻ đẹp tinh tế, sức sống bất diệt của văn hoá Hà Thành.
Lưu ý: em có thể chọn thêm dẫn chứng để chứng minh.
+ Đánh giá:
- Nhân vật "một người Hà Nội" được soi chiếu ở nhiều thời điểm lịch sử. Mỗi
thời điểm đầy biến thiên ấy như thứ nước rửa ảnh làm hiện hình nổi sắc những nét đẹp
bất diệt: sự thanh lịch, sang trọng trong nếp sống, cách nói năng; trí thông minh, sự
tỉnh táo, thức thời; đầu óc thực tế, trung thực, thẳng thắn
- Đặt cô Hiền trong những biến động của lịch sử, nhà văn đã soi chiếu số phận
của một dân tộc qua cuộc đời của một cá nhân => thể hiện:

: "Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn
bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng", "Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản,
ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết
chết nó", "Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả,
hoặc chết cả, vui lẻ có hay hớm gì" Không phải không có những ngộ nhận về tính
cách người Hà Nội. Trong truyện, tác giả đã khéo tạo ra một tình huống để làm rõ vấn
đề này. Trong khi nhân vật "tôi", giữa một bữa tiệc, đã "nói hơi nhiều" những ý chê
trách Hà Nội trong sự so sánh nó với những vùng miền khác, thì nhân vật Dũng, con
bà Hiền, mới từ chiến trường miền Nam trở về, đã kể cho mọi người nghe về phản
ứng tâm lí của một người mẹ Hà Nội có con hi sinh : "Bà níu chặt lấy một cánh tay
của cháu, người bà run bần bật nhưng không khóc, và bà nói run rẩy : "Nín đi con, nín
đi Dũng ! Cô đã biết cả. Cô biết từ mấy tháng nay rồi". Đúng là một sự đối trọng. Câu
chuyện của Dũng tự nó nói lên bao điều !
+ Lòng tự trọng không cho phép sống tùy tiện, buông thả.
+ Lòng tự trọng không cho phép sống hèn nhát, ích kỉ.
+ Lòng tự trọng giúp con người ta sống có trách nhiệm với cộng đồng.
- Thẳng thắn :
+ Bày tỏ rất thẳng nhận xét của mình về cuộc sống với bao vấn đề (vui hơi
nhiều, nói cũng hơi nhiều …)
Bà có chính kiến, chủ kiến riêng về nhiều chuyện "vĩ mô" của nhà nước, chế
độ. Khi đứa cháu nói : "Nước được độc lập vui quá cô nhỉ ?", bà đã trả lời : "Vui hơi
nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ ?". Theo bà "Chính phủ can thiệp
vào nhiều việc của dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ
mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao, trai gái phải yêu nhau như thế nào, thậm chí cả
tiền công sá cho kẻ ăn người ở ". Bà cũng nhận ra có cái gì đó không phù hợp trong
cách nghĩ "không thích cá nhân làm giàu" : "Chú tuy chưa già nhưng đành để ngồi
chơi, các em sẽ đi làm cán bộ, tao sẽ phải nuôi một lũ ăn bám, dù họ có đủ tài để
không phải sống ăn bám". Đặc biệt, bà có một quan điểm hết sức khác thường : "Xã
hội lúc nào cũng phải có một giai tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá
trị ". Chưa hết, bà còn phát biểu về cái huyền vi của sự sống mà càng ngày ta càng

đồng ý cho chồng mua máy in và thuê thợ, đồng ý cho con đi bộ đội). Thái độ ứng xử
nhằm “thích ứng” của bà Hiền cũng được diễn tả một cách rõ ràng và táo bạo : “Chế
độ này không thích cá nhân làm giàu, chỉ cần họ đủ ăn, thiếu ăn một chút càng hay,
thiếu ăn là vinh chứ không là nhục, nên tao cũng chỉ cần đủ ăn.”
- Luôn tự hào về Hà Nội, người Hà Nội, văn hóa của Hà Nội (luôn nhắc nhở,
dạy con cháu về cách sống .Bà Hiền răn lũ con : "********* là người Hà Nội thì cách
đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng". Hoá ra vậy,
làm người Hà Nội vừa là một vinh dự, vừa là một trách nhiệm. Bà Hiền hẳn là luôn
đau đáu về vấn đề này, chẳng thế mà dù đã ngoài bảy mươi, bà vẫn để lộ tâm sự đó
của mình khi hỏi người cháu ("tôi") vừa mới từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm :
"Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá thế nào, dân tình thế nào ?" Ngỡ đó chỉ là một
câu hỏi xã giao thông thường mà thực chất lại gửi gắm bao nỗi niềm, bao phấp phỏng
và hi vọng về tương lai của Hà Nội. =>Những điều vừa nói trên chứng minh sự gắn bó
làm một, rất máu thịt, giữa bà Hiền và Hà Nội.của người Hà Nội qua từng cách ngồi,
cách ăn, đi đứng, qua lời ăn tiếng nói).
b. Nét đẹp trong hành động :
- Tuy là người Hà Nội chính gốc, nhưng cô Hiền hòa đồng rất nhanh với cuộc
sống mới không chỉ ở suy nghĩ mà còn ở những việc làm cụ thể của mình:
+ Cuộc sống còn khó khăn của giai đoạn đầu, nhưng cô đã nhanh chóng thích
ứng bằng việc mở cửa hàng bán hoa do đích thân cô và các con làm và bán sản phẩm.

2. Nhân vật bà Hiền trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước và
những năm đầu sau chiến tranh:
a. Nhà văn còn khai thác nét tính cách nhân vật khi đặt vào trong những giờ
phút trọng đại có ý nghĩa sống còn với dân tộc để người đọc biết đến một sự thực tâm
hồn những người mẹ trong thời chiến tranh. Trong văn học trước 1975, có lẽ những
hoàn cảnh tiễn người thân ra trận sẽ được khai thác tập trung vào cảm hứng sử thi, ca
ngợi hình ảnh người ra đi tươi vui, người ở nhà tin tưởng và lời hẹn trở về trong chiến
thắng vinh quang.
Nguyễn Khải đã không diễn tả theo đường mòn cũ mà cho chúng ta nhìn thấy

khăn len tơi tớp buộc quanh cổ hay bịt đầu". Để hoàn thiện chân dung nhân vật Hiền,
Nguyễn Khải còn nhấn mạnh vào thái độ chu tất trong nết ăn, nết mặc, trong cử chỉ
lau đánh cái bát đựng hoa thuỷ tiên, trong việc duy trì một cách "bướng bỉnh" cái nền
nếp sinh hoạt xa lông một thời vẫn thường bị định kiến là "tư sản". Điều này khiến ta
chợt nhớ tới câu ca nói về người Hà Nội từ xưa:
“ Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,
Chẳng lịch cũng thể con người Tràng An”
Nhưng bà, cũng như các bạn của mình, không vì vậy mà không được quyền
sống cho mình. Họ, lúc cần, đã biết rũ bỏ "đồng phục" để hoá thân thành những con
người khác, đáng để cho những kẻ yêu cái đẹp ngắm nhìn."bà chủ xuất hiện trước như
diễn viên trên sân khấu, rồi một loạt bảy tám bà tóc đã bạc hoặc nửa xanh nửa bạc, áo
nhung, áo dạ, đeo ngọc đeo dây đi lại uyển chuyển". Tất cả những điều đó cũng là
biểu hiện cụ thể của bản lĩnh sống – một vấn đề hết sức nghiêm túc cần được nhìn
nhận thấu đáo trong hoàn cảnh sống của đất nước, của thời đại bây giờ.
Giá trị văn hoá ấy kết tụ trong một người phụ nữ vô danh, bình thường cũng đã
kết tụ tầng sâu văn hoá đất kinh kỳ xưa. Ngay cả khi cơn lốc dữ dội của nền kinh tế thị
trường làm xói mòn đi nếp sống của Hà Nội ngàn năm văn vật thì cũng không thể làm
lay chuyển ý thức của những con người luôn tin vào giá trị văn hoá bền vững của Hà
Nội không thể mất đi. Chỉ ra những nét tính cách phức tạp nhưng hết sức hợp lý của
một người phụ nữ bình thường, Nguyễn Khải đã đề cao nét đẹp văn hoá Hà Nội ẩn
chứa trong nhân vật bà Hiền.
3. Chi tiết bà Hiền kể cho nhân vật "tôi" nghe về sự hồi sinh sau cơn bão
của cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn mang ngụ ý triết lí sâu sắc.
Có thể tính cách bà Hiền còn những điều phải bàn cãi để đi đến một sự nhận
diện có tiêu biểu cho tính cách người Hà Nội gốc hay không, nhưng như nhà văn
khẳng định: “Với người già, bất kể ai, cái thời đã qua luôn luôn là thời vàng son. Mỗi
thế hệ đều có thời vàng son của họ. Hà Nội thì không thế. Thời nào nó cũng đẹp, một
vẻ đẹp riêng cho một lứa tuổi.”. Không những thế, ông còn bày tỏ thái độ ca ngợi con
người biết trân trọng những giá trị tâm linh, như cây si cổ thụ đền Ngọc Sơn vẫn vững
chãi qua thời gian. Dẫu có lúc bị bật gốc, nhưng nhờ những con người còn biết lưu giữ


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status