Nhà nớc và pháp luật nớc ngoài
tạp chí luật học số 10/2010 51
TS. Đỗ Đức Hồng Hà *
1. Ngun quy nh ti phm v hỡnh
pht ca cỏc nc thuc h thng phỏp
lut chõu u lc a
Hu ht cỏc nc thuc h thng phỏp
lut chõu u lc a nh: Canada, c, Nht
Bn, Phỏp, Thỏi Lan u quy nh ti phm
v hỡnh pht trong c b lut hỡnh s v cỏc
vn bn quy phm phỏp lut chuyờn ngnh.
Th nht, B lut hỡnh s - ngun c bn
quy nh ti phm v hỡnh pht: Nghiờn cu
quy nh ca b lut hỡnh s cỏc nc thuc
h thng phỏp lut chõu u lc a chỳng tụi
thy cỏc ti phm v hỡnh pht c quy
nh trong b lut hỡnh s u l nhng ti
phm mang tớnh truyn thng, hnh vi
khỏch quan n gin v cu trỳc, hỡnh thc ;
cú tớnh n nh cao v khụng liờn quan vi
cỏc hnh vi trong cỏc vn bn phỏp lut khỏc;
cú th khỏi quỏt c hnh vi khỏch quan v
buụn bỏn ven bin; o lut v cỏc cụng ti
kinh doanh; o lut v cỏc dch v hng
khụng quc t b cm
Cỏc ti phm v hỡnh pht c quy
nh trong cỏc vn bn quy phm phỏp lut
* Vn phũng B t phỏp Nhµ n−íc vµ ph¸p luËt n−íc ngoµi
52 t¹p chÝ luËt häc sè
10/2010
chuyên ngành thường là những tội phạm
không mang tính “truyền thống”; hành vi
khách quan đa dạng, phức tạp về cấu trúc,
hình thức; có tính ổn định không cao; có
tính liên quan chặt chẽ với các hành vi
trong các văn bản quy phạm pháp luật khác;
không khái quát được hành vi khách quan
và do đó, không quy định được tội danh của
hành vi phạm tội
Các văn bản quy phạm pháp luật chuyên
ngành có quy định tội phạm và hình phạt ở
các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu
lục địa có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là các văn bản quy phạm pháp luật
chuyên ngành không được phân định rõ với
các văn bản quy phạm pháp luật hình sự mà
thường được xây dựng lồng ghép lẫn nhau
để quy định tội phạm và hình phạt.
Hai là các văn bản quy phạm pháp luật
mà nội dung của hành vi phạm tội được mô tả
trực tiếp trong các điều luật và được đánh số
theo thứ tự các điều luật trong văn bản pháp
luật tương ứng. Sở dĩ như vậy là vì mỗi điều
luật quy định về tội phạm ở đây thường mô tả
nhiều loại hành vi khác nhau, các hành vi này
có thể được quy định ở các điều luật khác
nhau trong cùng một văn bản quy phạm pháp
luật, thậm chí trong các văn bản quy phạm
pháp luật khác nhau và khó có thể xác định
được tội danh chung cho tất cả các hành vi
đó. Ví dụ: Điều 104 Bộ luật chăm sóc giúp đỡ
thanh thiếu niên của Cộng hoà liên bang Đức
quy định bốn loại hành vi vi phạm là: "1.
Cung cấp nơi ở thường xuyên cho thanh thiếu
niên mà không có giấy phép. 2. Thành lập cơ
sở để thanh thiếu niên hoạt động trong đó cả
ngày hoặc một phần trong ngày mà không có
giấy phép. 3. Vi phạm các quy định trình báo
về hoạt động của thanh thiếu niên tại cơ sở.
4. Không công khai tiền lương, thu nhập của
thanh thiếu niên khi họ tham gia lao động.
Người có hành vi 1, 3, 4 trên đây theo Điều
104 Bộ luật lao động bị phạt đến 1.000 Mác,
nếu có hành vi 2 bị phạt 30.000 Mác". Nhµ n−íc vµ ph¸p luËt n−íc ngoµi
t¹p chÝ luËt häc sè 10/2010 53
hình phạt trong các văn bản quy phạm pháp
luật chuyên ngành, các điều luật về tội phạm
cụ thể chỉ có một khung hình phạt cho tất cả
các trường hợp phạm tội, không quy định cấu
thành tội phạm tăng nặng và các tình tiết định
khung tăng nặng. Cách quy định này tuy đơn
giản nhưng cũng tạo ra khả năng pháp lí đủ
để xác định và xử lí tội phạm, bảo đảm nguyên
tắc không tội phạm nào không bị xử lí.
Thứ ba, cách quy định số lượng tội
phạm: Hầu hết các văn bản quy phạm pháp
luật chuyên ngành ở các nước thuộc hệ
thống pháp luật châu Âu lục địa đều là
những văn bản tương đối ngắn, số lượng
điều luật không nhiều. Vì vậy, thông thường
trong mỗi văn bản quy phạm pháp luật
chuyên ngành cũng chỉ có một hoặc một số
điều luật quy định về tội phạm và hình phạt.
Ví dụ: Đạo luật về an toàn phương tiện có
gắn động cơ của Canada chỉ có một điều
luật trực tiếp quy định về tội phạm và hình
phạt (Điều 17): “(1) Mọi tập đoàn vi phạm
quy định của Đạo luật này là phạm tội và:
(a) Bị phạt theo thủ tục rút gọn đến
100.000$ hoặc (b) Bị phạt đến 1.000.000$.
(2) Mọi cá nhân vi phạm quy định của Đạo
luật này là phạm tội và: (a) Bị phạt theo thủ
tục rút gọn đến 200.000$ hoặc đến 6 tháng
tù hoặc cả hai. (b) Bị phạt đến 1.000$ hoặc
đến 2 năm tù hoặc cả hai”.
không phải là các quy định tội phạm hoặc
hình phạt mà nó chỉ là phần xử lí các vi
phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực mà
văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành
đó điều chỉnh, bảo vệ.
Thứ năm, cách quy định vị trí của tội
phạm so với hình phạt:
a. Tội phạm và hình phạt đều được quy
định trong cùng một điều luật: Cách quy
định tội phạm và hình phạt trong cùng một
điều luật chỉ chiếm tỉ lệ không đáng kể trong
số các văn bản quy phạm pháp luật chuyên
ngành có quy định tội phạm và hình phạt ở
các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu
lục địa. Ví dụ: Điều 51 Luật về người nước
ngoài làm việc tại Thái Lan quy định: "Bất kì
người nước ngoài nào tham gia làm việc tại
Thái Lan mà không có giấy phép sẽ bị phạt
tù đến 5 năm hoặc phạt tiền từ 2.000 Baht
đến 100.000 Baht hoặc cả hai ". Cách quy
định này giúp cho việc áp dụng pháp luật
được thống nhất và chính xác. Tuy nhiên,
cách quy định này chỉ có thể được thực hiện
trong trường hợp đạo luật đó:
- Quy định rất ít hành vi bị cấm. Ví dụ:
Điều 67 Đạo luật về thông tin của Canada
chỉ quy định rất ít hành vi bị cấm và tương
ứng với số ít hành vi đó là quy định về tội
phạm và hình phạt; cụ thể là: “(1) Không ai
được ngăn cản nhân viên Ủy ban thông tin
mại dâm trẻ em với ý định thường xuyên sẽ
bị phạt tù khổ sai đến 7 năm và phạt tiền đến
10.000.000 Yên". Điều 6 Luật này quy định:
"Người nào gạ gẫm người khác phạm tội
mại dâm trẻ em sẽ bị phạt tù khổ sai đến 5
năm và/hoặc bị phạt tiền đến 5.000.000
Yên". Điều 7 Luật này quy định: "Người nào Nhµ n−íc vµ ph¸p luËt n−íc ngoµi
t¹p chÝ luËt häc sè 10/2010 55
cung cấp tranh ảnh khiêu dâm trẻ em sẽ bị
phạt tù khổ sai đến 3 năm hoặc bị phạt tiền
đến 3.000.000 Yên ".
b. Tội phạm và hình phạt không được
quy định trong cùng một điều luật: Bên cạnh
cách quy định tội phạm và hình phạt trong
cùng một điều luật, các văn bản quy phạm
pháp luật chuyên ngành ở các nước thuộc hệ
thống pháp luật châu Âu lục địa còn quy
định tội phạm và hình phạt trong các điều
luật khác nhau. Cách quy định này chiếm tỉ
lệ đáng kể trong số các văn bản quy phạm
pháp luật chuyên ngành có quy định tội
phạm và hình phạt ở các nước thuộc hệ
thống pháp luật châu Âu lục địa. Ví dụ: Điều
191 Luật về công ti trách nhiệm hữu hạn của
Thái Lan quy định: "Bất cứ công ti nào
không thực hiện quy định tại Điều 11, Điều
Thứ sáu, cách quy định hình phạt: Hình
phạt chủ yếu có thể được áp dụng đối với
người phạm tội là phạt tiền và tù có thời hạn
(chiếm tới 99,5%) và tương đương nhau.
Hình phạt khác như tù chung thân chỉ chiếm
tỉ lệ rất nhỏ, khoảng 0,4% và chỉ được áp
dụng đối với một số ít tội phạm đặc biệt nguy
hiểm như: tội buôn bán bất hợp pháp chất ma
túy (Điều 4(1) Đạo luật về kiểm soát ma túy
của Canada); tội giam giữ hoặc dùng thủ đoạn
khác tước tự do cá nhân, gây thương tích
hoặc đe doạ dùng vũ lực đối với người khác
nhằm cưỡng ép người đó mại dâm (Điều 12
Luật phòng, chống mại dâm của Thái Lan)
Ví dụ: Điều 30(1) Đạo luật về tiêu chuẩn tiêu
thụ năng lượng của các phương tiện có gắn
động cơ của Canada quy định: “(a) Người
nào vi phạm hoặc không tuân thủ quy định
của Đạo luật này, trừ quy định tại Điều 11(1)
hoặc 27(1) là phạm tội và bị phạt theo thủ
tục rút gọn đến 100.000$ hoặc đến 1 năm tù
hoặc cả hai”. Điều L2330-10 Bộ luật quốc
phòng, an ninh của Pháp quy định: "Hành vi
nhập khẩu một số loại vũ khí không có giấy
phép thì bị phạt tù đến 5 năm hoặc phạt tiền
đến 9.000 Euro; phạm tội có tổ chức thì bị
phạt tù đến 10 năm và bị phạt tiền đến
500.000 Euro
"
. Việc nhà làm luật ở các nước
phạm pháp luật chuyên ngành tương ứng.
Mỗi văn bản quy phạm pháp luật chuyên
ngành ở các nước thuộc hệ thống pháp luật
châu Âu lục địa chỉ quy định một nhóm quan
hệ xã hội tương đối hẹp. Vì vậy, quy định về
tội phạm trong mỗi văn bản chính là một
nhóm hành vi nguy hiểm xâm phạm đến
nhóm quan hệ xã hội đó. Ví dụ: Đạo luật về
công viên quốc gia của Canada quy định các
vấn đề có liên quan đến bảo vệ công viên
quốc gia đồng thời quy định những hành vi
xâm phạm đến nhóm quan hệ xã hội này là
tội phạm. Điều 24 Đạo luật này quy định:
“Vi phạm quy định của Đạo luật này thì bị
phạt đến 2.000$. Hành vi vi phạm quy tắc
khác nhằm thực hiện các quy định của Đạo
luật này bị phạt đến 2.000$”. Vì các tội
phạm và hình phạt được quy định trong các
văn bản pháp luật chuyên ngành ở các nước
thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa
đều là các tội phạm có tính chuyên ngành
nên phải đặt chúng trong tổng thể văn bản
(hoặc các văn bản) quy phạm pháp luật
chuyên ngành chúng ta mới có thể hiểu
đúng, hiểu đủ và qua đó mới áp dụng đúng
và thống nhất các quy định của pháp luật.
Hơn nữa, vì hành vi khách quan của các tội
phạm và hình phạt được quy định trong các
văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành
liên quan với nhau rất chặt chẽ cho nên, nếu
bản quy phạm pháp luật chuyên ngành thì sự
thay đổi đó mới có thể được tiến hành một
cách đồng bộ và kịp thời, tránh được những
khó khăn, phức tạp khi sửa đổi, bổ sung một
số điều của bộ luật hình sự.
Thứ ba, tính chịu ảnh hưởng bởi nguyên
tắc pháp chế và tính "động" của tội phạm:
Theo cách hiểu thông thường, nguyên tắc
pháp chế nói chung được hiểu là sự tuân thủ
triệt để các quy định của pháp luật. Trong
lĩnh vực hình sự, nguyên tắc này đòi hỏi khi
quy định các hành vi phạm tội phải đảm bảo
sự rõ ràng, chính xác và dễ hiểu. Hình phạt
phải được quy định trong luật và tương xứng
với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội
phạm đồng thời phải đảm bảo việc áp dụng
được thống nhất và chính xác trong phạm vi
tinh thần của điều luật.
Để hạn chế sự tùy tiện, độc đoán của các
thẩm phán, những nhà tư tưởng tiến bộ như
Montesquieu đã đề cao nguyên tắc pháp chế
và coi đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật
nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Cùng
với sự ra đời và những đòi hỏi của nguyên tắc
pháp chế, tội phạm và hình phạt cũng phải
được quy định trong luật - bao gồm cả luật
hình sự và luật chuyên ngành.
Ở Pháp, Bộ luật hình sự năm 1810, có
hiệu lực từ ngày 01/01/1811 ra đời như là
minh chứng cho sự thắng lợi của những tư
tranh thế giới lần thứ II, tình trạng tội phạm
ở các nước châu Âu gia tăng đột biến. Theo
số liệu thống kê của cảnh sát, năm 1960,
riêng ở Pháp số lượng người phạm tội là
687.766; con số này của năm 2000 là
3.771.879 người. Như vậy, trong vòng 40
năm, số lượng tội phạm ở Pháp đã tăng
500%. Những con số nêu trên phản ánh tình
hình tội phạm cũng như sự bất ổn trong
chính sách hình sự của Pháp nói riêng và của
các nước châu Âu nói chung. Sự bất ổn đó Nhà nớc và pháp luật nớc ngoài
58 tạp chí luật học số
10/2010
dn n hng lot cỏc vn bn lut ra i
nhm i phú li tỡnh hỡnh ti phm nờu trờn,
trong ú cú c cỏc vn bn quy phm phỏp
lut chuyờn ngnh, ngoi b lut hỡnh s.
(1)
Riờng Phỏp, vi tng s khong t 11.000
n 13.000 ti phm c quy nh trong cỏc
vn bn lut ca c quan lp phỏp v c quan
hnh phỏp, con s khng l ny ó t ra cho
cỏc nh lp phỏp nhu cu phỏp in hoỏ b
lut hỡnh s
(2)
nhng trờn thc t, cụng vic
ngi v cỏc thit ch kim soỏt vic thc
hin cỏc quyn ny ó tỏc ng rt ln n
vic sa i, ban hnh cỏc quy nh ca lut
hỡnh s v ngun ca lut hỡnh s.
Th sỏu, tớnh ỏp ng mc ớch ca hỡnh
pht: Ngy nay, cỏc nc trờn th gii chng
kin s phỏt trin cú tớnh cht t phỏ ca
cỏc ngnh khoa hc v con ngi. S phỏt
trin ny ó dn n nhng thay i v nhn
thc ca cỏc nh lp phỏp v vn mc
ớch (chc nng) ca hỡnh pht. Theo quan
nim truyn thng, hỡnh pht cú ba chc
nng chớnh: tr thự ngang bng, loi tr v
e da.
(3)
Tr thự ngang bng bi vỡ v bn
cht, hỡnh pht l mt s trng tr ngang
bng i vi ngi cú hnh vi gõy thit hi
cho xó hi. Vi chc nng ny, cỏc nh lp
phỏp kỡ vng s lm cho ngi phm ti
nhn thc c li lm m h gõy ra. Chc
nng loi tr c th hin vic hỡnh pht
nhm ngn chn ngi phm ti tip tc gõy
ra nhng thit hi cho xó hi. Chc nng e
da c th hin vic hỡnh pht ng thi
cú tớnh cht rn e, khụng nhng i vi
ngi b kt ỏn m cũn rn e c nhng
ngi xung quanh.
(4)
S phỏt trin nhanh
ngnh) m ni dung ca nú hng ti nhng
bin phỏp giỏo dc ngi phm ti ngoi bin
phỏp tự giam nhm m bo s tỏi ho nhp
cng ng c tt hn.
Th by, tớnh chu nh hng bi h
thng phỏp lut: Nh chỳng ta ó bit, ngoi
cỏc nc chõu u, Nht Bn v Thỏi Lan
l cỏc quc gia ó thc hin chớnh sỏch m
ca, giao lu rng rói vi cỏc quc gia
phng Tõy trong nhiu lnh vc, trong ú
cú lnh vc phỏp lut. T thu ban u, Nht
Bn v Thỏi Lan ó chu nh hng mnh
m ca h thng phỏp lut Phỏp, sau ú l
Cng ho liờn bang c. õy l cỏc quc
gia cú cựng truyn thng phỏp lut chõu u
lc a v sau Chin tranh th gii ln th II,
Nht Bn, Thỏi Lan li chu nh hng bi
h thng phỏp lut ca M. Cỏc quc gia ny
u l nhng quc gia cú truyn thng phỏp
lut lõu i v tng i tiờn tin trờn th
gii, cú th ch chớnh tr a nguyờn, cú nhiu
kinh nghim trong vic qun lớ nh nc v
xó hi bng phỏp lut v hu ht cỏc lnh vc
xó hi u cú cỏc quy phm phỏp lut iu
chnh. Xut phỏt t lớ do ú, cỏc quc gia ny
u ban hnh nhng o lut riờng bit, iu
chnh tng nhúm quan h xó hi. Nhng hnh
vi no cn thit phi iu chnh bng hỡnh
pht (mang tớnh hỡnh s, k c pht vi cnh v
pht tin) u c quy nh trong nhng o
hay Ladizabal, c vn cho Hong gia Tõy Ban Nha
khng nh "lamendement est un objectif si important
que jammais le lộgislateur ne doit le perdre vue".