Nghệ thuật Pháp lam – Loại hình
mỹ thuật trang trí độc đáo Nếu người Nhật Bản nổi tiếng với Gốm Raku, người Trung Hoa với men ô hộc
(cloisonne), thì ở Việt Nam nói chung, Huế nói riêng có Pháp Lam. Đây là một loại
hình nghệ thuật độc đáo của người Huế đó thất truyền hơn vài thế kỷ, đến nay đang
từng bước được hồi sinh. Những di sản Pháp lam còn lại trên đất cố đô Huế ngày
nay khá đồ sộ, phong phú về số lượng; đa dạng về loại hình và kiểu thức. Những
chứng tích ấy là bằng chứng rõ nét nhất chứng tỏ loại hình mỹ thuật độc đáo này đó
từng phát triển hưng thịnh và được cố nhân đánh giá về chất lượng nghệ thuật khá
cao. Để tôn vinh loại hình nghệ thuật Pháp lam này, đồng thời góp phần bảo tồn,
phát triển Pháp lam cho mói đời sau, Pháp lam đã là một trong ba nghề được tôn
vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009, cùng với Gốm và Sơn mài.
Nghệ thuật Pháp lam – Loại hình mỹ thuật trang trí độc đáo thời Nguyễn
Pháp lam là những tác phẩm mỹ thuật hay các chi tiết trang trí trong kiến trúc Huế,
cốt làm bằng đồng đỏ, bên ngoài phủ các lớp men nhiều màu tạo nên các họa tiết
rực rỡ màu sắc.
Pháp lam có một lịch sử rất lâu đời với việc những sản phẩm Pháp lam đầu tiên trên
thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước công nguyên khi những người thợ kim
hoàn Mycenaean tráng men thuỷ tinh trên những đôi khuyên tai bằng vàng. Kể từ
đó các nền văn minh trên toàn thế giới đó du nhập kỹ thuật Pháp lam vào các hình
thức nghệ thuật riêng biệt của họ.
Nghệ thuật chế tác Pháp lam được du nhập vào Việt Nam từ năm Minh Mạng thứ 8
(1827). Nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục, gồm 15 người, do Vũ Văn Mai đứng
đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Xưởng chế tác pháp lam được
đặt ở khu Canh Nông trong Thành nội.
Ngoài ra, triều đình cũng mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới
(Quảng Bình) để sản xuất pháp lam, đáp ứng các nhu cầu của triều đình.
Pháp lam Huế có mặt ở các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Đõy là buổi
thịnh thời của triều Nguyễn: quốc gia thống nhất, kinh tế ổn định. Triều đình lo việc
bát, tìm đựng thức ăn.
Trong đó, được chú ý nhiều nhất là loại hình Pháp lam trang trớ ngoại thất: những
chi tiết trang trí hình rồng, mây… gắn ở các bờ nóc, bờ quyết của cung điện và các
cửa tam quan trong lăng tẩm các vua Nguyễn; các ô, hộc trang trí theo lối “nhất thi,
nhất họa” ở cổ diềm, đầu hồi, bờ mái… các ngôi điện lớn như điện Thái Hòa, điện
Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh); những bức hoành trước mộ vua Minh Mạng và
trước điện Thái Hòa; các đồ án mây ngũ sắc, bầu thái cực các ô hộc trang trí bát
bửu, tứ quý… chính giữa bờ nóc Minh Lâu, điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng), điện
Hòa Khiêm (lăng Tự Đức) hay ở bờ nóc bờ quyết của điện Biểu Đức (lăng Thiệu
Trị)…
Màu sắc rực rỡ của những mảng Pháp lam nổi bật trên các phông màu xám cố hữu
của các kiến trúc cổ kính rêu phong đó tạo nên những điểm xuyết sinh động, làm
cho các công trình kiến trúc vốn uy nghi, trầm mặc có thêm phần tươi sáng và
thanh thoát.
Nguồn gốc của Nghệ thuật chế tác Pháp lam
Dựa vào những tư liệu do Gaide và Henry Peyssonneaux cung cấp trong bài khảo
cứu Les tombeaux de Hué: Prince Kiên Thái Vương đăng trên B.A.V.H. (No.
1/1925), đồng thời đối chứng với các sản phẩm pháp lam Huế hiện hữu trên các di
tích triều Nguyễn ở Huế, trong Bảo tàng MTCé Huế và trong các sưu tập tư nhân,
chúng ta có thể dễ dàng xác nhận rằng, kỹ nghệ pháp lam Huế đó tiếp thu kỹ nghệ
Họa Pháp lang của Quảng Đông (Trung Quốc). Kỹ nghệ Họa Pháp lang dựng một
lớp men lót tráng lên nền thai cốt, vẽ thêm các họa tiết trang trí bằng men ngũ sắc
lên trên nền men lót, rồi đem nung mà thành sản phẩm. Sử sách cho biết trong quá
trình xây dựng kinh đô Huế, vua Gia Long (1802 – 1919), Minh Mạng (1820 – 1840)
cho mời một số nghệ nhân Trung Quốc sang đảm trách công việc chế tạo các loại
gạch, ngói tráng men lưu ly và đồ men pháp lang để phục vụ việc kiến trúc và trang
trí đền đài cung điện. Người Việt đó học được nghề, chế tạo được sản phẩm theo ý
tưởng, sở thích, nhu cầu của mình, nên đã khai sinh chính thức tại Việt Nam. Do đó
vua Minh Mạng đặt tên cho ngành mỹ nghệ cao cấp này là Pháp lam. Cố họa sĩ
Phạm Đăng Trí nhận định về màu sắc pháp lam Huế: “Các nghệ sĩ làm pháp lam ở
Trên thực tế nhiều hoạ tiết vẽ trên cốt đồng là nhân vật, phong cảnh với các điển
tích lịch sử…
3. Tạm thai Pháp lam: Phương pháp chế tác giống Kháp ti pháp lam, chỉ khác ở chỗ
hoa văn tô điểm bên ngoài, cốt sản phẩm, được khắc lõm xuống khiến đường viền
hoa văn nổi lên. Ở phần lõm này được phủ đầy men pháp lam, sau khi nung đốt thì
đem mài bóng để hoàn thiện. Các đường nổi trên sản phẩm Tạm thai Pháp lam tuy
rắn rỏi nhưng đạt được sự trang trọng mà mộc mạc trong nghệ thuật.
4. Thấu minh Pháp lam: Chỉ tráng men Pháp lam trong suốt lên cốt bằng vàng, bạc
hoặc đồng sau khi được chạm nổi, khắc chìm, rồi đem nung là hoàn thành. Cốt hoa
văn được chạm nổi hoặc khắc chìm, đôi khi các đường nét hoa vàn chạm khắc này
được thiếp vàng, bạc, hiện ra xuyên qua lớp men Pháp lam một màu như: vàng, lục,
lam, tớm… Loại hình Pháp lam này lợi dụng tính chất của lớp men trong suốt hoặc
trong mờ để biểu thị sự biến đổi của đồ án hoa văn do độ sáng tối, đậm nhạc mà có.
Pháp lam Huế thuộc Họa Pháp lang và một số vật dụng khác là đồ ký kiểu thuộc
Kháp ti Pháp lang được đặt mua tại Trung Hoa.
Hồi sinh một nghệ thuật Pháp lam
Trải gần hai thế kỷ tồn tại trong môi trường khí hậu và thời tiết khắc nghiệt như xứ
Huế, lại bị chiến tranh tàn phá, nên nhiều mảng pháp lam trang trí trên các cung
điện Huế đó biến mất hoặc bị xâm hại nặng nề. Tìm hiểu các tài liệu, thư tịch và
hiện vật pháp lam ở bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, cũng như ở trên các công
trình kiến trúc thời Nguyễn cho thấy kỹ nghệ chế tác Pháp lam được nghệ nhân Việt
Nam tiếp thu, sáng tạo, làm nên những sản phẩm tuyệt mỹ, những hiện vật vô giá
được trưng bày, quản lý cẩn thận ở Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình và trên các di
tích khác ở Huế.
Trong nỗ lực trùng tu, tôn tạo các công trình kiến trúc thời Nguyễn – có dấu ấn của
Pháp lam Huế, nhiều nhóm chuyên gia bảo tồn đã dày công nghiên cứu chất liệu
Pháp lam cổ, xây dựng phương pháp, kỹ thuật chế tác trong điều kiện các thư tịch,
bí quyết đều thất truyền. Sau nhiều năm nghiên cứu, trải qua vô số hoạt động thử
nghiệm, nhóm nghiên cứu của Thạc sĩ Đỗ Hữu Triết (công ty cổ phần Kỹ nghệ Pháp
lam Sao Khuê – Khuestar JSC) đó thành công và tự hào phục hồi – tôn vinh nét văn