Tài liệu Đề tài: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2007 – 2012 potx - Pdf 10

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
CCHC: Cải cách hành chính
CCN: Cụm công nghiệp
CNTT: Công nghệ thông tin
CSHT: Cơ sở hạ tầng
CSVC: Cơ sở vật chất
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
GTGT: Giá trị gia tăng
GTSX: Giá trị sản xuất
KCN: Khu công nghiệp
KH – CN: Khoa học – Công nghệ
KHKT: Khoa học kỹ thuật
KT – XH: Kinh tế - Xã hội
KTNN: Kinh tế nhà nước
KTQD: Kinh tế quốc dân
KTTN: Kinh tế tư nhân
KVTN: Khu vực tư nhân
MTQG: Mục tiêu quốc gia
NSLĐ: Năng suất lao động
NSNN: Ngân sách nhà nước
THPT: Trung học phổ thông
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
i
MỤC LỤC
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT i
MỤC LỤC ii
DANH SÁCH BẢNG iii
DANH SÁCH HÌNH iv
LỜI NÓI ĐẦU 1

nhu cầu về vốn rất lớn cả về phái người tiêu dùng lẫn chủ sở hữu, tính đa dạng đó là ưu thế
rất lớn để đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún lên nền sản xuất hàng hóa lớn.
Hơn thế nữa, với phạm vi hoạt động lớn trên mọi ngành nghề, lĩnh vực cũng như địa bàn,
kinh tế tư nhân đã và đang len lõi vào từng khu vực nhỏ nhất, tận dụng tối đa nguồn lực
của từng khu vực, điều mà khu vực kinh tế nhà nước và nước ngoài khó có thể làm được.
Với vai trò to lớn đó, cùng với sự phát triển nhanh chóng, phức tạp về cả số lượng,
quy mô trong thời gian gần đây đòi hỏi phải có những nghiên cứu chi tiết thực trạng của
khu vực kinh tế tư nhân tỉnh, đảm bảo sự phát triển đúng quỹ đạo, định hướng kinh tế mà
tỉnh Hòa Bình đặt ra.
Đề tài của tôi bao gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về kinh tế tư nhân
Chương II: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2007 – 2012
Chương III: Những định hướng và giải pháp phát triên kinh tế tư nhân tỉnh Hòa Bình
Hi vọng bài viết này, về một phần nào đó sẽ giúp mọi người hình dung ra bức tranh
của khu vực kinh tế tư nhân tỉnh Hòa Bình trong thời gian gần đây, đồng thời đóng góp
những giải pháp mà tỉnh có thể thực hiện nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, biến
khu vực kinh tế tư nhân thành đầu tàu kéo cả nền kinh tế tỉnh phát triển.
1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN
1.1. Kinh tế tư nhân và đặc điểm của kinh tế tư nhân
1.1.1. Khái niệm
Hiện nay đối với thuật ngữ “khu vực tư nhân” tồn tại một số cách hiểu khác nhau
tùy theo quan điểm và cách nhìn nhận mang tính chất về sở hữu. Do vậy, trong thực tế các
cách hiểu đó thường chỉ mang tính chất tương đối và không thống nhất.
Ở Việt Nam, theo cách hiểu rộng nhất thì khu vực KTTN và khu vực KTNN (hay
còn gọi là khu vực quốc doanh) là hai bộ phận cấu thành nền kinh tế. Như vậy, tư nhân bao
gồm cả các doanh nghiệp trong nước, lẫn doanh nghiệp nước ngoài dưới dạng liên doanh
hay 100% vốn nước ngoài. Đồng thời, cách hiểu này ũng đưa đến một hệ quả là khu vực
KTTN bao gồm cả các cơ sở sản xuất nông nghiệp (như hợp tác xã nông nghiệp, nuôi
trông và khai thác thủy hải sản,…) và các doanh nghiệp phi nông nghiệp. Tuy nhiên, ở

KTTN mà tiêu biểu là doanh nghiệp của tư nhân là mô hình tổ chức kinh doanh của
nền sản xuất hàng hóa ở giai đoạn cao.
Hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa gắn liền với sự phân công lao động xã hội.
Trước khi xuất hiện nền đại công nghiệp, nền sản xuất hàng hóa còn ở trình độ thấp, đó là
nền sản xuất hàng hóa giản đơn, chủ yếu là sản xuất nhỏ, tự cung, tự cấp. Hình thức tổ
chức sản xuất doanh nghiệp là hình thức tiên tiến, gắn liền với nèn đại công nghiệp, phát
triển cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở hình thức tổ chức
này, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất tăng nhanh.
1.1.2.2. KTTN là nền tảng của kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là cách thức tốt nhất và duy nhất để một nền kinh tế vận hành có
hiệu quả. Kinh tế thị trường là phương tiện để đạt đến nền sản xuất lớn, hiện đại và hiệu
quả. Kinh tế thị trường là phương tiện để đạt đến nền sản xuất lớn, hiện đại. Và cơ chế thị
trường hiện đại là môi trường để KTTN phát triển. KTTN mà điển hình là mô hình tổ chức
doanh nghiệp là sản phẩm tự nhiên của kinh tế thị trường, và tự lớn lên trong kinh tế thị
trường.
KTTN ở nước ta được khôi phục từ sau công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo, trong điều kiện nền kinh tế chậm phát triển, quan hệ sản xuất thống trị xã hội
3
không phải là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Do vây, KTTN ở nước ta có một số đặc
điểm riêng biệt khác nữa so với các nước trên thế giới:
Thứ nhất, KTTN ở nước ta là kết quả của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần, là bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển KTTN
nhằm mục đích phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Do đó, về mặt bản chất, nó khác với
KTTN ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Thứ hai, KTTN ở nước ta mang trong mình yếu tố có tính xã hội chủ nghĩa. Điều
này thể hiện ở chỗ: KTTN đại diện cho một lực lượng sản xuất mới góp phần giải phóng
lực lượng sản xuất, thức đẩy tăng trưởng xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,

Thứ ba, các doanh nghiệp tư nhân thông qua hoạt động của mình củng cố, tăng

+ Chủ doanh nghiệp toàn quyền quyết định quy mô, phương thức hoạt động, quản lý
kinh doanh, sử dụng lợi nhuận sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Công ty Cổ phần
Công ty Cổ phần là một loại hình doanh nghiệp có tính xã hội hóa cao, người lao
động có thể trở thành người chủ sở hữu, gắn được lợi ích cá nhân với hoạt động của doanh
nghiệp, do đó là một mô hình hoạt động có hiệu quả hiện nay. Đặc điểm:
+ Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần.
+ Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn
chế số lượng tối đa.
+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn góp vào doanh nghiệp.
- Công ty TNHH
Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, được pháp luật thừa
nhận. Chủ sở hữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt. Trước pháp luật,
công ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền và nghĩa vụ tương ứng
với quyền sở hữu công ty.
5
Đặc điểm:
+ Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không quá 50.
+ Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và có nghĩa vụ tài sản khác trong
phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
- Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là tổ chức kinh doanh có ít nhất hai cá nhân là thành viên hợp
danh làm chủ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các khoản nợ
và nghĩa vụ của công ty.
Đặc điểm:
+ Công ty có tư cách pháp nhân.
+ Công ty phải có từ hai cá nhân trở lên tham gia thành lập bao gồm thành viên hợp
danh, thành viên góp vốn (có thể có).
+ Thành viên hợp danh phải là người có trình độ, có uy tín nghề nghiệp, chịu trách

nhà nước chỉ tạo ra được 0,80 tỉ đồng và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 0,89 tỉ
đồng. Chính vì thế, vai trò của KTTN trong nền kinh tế ngày càng trở nên quan trọng.Biều
hiện, sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP cả nước ngày một tăng.
Hình 1: Giá trị tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của khu vực KTTN
Đơn vị: Tỷ đồng.
7
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Không những tăng về số lượng đóng góp mà KTTN còn gia tăng cả tỷ trọng đóng
góp cho GDP. Nếu như năm 2005, KTTN chỉ đóng góp 45,6% GDP thì sang đến năm
2011 đã tăng lên mức hơn 48%. Như vậy, vai trò của KTTN ngày càng quan trọng trong
nền KTQD.
Ngoài ra, KTTN tạo ra nhiều sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát.
1.2.3. Kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
năng động
Khu vực KTTN đã đóng góp quan trọng vào GDP và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
nhất là trong những năm gần đây. Đặc biệt trong nông nghiệp, nó đã góp phần đáng kể
trong trồng trọt, chán nuôi và quan trọng hơn cả là trong các ngành chế biến, xuất khẩu,
nhờ đó kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển dịch sản xuất hàng hóa, đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Hơn thế nữa, mục tiêu của phát triển là nhằm tạo cho người dân có mức thu nhập
cao hơn thông qua sự tăng trưởng nhanh trong tổng sản phẩm quốc nôi. Trong nền kinh tế
thị trường, điều này có thể đạt được cùng với nỗ lực của khu vực công và khu vực tư nhân.
Một trong những đóng góp quan trọng của khu vực tư nhân đối với phát triển kinh
tế là khả năng huy động vốn cho việc sản xuất các hàng hóa và dịch vụ. Nguồn vốn là yếu
tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất. Trong một nền kinh tế đang phát triển, nguồn
vốn rất khan hiếm, và đặc biệt đối với các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì nguồn
vốn càng khan hiếm hơn khi các tổ chức tài chính chưa phát triển và không có khả năng
huy động tiền tiết kiệm từ dân cư, cũng như hạn chế của ngân sách trong việc phân bổ vốn
cho đầu tư. Do đó, khả năng huy động vốn của khu vực KTTN trở nên rất quan trọng.

Nguồn: Tổng cục thống kê.
Qua số liệu trên cho chúng ta thấy KTTN có vai trò rất lớn trong nguồn thu ngân
sách của nhà nước. Với tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện nay thì chỉ trong một vài
năm gần đây KTTN sẽ thể hiện một vị thế quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế và là chỗ
dựa vững chắc trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trở thành một nước công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.2.5. Kinh tế tư nhân góp phần giải quyết việc làm cho người lao động
KTTN phát triển sẽ tạo ra việc làm cho một lượng lớn lao động, góp phần vào việc
ổn định đời sống cho người dân. Thật vậy, trong giai đoạn 2000-2005, hằng năm khu vực
KTTN cả nước thu hút khoảng 1,6 đến 2 triệu chỗ làm việc và đang trở thành nơi thu hút
lao động chủ yếu của cả nước. Phần lớn các doanh nghiệp khu vực KTTN có quy mô vừa
và nhỏ, dễ thích nghi với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động nhàn rỗi nên đã góp
phần vào giải quyết việc làm, giảm thất nghiệpcho khu vực này. Hơn nữa, nhờ chi phí tạo
một việc làm mới rẻ hơn so với doanh nghiệp nhà nước (theo tính toán của Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam, chỉ hết 224 triệu đồng so với 436,5 triệu đồng) mà khu vực
KTTN đã còn góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng việc làm cho nhà nước.
Chính vì vậy, khu vực KTTN đã giúp giải quyết việc làm cho phần lớn lao động
Việt Nam. Cụ thể:
10
Bảng 1: Tình hình thu hút lao động trong khu vực KTTN Việt Nam giai đoạn
2000 - 2011
Năm Lao động khu vực KTTN
(Nghìn người)
Tỷ trọng LĐ khu vực KTTN
(%)
2000 32358,6 87,3
2001 33356,6 87,4
2002 34216,5 87,1
2003 34731,5 86,0
2004 35633,0 85,7

động trồn lúa ở nông thôn cùng địa bàn. Mức thu nhập của khu vực KTTN tuy thấp hơn
các DNNN nhưng cao hơn khu vực kinh tế tập thể. Thu nhập trung bình của một lao động
trong khu vực KTTN cao gấp 2 đến 3 lần so với mức lương cơ bản của Nhà nước quy định.
1.3. Các nhân tố tác động đến sự phát triển của khu vực tư nhân
1.3.1. Nhóm nhân tố bên ngoài
1.3.1.1. Khung khổ pháp lý, chính sách:
Đây là các quy định pháp luật tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp. Trong đó, các chính sách tác động trực tiếp là các chính sách liên quan đến gia
nhập thị trường, thuế, lao động, đất đai, cạnh tranh, xuất nhập khẩu và các chính sách hỗ
trợ của nhà nước… Chi phí gia nhập thị trường cao do những quy định về cấp phép và
đăng ký kinh doanh có thể là một cản trở thành lập doanh nghiệp. Chính sách thuế không
rõ ràng, hợp lý sẽ vô tình làm doanh nghiệp gặp khó khăn trong mở rộng kinh doanh…
Hay các chính sách khác cũng vậy. Nếu các chính sách này ban hành không hợp lý có thể
gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp.
12
1.2.6.1. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến khả năng vận chuyển, giao lưu, trao đổi hàng hóa với các
vùng khác cũng như giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm. Do đó, nó ảnh hưởng trực tiếp
tới sự phát triển của các doanh nghiệp nói chung và khu vực KTTN nói riêng.
1.2.6.2. Môi trường kinh doanh
- Môi trường quốc tế:
Hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới khiến sự gắn kết của các nước với
nền kinh tế thế giới ngày càng chặt chẽ. Vì vậy, các bất ổn của nền kinh tế thế giới có thể
ảnh hưởng nhanh chóng và sâu rộng tới sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc
biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
- Môi trường trong nước:
Sự ổn định về mặt chính trị sẽ giúp cho KVTN của vùng yên tâm đầu tư sản xuất. Đồng
thời, quy mô thị trường lớn sẽ là yếu tố thu hút các DNTN đầu tư và mở rộng sản xuất.
Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh của quốc gia, của vùng tốt, có kinh nghiệm marketing
quốc tế từ phía chính phủ và doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng trong việc mở

1.2.7.3. Đổi mới công nghệ
doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ, tiếp cận những nguồn công nghệ hiện
đại sẽ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành. Điều này hỗ trợ doanh nghiệp
tăng trưởng
1.3. Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân
1.3.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc đang trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách toàn
diện nền kinh tế, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị
trường; thực hiện nhiều chính sách mở cửa với nhiều đặc điểm phát triển và vấn đề tương
tự nhau; đang trong giai đoạn phát triển thị trường, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Với lợi
14
thế là nước tiến hành cải cách sau, Việt Nam có cơ hội để học tập và tận dụng những bài
học thành công và không thành công của Trung Quốc, tránh những tác động tiêu cực có thể
nảy sinh trong quá trình chuyển đổi.
Quá trình phát triển của khu vực KTTN ở Trung Quốc
Sau ngày thành lập nước, Trung Quốc đã nhanh chóng hình thành nên một khu vực
kinh tế nhà nước lớn mạnh với sự giúp đỡ của Liên Xô cũ. Vào năm 1949, doanh nghiệp tư
nhân chiếm 63,3% sản lượng công nghiệp nhưng đến năm 1952, tỷ lệ này đã giảm nhanh
chóng xuongs còn 39%. Trong thời gian đó, chính phủ đã kiểm soát khu vực tư nhân thông
qua biện pháp quốc hữu hóa. Đến năm 1952, 56% sản phẩm đầu ra của khu vực tư nhân là
theo đặt hàng của nhà nước hay được tiêu thụ thông qua nhà nước. Bên cạnh đó, một vài
doanh nghiệp tư nhân đã chuyển sang hình thức công tư hợp doanh. Năm 1952, sản lượng
của khu vực tư nhân chiếm 5,7% tổng sản lượng quốc dân. Năm 1953, trong Đường lối
chung cho thời kỳ quá độ, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra một lịch trình hoàn thành
việc cải tạo xã hội chủ nghĩa các doanh nghiệp tư nhân và hộ thủ công trong vòng 15 năm.
Vào lúc đó, lịch trình trên là rất khả thi và đã nhanh chóng được đẩy mạnh, nhưng cũng
nhanh chóng kết thúc vào năm 1956. Sau Đại nhảy vọt, chính quyền trung ương lại mở
cánh cửa cho các doanh nghiệp cá thể quy mô nhỏ, bao gồm cả hộ thủ công, nhưng doanh
nghiệp tư nhân vẫn chưa được xem xét đến (cho tới tận năm 1988). Tuy nhiên tất cả đã
phải đóng cửa khi Cách mạng văn hóa bùng nổ nằm 1966.

để lại một nền thị trường rộng lớn đã mở ra cho hộ cá thể phát triển.
Sự phát triển của hộ cá thể đầu những năm 1980 đã đặt nền móng vững chắc cho sự
xuất hiện chính thức của doanh nghiệp tư nhân năm 1988. Trước năm 1988, rất nhiều hộ cá
thể có thể coi là doanh nghiệp tư nhân nếu xét dưới góc độ lao động. Theo kết quả điều tra
của một nhóm nghiên cứu thuộc Hội đồng nhà nước trong 300 làng tiến hành năm 1987, có
0,2 hộ nông dân thuê trên 8 nhân trong năm 1986. Như vậy có thể ước tính rằng cuối năm
1988 đã có khoảng 500.000 hộ cá thể có thể coi là doanh nghiệp tư nhân.
Bên cạnh đó còn rất nhiều doanh nghiệp tập thể những thực chất là sở hữu tư nhân.
Đó là những “doanh nghiệp đội mũ đỏ” với mục đích núp dưới danh nghĩa tập thể để tránh
những ngăn cấm từ phía chính phủ và những phân biệt về mặt tư tưởng hệ. Loại doanh
nghiệp này vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả khi quá trình tư nhân hóa đang diễn ra mạnh mẽ và
rộng khắp. Mặc dù không có số liệu chính thức những hầu hết các doanh nghiệp cấp làng ở
Thuận Đức là doanh nghiệp mũ đỏ trước khi chương trình tư nhân hóa được thực hiện năm
1992. Ngoài ra còn có rất nhiều doanh nghiệp tập thể cho tư nhân thuê để hoạt động. Con
số này ở Hà Bắc, Thiên Tân, Liêu Ninh và Ninh Hạ năm 1984 là 18,6%, 30%, 40% và
16
50%. Sau khi trả một khoản tiền thuê, tư nhân có thể điều hành doanh nghiệp như doanh
ngiệp của chính mình và có thể tích lũy được những khoản tiền đáng kể. Dần dần, tỷ lệ tài
sản của tập thể trong doanh nghiệp giảm xuống và doanh nghiệp sẽ chuyển thành sở hữu tư
nhân. Cuối năm 1989, số lượng doanh nghiệp tư nhân đăng ký là 90.600.
Sự kiện Thiên An Môn năm 1989 gây ra một bước thụt lùi cho khu vực tư nhân vì sau đó
chính quyền đã có nhiều những chính sách mang tính bảo thủ. Số lượng hộ cá thể giảm từ
23,05 triệu cuối năm 1988 xuống còn 19,41 triệu cuối năm 1989; số lượng doanh nghiệp tư
nhân cũng giảm từ 90.600 cuối năm 1989 xuống 88.000 tháng 6 năm 1990. Ở Hà Nam, số
lượng doanh nghiệp tư nhân giảm 23% trong thời kỳ 1989 – 1991. Xu hướng này chỉ dừng
lại sau chuyến công tác nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình xuống phía Nam mà tại đó ông đã
kêu gọi tiếp tục các nỗ lực cải cách. Cuối năm 1992, số lượng hộ cá thể và doanh nghiệp tư
nhân đã là 26,99 triệu và 139.600. Giai đoạn 1992 – 1994 là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất
của các doanh nghiệp tư nhân. Trên thực tế, khu vực tư nhân đã thực sự cho doanh nghiệp
nhà nước thấy tính hiệu quả của sở hữu tư nhân.

Trong những năm tới, vay phi chính thức vẫn sẽ là nguồn tài chính chủ yếu cho các
doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, những quy định pháp luật của Trung Quốc trong việc
điều chỉnh hoạt động vay mượn phi chính thức hiện lại rất thiếu. Ví dụ, các quỹ tiết kiệm
sử dụng luân phiên quy mô nhỏ thì được phép tồn tại, nhưng lớn thì không. Quỹ tiết kiệm
quay vòng quy mô lớn thực chất có thể gây ra những vấn đề về tài chính, ổn định xã hội và
cần phải có quy định điều chỉnh. Vấn đề chính là chưa xác định được rõ ràng phạm vi
“quyền” của quỹ tiết kiệm quay vòng này.
Ở Trung quốc, nguồn tín dụng chính thức dành cho doanh nghiệp tư nhân rất hạn
chế, dưới 20% tổng vốn cho vay của 4 ngân hàng nhà nước lớn. Mặc dù về mặt văn bản
không có sự phân biệt lớn và trong nhiều trường hợp còn khuyến khích cho vay đối với
doanh nghiệp tư nhân, nhưng trên thực tế vẫn còn thái độ phân biệt doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Doanh nghiệp nhà nước không trả nợ đúng hạn thì tiền
vẫn nằm trong tay nhà nước, còn đối với doanh nghiệp tư nhân thì trong trường hợp này
tiền nằm trong tay chủ doanh nghiệp. Do đó ngân hàng cho rằng rủi ro khi cho doanh
nghiệp nhà nước vay thấp hơn so với doanh nghiệp tư nhân.
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất đối với doanh nghiệp tư nhân trong việc tiếp cận các
nguồn vốn tín dụng chính thức không phải là sự phân biệt nói trên mà quy mô doanh
nghiệp nhỏ và tính phi chính thức.
18
Một điều dễ nhận thấy là sự tiếp cận các khoản vay ngân hàng có liên quan đến quy
mô doanh nghiệp. Trong cuộc điều tra 500 doanh nghiệp nói trên, kết quả cho thấy chỉ
17% số doanh nghiệp có 50 lao động hoặc ít hơn có vay vốn ngân hàng, trong khi đó 83%
số doanh nghiệp có hơn 500 lao động vay vốn ngân hàng. Một cuộc điều tra khác tiến hành
năm 1996 cho kết quả tương tự: năm 1995, khoảng 38% số doanh nghiệp có ít hơn 30 lao
động vay tiền từ ngân hàng cho hoạt động kinh doanh và 33% vay vốn đầu tư ban đầu,
nhưng toàn bộ các doanh nghiệp nhiều hơn 200 lao động có vay tiền kinh doanh và 50%
doanh nghiệp vay vốn đầu tư ban đầu.
Xét về mặt kinh tế, hoàn toàn có lý khi ngân hàng không cho doanh nghiệp nhỏ vay.
Lý do trước hết là số tiền vay quá nhỏ để ngân hàng có thể kiếm lời từ đó. Hơn nữa, chi phí
để ngân hàng thu thập thông tin về doanh nghiệp nhỏ đôi khi lại lớn hơn so với doanh

Trước hết, các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ không
thực hiện ghi chép sổ sách kế toán đầy đủ. Nhiều trường hợp, doanh nghiệp tư nhân cố ý
sử dụng mánh khoé trong việc ghi chép và lưu giữ nhiều loại sổ sách kế toán: một cho chủ
doanh nghiệp, một để tính thuế, và một cho ngân hàng. Thông tin cho chủ doanh nghiệp là
thực ghi, bộ sổ sách thứ hai nhằm giảm thu nhập và lợi tức của công ty và bộ thứ ba lại
nhằm thổi phồng mình. Thực tế này đã tạo ra tính không chắc chắn cho bên thứ ba đối với
thông tin về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Trong trường hợp công ty có nhu cầu
vay vốn bên ngoài thì ngân hàng lại do dự khi cấp các khoản vay cho họ cho dù họ có cung
cấp thông tin thật bởi vì ngân hàng biết rằng phần lớn DNV&N không tiết lộ thông tin thật.
Thậm chí nếu ngân hàng rất sẵn lòng cho vay thì chi phí liên quan đến việc xác định chính
xác thông tin tài chính của doanh nghiệp cũng rất cao.
Thứ hai, doanh nghiệp tư nhân dường như không có ý thức tuân thủ pháp luật. Ví
dụ, có rất nhiều doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đã đăng ký bảo hộ tên mác sản phẩm
nhưng lại sản xuất sản phẩm có chất lượng thấp hơn. Chính hành vi này đã làm giảm lòng
tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm của họ, điều đó sẽ gây tổn thương cho chính các
doanh nghiệp tư nhân. Hơn thế nữa, mức độ tin tưởng lẫn nhau ngay giữa các doanh
nghiệp tư nhân cũng rất thấp, việc khất nợ là phổ biến, lừa đảo xảy ra thường xuyên. Cuối
cùng, phần lớn các DNV&N không tuân thủ chuẩn mực về lao động, công nhân thiếu sự
bảo hộ tối thiểu và nợ tiền lương cũng phổ biến. Những hành vi này làm tăng chi phí giao
dịch và chi phí quản lý, và rốt cuộc sẽ gây hại cho chính doanh nghiệp.
Thứ ba, đa số các công ty tư nhân không có cơ chế quản lý nội bộ hợp lý, điều này
là thực tế ngay cả đối với một số doanh nghiệp quy mô lớn. Nhiều công ty tư nhân là các
20
công ty gia đình - ở đó không có một cơ chế quản lý minh bạch, rõ ràng. Quyền ra quyết
định thường được trao cho một ai đó. Trong trường hợp xấu, công ty sẽ ngừng hoạt động
chỉ vì chủ doanh nghiệp không ở nhà. Một vấn đề khác nữa là nhiều công ty không có đội
ngũ nhân viên đủ khả năng. Ví dụ, nhiều doanh nghiệp tư nhân có điểm xuất phát thấp với
các nhân viên có trình độ, kỹ năng hạn chế. Sau khi công ty lớn mạnh, những nhân viên đó
không đáp ứng được yêu cầu về quản lý doanh nghiệp nữa, tuy vậy họ lại không muốn
thuê các nhà quản lý có trình độ điều hành công ty. Trong nhiều trường hợp, các bên chấm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status