TCNCYH 29 (3) - 2004
1
Nghiên cứu tác dụng của polyphenol cây chè dây
(Ampelopsis cantoniensis planch) trên một số chỉ
số lipid máu và mô bệnh học của xơ vữa động mạch
ở thỏ uống cholesterol
Nguyễn Thị Băng Sơng
1
, Nguyễn Thị Hà
2
Phạm Thiện Ngọc
2
, Phạm Thanh Kỳ
3
1
Trờng Đại học Y Huế
2
Trờng Đại học Y Hà Nội
3
Trờng Đại học Dợc Hà Nội
Cây chè dây đã đợc sử dụng làm nớc uống khá phổ biến trong những năm gần đây ở Việt Nam.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng chè dây có chứa polyphenol và có tác dụng chống oxy hoá, ức
chế sự phát triển của vi khuẩn, hạn chế các đột biến gen, .v.v.
Nghiên cứu này của chúng tôi tìm hiểu về tác dụng của polyphenol chè dây trên sự hạn chế rối
loạn chuyển hoá lipid và vữa xơ động mạch ở thỏ uống cholesterol. Kết quả nghiên cứu đã chứng
minh polyphenol chè dây có tác dụng:
1. Giảm TG, cholesterol toàn phần, LDL-C và tăng HDL-C trong huyết thanh.
2. Giảm tổn thơng xơ vữa động mạch chủ.
Chè dây là loại cây xanh quanh năm, có
tên khoa học là Ampelopsis cantoniensis
Planch có ở nhiều nơi tại Việt Nam: Cao
Bằng, Lào Cai, Lạng Sơn, Hải Phòng, Quảng
Ninh, Uông Bí, Bắc Thái, Hà Tây, Ninh Bình
[5] và một số nớc nh Lào, Trung Quốc,
Indonesia Theo Xu. Zihong và cs, lá chè
dây chứa flavone (4,73%), protein (9,25%) và
giàu K
+
, Ca
2+
, Fe
2+
, Zn
2+
cùng các vitamin
E,B
1
,B
2.
Phạm Thanh Kỳ và cs phát hiện trong
lá chè dây tại Cao Bằng có flavonoid (18-
19%), tanin (10,82-13,30%) và đờng. Phùng
Thị Vinh và cs đã phân lập và định lợng 2
TCNCYH 29 (3) - 2004
2
flavonoid tinh khiết của lá chè dây bao gồm:
myricetin (F
khoẻ mạnh, trọng lợng 1,8-2,0 kg/con, do
Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Ba Vì-Hà
Tây cung cấp và đợc nuôi đảm bảo các tiêu
chuẩn về dinh dỡng, nhiệt độ, ánh sáng
theo hớng dẫn của Trung tâm.
- Hoá chất: cholesterol, barbituric acid,
ascorbic acid, heparin của hãng Merck.Kit
định lợng cholesterol, triglycerid, HDL-C do
hãng Human (Đức) cung cấp. 2- Phơng pháp nghiên cứu
- Mô hình thực nghiệm:
+ Mô hình gây tăng cholesterol máu ngoại
sinh theo Đoàn Thị Nhu và cs [4]: cho thỏ
uống 0,5g cholesterol/kg thân trọng/ngày (tức
là 2,5ml dung dịch cholesterol 20%/kg thân
trọng/ngày) liên tục trong 30 ngày.
+ Mô hình nghiên cứu của chúng tôi: thỏ đ-
ợc chia thành 5 nhóm x 6 con/1 nhóm.
Nhóm I: nhóm chứng sinh học; nhóm II: uống
cholesterol đơn thuần; nhóm III, IV, V: uống
cholesterol và uống bổ sung 50mg, 100mg,
150mg polyphenol chè dây/kg/ngày trong 30
ngày liên tục.
Thỏ đợc lấy máu tĩnh mạch tai vào các
thời điểm ngày 0 (trớc thực nghiệm), ngày
10, ngày 20 và ngày 30; máu chống đông
bằng heparin và không đợc vỡ hồng cầu để
định lợng cholesterol toàn phần (CT),
X SD
Ngày 30
X SD
Nhóm I 6
1,96 0,13 2,20 0,19 2,42 0,23 2,64 0,25
Nhóm II 6
2,13 0,04 2,40 0,16 2,61 0,15 2,73 0,13
Nhóm III 6
2,03 0,11 2,40 0,09 2,51 0,14 2,68 0,26
Nhóm IV 6
1,98 0,12 2,30 0,10 2,58 0,19 2,73 0,16
Nhóm V 6
2,03 0,13 2,30 0,25 2,58 0,19 2,71 0,23
Trong quá trình thực nghiệm các nhóm thỏ đều lớn nhanh. Cân nặng trung bình của các
nhóm thỏ tại các mốc thời gian nhất định của quá trình thực nghiệm (ngày 0, ngày 10, ngày 20
và ngày 30) đều không khác biệt nhau có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
2- Triglycerid huyết tơng
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
1.4
1.6
0102030
Thời gian (ngày)
Nồng độ TG huyết tơng (mmol/L)
Nhóm V
Biểu đồ 2: Nồng độ CT huyết tơng của các nhóm thỏ theo thời gian thực nghiệm
So với CT của nhóm II: CT huyết tơng của nhóm thỏ IV thấp hơn có nghĩa thống kê từ ngày
20 (p<0,01) và ngày 30 (p<0,05); CT huyết tơng của nhóm thỏ V có sự khác biệt với p< 0,05 ở
ngày 10 và với p<0,001 ở ngày 20 và ngày 30.
4- HDL-C huyết tơng:
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
1.4
0102030
Thời gian (ngày)
Nồng độ HDL-C huyết tơng
(mmol/L)
Nhóm I
Nhóm II
Nhóm III
Nhóm IV
Nhóm V
Biểu đồ 3. Nồng độ HDL-C huyết tơng theo thời gian của các nhóm thỏ.
HDL-C của nhóm IV và nhóm V tăng cao có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng kể từ ngày
10 (p<0,05).
4
9
12
15
18
21
0102030
Thời gian (ngày)
Tỷ số LDL-C/ HDL-C huyết tơng
Nhóm I
Nhóm II
Nhóm III
Nhóm IV
Nhóm V Biểu đồ 5. Tỷ số LDL-C/HDL-C huyết tơng của các nhóm thỏ theo thời gian
Tỷ số LDL-C/HDL-C huyết tơng của các nhóm thỏ uống Cholesterol đều cao hơn so với
ngày 0 và so với nhóm chứng ở những thời điểm tơng ứng (p<0,05 - 0,001). Tỷ số LDL-C/HDL-
bổ sung polyphenol chè dây có tỷ lệ thoái hoá
gan giảm và mức độ nhẹ hơn, tổn thơng thận
cũng nhẹ hơn và chỉ ở dạng xung huyết.
IV. bàn luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình gây
rối loạn chuyển hoá lipid ở thỏ đã thành công.
Thỏ là loài động vật ăn cỏ nên khi đợc uống
cholesterol thì hàm lợng cholesterol huyết
thanh của thỏ tăng rất rõ rệt, tạo điều kiện
gây nên rối loạn về các chỉ số lipid máu và
những rối loạn khác, đồng thời việc khảo sát
ảnh hởng của polyphenol chè dây lên những
biến loạn trên cũng thuận lợi.
1. TG huyết tơng
Triglycerid huyết tơng của nhóm thỏ I, II
hầu nh không thay đổi trong quá trình thực
nghiệm. Nhóm thỏ IV và V (uống bổ sung
polyphenol chè dây với liều 100 mg/kg/ngày
và 150 mg/kg/ngày) có nồng độ TG giảm 2,5
lần so với ngày 0 và thấp hơn có ý nghĩa so
với TG của nhóm I, II, III ở ngày 20. Nh vậy,
polyphenol chè dây với liều từ 100mg/ kg/
ngày có tác dụng giảm nồng độ TG huyết t-
ơng sau 20 ngày. Nhóm thỏ uống
polyphenol chè dây liều 50 mg/kg/ ngày phải
đến ngày 30 sự thay đổi về TG huyết tơng
mới xuất hiện nhng cha có ý nghĩa thống kê
(p>0,05). Điều này có thể cho rằng, nếu dùng
liều thấp để gây hạ TG huyết tơng thì phải
uống với thời gian kéo dài (trên 30 ngày).
liều polyphenol chè dây 50mg/kg/ngày cha
có tác dụng rõ khi thời gian uống ngắn, có lẽ
tác dụng trên sẽ xuất hiện khi thỏ đợc uống
với thời gian kéo dài hơn (trên 30 ngày).
3. HDL-cholesterol
HDL-C có tác dụng vận chuyển ngợc
cholesterol từ tế bào ngoại biên về gan để
thoái hoá chúng, do vậy HDL-C còn đợc gọi
là yếu tố bảo vệ chống xơ vữa động mạch.
Nồng độ HDL-C máu tỷ lệ nghịch với khả
năng bị bệnh tim mạch.
Với nhóm uống polyphenol chè dây liều
100mg/kg/ ngày và nhóm uống polyphenol
chè dây liều cao 150mg/kg/ngày, nồng độ
HDL-C huyết tơng của hai nhóm tăng cao
gần gấp hai lần so với ngày 0 (p < 0,05) và
tăng cao hơn so với nhóm chứng (p < 0,05)
ngay từ ngày 10. Nh vậy polyphenol chè dây
có tác dụng tăng HDL-C từ ngày10 với liều
100 mg/kg/ngày. Nghiên cứu của Nguyễn Thị
Hà [1] và cs cho thấy dịch chiết polyphenol
chè xanh cũng có tác dụng tăng HDL-C huyết
tơng thỏ nhng với liều cao 150mg/kg/ngày
và với thời gian sử dụng kéo dài sau 45 ngày.
4. LDL-C huyết tơng.
Tại ngày 10, nhóm uống polyphenol chè dây
150mg/kg/ngày có nồng độ LDL-C huyết tơng
thấp hơn nhóm uống cholesterol đơn thuần và
nhóm uống cholesterol và uống bổ sung
polyphenol chè dây liều thấp 50mg/kg/ngày (p <
Kết quả cho thấy nhóm uống cholesterol
đơn thuần có tổn thơng rõ nhất ở động mạch
chủ: hạt mỡ, chấm mỡ bám trên thành động
mạch, mảng mỡ rộng trên thành mạch, tổn
thơng chủ yếu ở giai đoạn I; nhóm II có tỷ lệ
tổn thơng ở thành động mạch là cao nhất,
chiếm 4/6. Nhóm uống cholesterol và uống bổ
sung polyphenol chè dây liều 50mg/kg/ngày
có kết quả trên hình ảnh mô bệnh học nh
sau: thành động mạch chủ có các mảng mỡ
khá rộng, tổn thơng vừa ở giai đoạn 0 và vừa
ở giai đoạn I; tuy nhiên tỷ lệ tổn thơng động
mạch thấp hơn so với nhóm II, chiếm 2/6. Đối
với nhóm IV và V, tỷ lệ tổn thơng động mạch
chủ là 2/6, nhng động mạch chủ tổn thơng
nhẹ, mảng mỡ xuất hiện ít và trên diện tích
hẹp, tổn thơng chỉ ở giai đoạn 0. Nh vậy, có
thể nói rằng polyphenol chè dây có vai trò
ngăn cản sự lắng đọng lipid trên thành động
mạch, từ đó hạn chế sự xuất hiện bệnh xơ
vữa động mạch ở thỏ thực nghiệm. Liều
polyphenol chè dây càng cao thì càng hạn
chế đợc sự tạo thành mảng vữa xơ.
V. Kết luận
1. Polyphenol chè dây có tác dụng làm
giảm các chỉ số triglycerid, cholesterol toàn
phần và LDL-C và làm tăng HDL-C trong huyết
tơng ở thỏ uống cholesterol thực nghiệm.
2. Nghiên cứu về tổn thơng mô bệnh
học cho thấy polyphenol chè dây có tác dụng
Nghiên cứu dợc lý cây ngu tất về tác dụng
hạ cholesterol máu và hạ huyết áp, Tạp chí
dợc học, (1), tr.11-13
5. Phùng Thị Vinh (1995), Nghiên cứu về
thực vật, thành phần hoá học và tác dụng sinh
học của cây chè dây, Luận án Phó tiến sỹ khoa
học Y dợc, trờng Đại học Dợc Hà Nội.
6. Betteridge, Morell J.M. (1998). Clinicals
guide to lipid and coronary heart disease.
Chapman and health medical.
7. Camoirano A., Balansky R. M.,
Bennicelli C. (1994), Experimental databases
on inhibition of the bacterial mutagenicity of 4-
Nitroquinoline 1- oxide and cigarette smoke,
Mutat- Res., 317 (2), pp.89.
8. Chu D.C and Juneja L. R (1997),
General chemical composition of grean tea
and its infusion, Chemistry and applications
of green tea, CRC Press, Boca Raton-New
York, pp.13-20.
9.
Laughton M.J, Halliwell B., Evans P.J
(1989), Antioxidant and pro-oxydant actions
of the plant phenolics quercetin, gossypol and
myricetin effects on lipid proxidand, hydroxyl
radical generation and bleomycin dependent
damage to DNA, Biochemical Pharmacology,
38 (17), pp. 457-63.
10. Orem C, Orem A, Uydu HA, Celik S,
Erdol C, Kural BV (2002) The effects of lipid-