Tài liệu Luận văn: “Chi phí sản xuất kinh doanh và các biện pháp quản lý chi phí sản xuất kinh doanh” - Pdf 10

1 Luận văn:
“Chi phí sản xuất kinh doanh và các biện pháp
quản lý chi phí sản xuất kinh doanh”
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, quản trị tài chính là
công cụ quan trọng phục vụ cho việc quản lý kinh tế cả về mặt vi mô và vĩ mô. Muốn có
được lợi nhuận trong cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải thường
xuyên quan tâm đến chi phí sản xuất. Do đó công tác quản lý chi phí là công việc trọng
tâm và luôn được xoay quanh trước các quyết định quản trị tài chính.
Việc doanh nghiệp có tồn tại hay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có bảo
đảm bù đắp được chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh hay không. Điều dó
có nghĩa là doanh nghiệp phải tính toán hợp lý chi phí sản xuất và thực hiện quá trình
sản xuất theo đúng sự tính toán ấy. Chi phí là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh
hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất sản phẩm thấp hay cao,
giảm hay tăng phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng vật tư lao động tiền vốn. Việc
phấn đấu tiết kiệm chi phí sản xuất là mục tiêu quan trọng không những của mọi doanh
nghiệp mà còn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Vì vậy, công tác quản lý chi phí sản
xuất là một khâu quan trong đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời chính xác về kết quả
hoạt động sản xuất, đáp ứng nhu cầu trong việc ra quyết định quản lý, là yếu tố đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng, tăng trưởng và phát triển nền kinh tế
nói chung.
Qua quá trình thực tập tại Trung tâm lưới điện phân phối cùng với kiến thức học
ở trường, em đã nhận thức được phần nào vai trò quan trọng của việc quản lý chi phí, hạ
giá thành sản phẩm. Em quyết định chọn đề tài: "Chi phí sản xuất kinh doanh và các

- C: Là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra sản phẩm
dịch vụ như : Khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu, công cụ, năng lượng
Bộ phận này được gọi là hao phí vật chất.
- V: Là chi phí tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động tham gia quá
trình sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ, được gọi là hao phí lao động cần thiết.
5
- m : Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt động sản xuất ra
giá trị sản phẩm, dịch vụ.
Do vậy, chi phí sản xuất của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các
hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành
sản xuất sản phẩm trong một thời gian nhất định.
Tiếp theo sau quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải tổ chức việc tiêu thụ sản
phẩm để thu tiền về. Để thực hiện được việc này, doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những
chi phí nhất định chẳng hạn như chi phí đóng gói sản phẩm, chi phí vận chuyển, bốc dỡ,
bảo quản sản phẩm Hơn nữa, trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh
như hiện nay, ngoài các chi phí tiêu thụ trên, doanh nghiệp còn phải bỏ ra chi phí để
nghiên cứu thị trường, chi phí quảng cáo để giới thiệu sản phẩm, chi phí bảo hành sản
phẩm. Những khoản chi phí này phát sinh trong lĩnh vực lưu thông sản phẩm nên được
gọi là chi phí tiêu thụ hay chi phí lưu thông sản phẩm.
Ngoài những chi phí nêu trên, doanh nghiệp còn phải thực hiện được nghĩa vụ
của mình với Nhà nước như nộp thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ
đặc biệt, thuế khai thác tài nguyên Những khoản chi phí này đều diễn ra trong quá
trình kinh doanh vì thế đó cũng là khoản chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Tóm lại, chi phí sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là toàn bộ chi phí
sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm và các khoản tiền thuế mà doanh nghiệp phải bỏ
ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
1.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Để quản lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, tính toán
được kết quả tiết kiệm chi phí ở từng bộ phận sản xuất của toàn doanh nghiệp, doanh
nghiệp cần phải tiến hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh. Phân loại chi phí sản

mục chi phí sau:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : gồm các chi phí về nguyên liệu, vật liệu,
nhiên liệu và động lực trực tiếp dùng vào sản xuất kinh doanh.
+ Chi phí nhân công trực tiếp : gồm các khoản chi phí trả cho người lao động
trực tiếp sản xuất (chi phí tiền lương,tiền công) và các khoản trích nộp của công nhân
trực tiếp sản xuất mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm chi trả cho họ.
+ Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sử dụng chung cho hoạt động sản xuất
chế biến của phân xưởng, bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp trực tiếp tạo ra sản
phẩm. Chi phí sản xuất chung bao gồm chi phí tiền lương, phụ cấp trả cho nhân viên
phân xưởng, chi phí vật liệu, dụng cụ dùng cho phân xưởng, khấu hao tài sản cố định
thuộc phân xưởng (bộ phận sản xuất), chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
phát sinh ở phân xưởng.
Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành sản phẩm tiêu thụ thì chỉ tiêu giá thành còn
bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối
lượng sản xuất sản phẩm.
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lượng sản phẩm, công
việc lao vụ sản xuất trong kỳ, chi phí sản xuất được chia làm hai loại:
+ Chi phí cố định (hay chi phí bất biến) là những chi phí không bị biến động trực
tiếp theo sự thay đổi của khối lượng sản xuất sản phẩm. Chi phí này gồm có khấu hao
tài sản cố định, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, tiền thuê đất, chi phí quản lý doanh
nghiệp Tuy nhiên trong kỳ có thể thay đổi về khối lượng sản phẩm thì các khoản chi
phí cố định này chỉ mang tính chất tương đối có thể khống đổi hoặc biến đổi ngược
chiều. Nếu như trong kỳ có sự thay đổi về khối lượng sản phẩm thì các khoản chi phí cố
định này tính trên một đơn vị sản phẩm sẽ biến động tương quan tỷ lệ nghịch với sự
biến động của sản lượng.
8
+ Chi phí biến đổi (hay còn gọi là chi phí khả biến): là những chi phí bị biến
động một cách trực tiếp theo sự thay đổi của khối lượng sản xuất sản phẩm các chi phí
này cũng tăng theo tỷ lệ tương ứng. Thuộc về chi phí khả biến bao gồm chi phí vật liệu

- Chi phí quản lý doanh nghiệp : Bao gồm các chi phí cho bộ máy quản lý và
điều hành doanh nghiệp, các chi phí có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp như : Chi phí công cụ lao động nhỏ, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho bộ
máy quản lý và điều hành doanh nghiệp, tiền lương và các khoản trích nộp theo quy
định của bộ máy quản lý và điều hành doanh nghiệp, chi phí mua ngoài, chi phí khác
bằng tiền phát sinh ở doanh nghiệp như chi phí về tiếp khách, giao dịch, chi các khoản
trợ cấp thôi việc cho người lao động.
Giá thành tiêu thụ = giá thành sản xuất + chi phí bán hàng + chi phí quản lý
doanh nghiệp.
1.3.3. Phân loại giá thành sản phẩm
Để giúp cho việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành sản phẩm cũng như xây
dựng giá cả hàng hoá cần phải phân biệt các loại giá thành khác nhau. Có hai cách phân
loại chủ yếu là :
* Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành:
- Giá thành kế hoạch : Giá thành kế hoạch là giá thành sản phẩm được tính trên
cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch.
- Giá thành định mức : Giá thành định mức là giá thành được tính trên cơ sở định
mức chi phí sản xuất và sản lượng sản phẩm hàng năm.
10
- Giá thành thực tế : Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phí
sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như sản lượng đã sản xuất
thực tế trong kỳ.
* Phân loại giá thành theo phạm vi các chi phí cấu thành:
- Giá thành sản xuất: Giá thành sản xuất là biểu hiện bằng tiền các hao phí vật
chất và hao phí lao động sống mà doanh nghiệp chi ra để hoàn thành việc sản xuất sản
phẩm nhất định.
Giá thành sản xuất sản phẩm bao gồm : các chi phí sản xuất, chế tạo sản phẩm
(chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung) tính cho sản phẩm, công việc hay lao vụ đã hoàn thành.
- Giá thành tiêu thụ của sản phẩm tiêu thụ: Là biểu hiện bằng tiền các hao phí vật

quá trình sản xuất. Với trình độ chuyên môn hoá, tự động hoá cao, với sự ra đời của các
công nghệ mới, không chỉ có chi phí về tiền lương được hạ thấp mà còn hạ thấp cả mức
tiêu hao nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm. Nhiều loại vật liệu mới ra đời với tính
năng tác dụng hơn, chi phí thấp hơn cũng làm cho chi phí nguyên vật liệu được hạ thấp.
2.1.2. Tổ chức sản xuất và sử dụng con người
Đây là một nhân tố quan trọng để nâng cao năng suất lao động giảm chi phí và hạ
giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao
động trong sản xuất. Việc tổ chức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản
xuất một cách hợp lý, loại trừ được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy, có
tác dụng rất lớn thúc đẩy nâng cao năng suất lao động giảm chi phí và hạ giá thành sản
phẩm - dịch vụ.
2.1.3. Nhân tố tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp
12
Nhân tố này tác động mạnh mẽ tới chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành
sản phẩm. Bởi lẽ chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao
động sống và lao động vật hoá qua đó ta thấy để sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần
phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, qua quá trình sản xuất lượng vốn tiền tệ này sẽ
bị tiêu hao nên việc quản lý và sử dụng chúng tốt là một trong những hoạt động tài
chính chủ yếu của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính có tác động lớn tới việc hạ thấp
chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm từ đó làm tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp.

2.2. Các phương hướng biện pháp giảm chi phí hạ giá thành
Phấn đấu giảm phí và hạ giá thành là biện pháp chủ yếu để tăng lợi nhuận của
doanh nghiệp. Muốn giảm chi phí và hạ giá thành thì phải thực hiện đồng bộ nhiều
phương hướng, biện pháp sau:
2.2.1 Giảm chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng trong giá thành sản
phẩm
Trong giá thành sản phẩm, để tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, năng lượng cần
phải cải tiến kết cấu của sản phẩm, cải tiến phương pháp công nghệ, sử dụng tổng hợp CHƯƠNG II
14
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM TẠI TRUNG TÂM THIẾT BỊ LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI
CÔNG TY SẢN XUẤT THIẾT BỊ ĐIỆN

I. Khái quát chung về tình hình sản xuất kinh doanh của Trung tâm.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm thiết bị lưới điện phân
phối.
Trung tâm thiết bị lưới điện phân phối được thành lập ngày 30 tháng 4 năm 1988
tại Hà Nội theo quyết định số 553/NL - TCCBLĐ của Bộ thương Mại và Quyết dịnh
thành lập lại doanh nghiệp Nhà nước số 1170/NL-TCCBLĐ ngày 24.6.1993 theo nghị
định 388/CP của Chính phủ. Trung tâm hoạt động dưới sự quản lý toàn diện của Công
ty sản xuất thiết bị điện và chịu sự quản lý của Nhà nước về hoạt động kinh danh xuất
nhập khẩu của Bộ thương mại,
Trung tâm thiết bị lưới điện phân phối đặt trụ sở tại :
Số 14 Phố Bích Câu - Phường Quốc Tử Giám - Quận Đống Đa - HN.
Tên giao dịch: VINAELECTRO.
Điện thoại : 7.320.946
Quá trình hình thành phát triển của trung tâm có thể phân chia làm hai giai
đoạn như sau:
- Giai đoạn I : Từ khi thành lập ( 1988 ) đến năm 1991.
- Giai đoạn II : từ 1991 đến nay.
Xuất phát từ những đặc điểm kinh tế xã hội trong nước và trên thế giới cũng như
sự thay đổi về cơ chế quản lý kinh tế nên trong những giai đoạn phát triển của trung tâm
cũng có những đặc điểm khác nhau. 17

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA TRUNG TÂM

1.3.2. Tổ chức công tác kế toán
* Trưởng phòng:
Phụ trách chung, chịu sự điều hành, chịu trách nhiệm trực tiếp trước giám đốc và
pháp luật. Điều hành tổ chức hoạt động tài chính của Trung tâm.
* Kế toán bán hàng :
Theo dõi hàng hoá nhập xuất tồn, theo dõi thẻ kho chi tiết cho từng loại hàng
hoá. Viết hoá đơn bán hàng theo lệnh xuất kho, theo dõi cho đến khi khách hàng nhận
đầy đủ hàng hoá, theo dõi đôn đốc thu nợ (nếu có) chi tiết cho từng khách hàng.
* Kế toán thanh toán
Giám đốc
Phòng
Tổchứ
c hành

giảm, theo dõi thẻ kho chi tiết cho từng loại tài sản, vào bảng kê TSCCĐ.
* Nhân viên kinh tế của cửa hàng GTSP: Có nhiệm vụ thu nhập chứng từ định
kỳ chuyển về phòng TC - KT kiểm tra và ghi sổ kế toán. Có trách nhiệm báo cáo giải
trình đầy đủ và trung thực số liệu về phòng để tổng hợp, lập báo cáo.
* Kế toán tổng hợp, Thuế :
Cuối quý năm căn cứ vào các báo cáo chi tiết của các bộ phận, kiểm soát và lập
báo cáo tài chính. Tập hợp các nhật ký chứng từ, bảng kê, lên sổ cái, gửi báo cáo tài
chính (theo pháp lệnh kế toán) định kỳ lên các cơ quan chức năng
1.4. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Trung tâm
* Về thị trường :
Nếu như trong giai đoạn I, thị trường của Trung tâm chủ yếu là Liên Xô cũ và
các nước xã hội chủ nghĩa do đặc điểm kinh tế đối ngoại nước ta lúc bấy giờ và thị
trường bán của Trung tâm chỉ duy nhất là các đơn vị trong ngành điện Việt Nam thì
trong giai đoạn phát triển thứ hai của Trung tâm có sự thay đổi và mở rộng cả thị trường
mua lẫn thị trường bán. Về thị trường nhập khẩu, hiện nay Trung tâm đã có quan hệ
giao dịch với nhiều bạn hàng nước ngoài ở hầu hết các khu vực trên thế giới như :
Trung Quốc, Đài Loan, Anh, Đức.
19
Về thị trường bán cũng có những thay đổi đó là việc Trung tâm mở rộng việc
buôn bán kinh doanh với các đơn vị ngoài Công ty sản xuất thiết bị điện. Bên cạnh
những việc xác định thị trường Trung tâm là các đơn vị thuộc Công ty sản xuất thiết bị
điện, Trung tâm còn mở rộng thị trường bằng việc cung cấp các vật tư thiết bị lưới điện
cho các doanh nghiệp trong cả nước.
* Về vốn kinh doanh :
Hiện nay tỷ trọng vốn lưu động trên tổng số vốn là chủ yếu, chiếm tỷ trọng 70%.
Năm 2001, tổng số vốn kinh doanh của Trung tâm đạt 5.065.000.000 đồng trong đó vốn
lưu động chiếm 70.68% hàng năm. Vốn kinh doanh của Trung tâm thường xuyên được
bổ sung từ hai nguồn vốn chính là vốn tự bổ sung và ngân sách nhà nước, đạt tốc độ
tăng trưởng vốn bình quân hàng năm khá cao. Điều nay thể hiện qua bảng số liệu sau :



3.952.000

100

2 2000 881.000

20,75

3.364.000

79,25

4.245.000

100

3 2001 1.485.000

29,32

3.580.000

70,68

5.065.000

100
TH 2001/2000
%
Tổng D.Thu
(tỷ đ )
25139

30

120

32

107

Kim nghạch
XNK (Tr USD)
6,1

130

9,1

149

9,2

101

bquân ( đ/ng )
886.463

110

1.081.661

122

1.116.125

103II. Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành
sản phẩm của Trung tâm một số năm qua
2.1. Những thuận lợi và khó khăn của Trung tâm trong công tác quản lý chi
phí
Trong công tác quản lý chi phí, cùng với việc tập hợp chi phí theo yếu tố đúng
theo quy định chế độ của nhà nước ban hành, Trung tâm luôn luôn tập trung nghiên cứu,
tìm tòi để đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm giảm thiểu tối đa chi phí trong hoạt động
23
kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm. Qua đó giá bán sản phẩm của từng mặt hàng đã hạ
mặc dù một số chi phí trong từng mặt hàng vẫn có xu thế tăng lên.
Bên cạnh những ưu điểm mà Trung tâm đã đạt được trong công tác quản lý chi
phí, Trung tâm vẫn còn những nhược điểm cần được khắc phục.
Công tác lập kế hoạch chi phí hoạt động kinh doanh còn sơ sài chưa được coi
trọng trong công tác quản lý chi phí, chưa được vận dụng tốt trong công tác quản lý chi
phí hoạt động kinh doanh và hạ giá bán sản phẩm.
Hàng hoá của Trung tâm chủ yếu là nhập khẩu theo những hợp đồng đã ký kết

- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài
- Yếu tố chi phí bằng tiền khác.
Để đánh giá khái quát về thực trạng quản lý chi phí hoạt động kinh doanh của
Trung tâm ta đi phân tích đánh giá công tác quản lý chi phí hoạt động kinh doanh của
Trung tâm trong hai năm qua ở bảng sau :
Bảng 4 : Tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố của Trung tâm thiết
bị lưới điện phân phối trong một số năm qua Đơn vị : 1.000 đ
Yếu tố chi phí Năm 2000 Năm 2001 Chênh lệch
Số tiền TT Số tiền TT Số tiền TT
1. Chi phí NLVL
26.903.155

94,08

28.327.538

92,8

1.424.383

5,29

2. Chi phí NC
442.292

1,16

774.000



25

5. Chi phí bằng tiền
593.440

2,1

700.909

2,3

107.469

18

Tổng chi phí 28.596.761

100

30.542.881

100

1.946.120

6,8* Chi phí nguyên liệu, vật liệu:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status