TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
1
2
BÀI TẬP NHÓM
Họ và tên : Nguyễn Thị Mai (nhóm trưởng)
: Nguyễn Thành Công
: Hà Văn Linh
: Nguyễn Thị Thuỷ
: Phạm Thị Hải Yến
CQ522256
CQ520425
CQ527232
CQ523552
CQ524403
Lớp chuyên ngành : Kinh tế quốc tế 52A
Giảng viên hướng dẫn : TS. Đỗ Thị Hương
Chủ đề 5: Xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam sang Nhật Bản:
Những điểm cần lưu ý và giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng các
quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật.
Hà Nội, tháng 9/2013
3
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đã đạt được những bước
phát triển khả quan, trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực với kim ngạch xuất khẩu lớn
và khá ổn định, hướng tới nhiều thị trường trên thế giới, đóng góp nhiều vào nguồn ngoại
tệ cho đất nước và giải quyết hàng triệu công ăn việc làm cho người lao động. Một trong
những thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là thị trường Nhật Bản – một đối tác
Chương 1: Một số lý luận chung về xuất khẩu
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Nhật Bản và những điểm cần
lưu ý
Chương 3: Các giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của hàng thuỷ
sản xuất khẩu Việt Nam sang Nhật
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm
Rào cản kỹ thuật là một trong những rào cản trong hoạt động thương mại quốc tế.
Trong thương mại quốc tế, các “rào cản kỹ thuật đối với thương mại” (technical barriers
to trade) thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với
hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của các hàng hoá nhập khẩu
đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó.
Trên thực tế, các biện pháp kỹ thuật có thể là những rào cản tiềm ẩn đối với thương
mại quốc tế bởi chúng có thể được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ cho sản xuất trong nước,
gây khó khăn cho việc thâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường nước nhập
khẩu. Do đó chúng còn được gọi là “rào cản kỹ thuật đối với thương mại”. Trong bối
cảnh hội nhập ngày càng sâu sắc hiện nay, cùng với những quy định cắt giảm thuế quan
và hạn ngạch đối với các nước thành viên của WTO, các hiệp định thương mại song
phương và đa phương giữa các nước thì rào cản kỹ thuật là một biện pháp hữu hiệu để
các nước bảo hộ nền sản xuất trong nước và kiểm soát hàng hoá nhập khẩu.
1.2. Vai trò của rào cản kỹ thuật
Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những
lợi ích quan trọng như sức khoẻ con người, môi trường, an ninh Vì vậy, các quốc gia,
đặc biệt là các nước phát triển đều thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ
thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá nhập khẩu.
1.3. Các loại rào cản kỹ thuật
Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại được WTO phân biệt 03 loại
nông lâm sản: tên sản phẩm, nước xuất xứ, hàm lượng và tên và địa chỉ nhà nhập khẩu.
Khi nhập khẩu và bán các sản phẩm hải sản chế biến, nhà nhập khẩu phải cung cấp
các thông tin sau đây phù hợp với Luật tiêu chuẩn hoá và nhãn mác nông lâm sản, và các
quy định tương tự đối với thực phẩm chế biến được đóng gói trong container theo Luật
8
an toàn vệ sinh thực phẩm: tên sản phẩm, thành phần, hàm lượng, ngày hết hạn sử dụng,
cách thức bảo quản, nước xuất xứ và tên và địa chỉ nhà nhập khẩu.
- Tên sản phẩm
Tên của sản phẩm phải được in trên nhãn phù hợp với Luật tiêu chuẩn hoá và nhãn
mác nông lâm sản và Luật an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Thành phần thực phẩm
Các thành phần của sản phẩm phải được liệt kê theo thứ tự giảm dần từ thành phần
có hàm lượng cao nhất đến thấp nhất trên nhãn mác phù hợp với Luật tiêu chuẩn hoá và
nhãn mác nông lâm sản và Luật an toàn vệ sinh thực phẩm.
- Phụ gia thực phẩm
Tên của các chất phụ gia được sử dụng phải được liệt kê theo thứ tự giảm dần từ
chất có hàm lượng cao nhất đến thấp nhất trên nhãn mác phù hợp với Luật an toàn vệ
sinh thực phẩm. Tên và cách sử dụng tám chất phụ gia sau cần được ghi rõ trên nhãn: bột
ngọt, chất chống ôxy hóa, phẩm nhuộm nhân tạo, chất tạo màu, chất bảo quản, chất làm
trắng, chất làm dày/ ổn định/ chất làm đông/ các chất cô đặc, các chất trị nấm và chất
chống mối mọt.
Để có thêm các thông tin chi tiết về cách thức sử dụng và tiêu chuẩn đối với các
chất phụ gia, Thông báo số 370 của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi xã hội “Tiêu chuẩn đối
với thực phẩm và phụ gia thực phẩm) quy định hàm lượng tối đa cho phép đối với các
chất phụ gia được phép sử dụng đối với từng loại thực phẩm. Các quy định và tiêu chuẩn
phù hợp với Luật an toàn vệ sinh thực phẩm (Thông báo MHLW số 370) cũng yêu cầu
hàm lượng nitrat natri, đặc biệt trong trứng cá hồi và trứng cá hồi ướp muối phải dưới
0,005 g/kg.
- Ngộ độc thực phẩm
Để tránh các rủi ro nguy hại tới sức khỏe người tiêu dung liên quan đến vấn đề ngộ
doanh người Nhật lấy chữ tín làm đầu, chỉ “khó tính” khi hàng hóa kém chất lượng. Nền
công nghiệp của Nhật Bản luôn luôn có sự cải tiến, đổi mới về kỹ thuật. Người tiêu dùng
Nhật Bản yêu cầu khắt khe về chất lượng, độ bền, độ tin cậy, sự tiện dụng của sản
phẩm… và sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm có chất lượng tốt, đồng thời
cũng chú ý tới các dịch vụ hậu mãi, phương thức phân phối của các nhà sản xuất, do đó
10
một nguyên tắc làm ăn với Nhật, đó là hàng hóa phải bảo đảm chất lượng, đúng theo yêu
cầu và giao hàng đúng hẹn.
1.4.2. Các quy định về an toàn thực phẩm
Người dân Nhật Bản có thói quen tiêu dùng rất thận trọng, và các hàng hoá nhập
khẩu vào Nhật Bản bị kiểm soát rất cao về tiêu chuẩn chất lượng, nhất là đối với các mặt
hàng thực phẩm tiêu dùng như thuỷ sản. Các hàng rào kỹ thuật mà phía Nhật Bản dựng
lên để kiểm soát các sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu là các tiêu chuẩn
về dư lượng hóa chất kháng sinh như: Chloramphenicol, Trifluralin, Ethoxyquine… do
các cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản tiếp tục áp dụng chính sách thắt chặt kiểm soát
an toàn vệ sinh thực phẩm nhập khẩu. Đây cũng chính là biện pháp nhằm giảm kim
ngạch nhập khẩu, thúc đẩy hồi phục nền kinh tế vốn đã trì trệ gần một thập niên qua.
Khi xuất khẩu thủy sản sang Nhật Bản cần đáp ứng các yêu cầu sau:
+Các lô hàng tôm hùm sống và các sản phẩm tôm có chứa tomalley và lô hàng của
hàu sống và thô cần được kèm theo một giấy chứng nhận xuất xứ và vệ sinh (CFIA /
ACIA 5003).
+ Tất cả các sản phẩm khác không yêu cầu giấy chứng nhận (nhưng vẫn phải tuân
thủ các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của Nhật Bản).
Các mặt hàng thực phẩm chịu kiểm dịch bắt buộc, không tính theo nước xuất xứ,
bao gồm trứng cá hồi và cá nóc. Thêm vào đó, các loại tôm nuôi tại Thái Lan (kiểm tra
oxolinic acid) và tôm được sản xuất tại Việt Nam (kiểm tra chloramphenicol,
nitrofurans ) cũng chịu quy định kiểm dịch bắt buộc.
Mức giới hạn trên được áp dụng đối với kiểm dịch ở trên là 0,002 ppm đối với
fenitrothion and 0,01 ppm đối với oxolinic acid, acetochlor và triazophos. Các chất
nitrofurans và chloramphenicol không được phép có trong thực phẩm.
thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ trong nước, Nhật Bản buộc phải tăng nhập khẩu thủy sản.
(Theo vietrade.gov.vn)
Một số tập quán trong tiêu dùng hàng hóa và hàng thủy sản
Người Nhật Bản có thị hiếu truyền thống, đặc biệt riêng của họ và thị trường Nhật
Bản cũng có những đặc thù riêng. Họ sẵn sàng trả giá cao hơn một chút cho những sản
phẩm có chất lượng tốt. Nhật Bản được coi là một trong những thị trường đòi hỏi cao về
chất lượng sản phẩm. Thị hiếu tiêu dùng của người Nhật bắt nguồn từ truyền thống văn
hóa và điều kiện kinh tế. Nhìn chung họ có óc thẩm mỹ cao, tinh tế do có cơ hội tiếp xúc
12
với nhiều loại hàng hóa dịch vụ trong và ngoài nước. Đặc điểm tiêu dùng ở Nhật Bản là
tính đồng nhất, 90% người tiêu dùng cho rằng họ thuộc về tầng lớp trung lưu.
Nhìn chung người Nhật có những đặc điểm chung sau: Đòi hỏi cao về chất lượng,
nhạy cảm với giá tiêu dùng hàng ngày, nhạy cảm với những thay đổi theo mùa, ưa
chuộng sự đa dạng của sản phẩm, quan tâm nhiều tới vấn đề sinh thái.
Nhật Bản là một thị trường được coi là khó tính nhất thế giới, hàng rào hải quan
cũng rất khắt khe, hàng hóa muốn được nhập khẩu vào Nhật Bản phải đạt chất lượng khá
cao, đặc biệt về hàng thực phẩm cần có những yêu cầu rất nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn
thực phẩm. Kết quả khảo sát thị trường Nhật Bản của Tổ chức Greenpeace cho thấy, hầu
hết người Nhật muốn sử dụng thủy sản được khai thác bền vững và có dán nhãn rõ ràng
để giúp họ có đầy đủ thông tin về sản phẩm mà mình sẽ sử dụng. Người tiêu dùng Nhật
Bản đặc biệt quan tâm đến VSATTP. Do đó Nhật Bản có những quy định rất khắt khe
trong lĩnh vực này. Danh mục các hóa chất và kháng sinh bị cấm, hạn chế sử dụng thường
xuyên được bổ sung, mức phát hiện dư lượng liên tục bị hạ thấp. Đó là một loại rào cản
kỹ thuật buộc các nhà xuất khẩu thủy sản của Việt Nam phải liên tục khắc phục.
Cá đóng vai trò quan trọng trong bữa ăn và chiếm gần 40% lượng protein động vật
được hấp thụ của người Nhật, cao hơn nhiều so với hầu hết các nước phương Tây. Người
dân Nhật Bản có nhu cầu rất cao về các sản phẩm thủy sản. Hằng năm, mỗi hộ gia đình
Nhật Bản chi khoảng 37.000 yên cho thực phẩm thuỷ sản, chiếm khoảng 13% tổng chi
tiêu cho thực phẩm.
Người Nhật ưa thích hàng tươi sống. Sản phẩm tươi sống chiếm đến 60% thị phần,
2010 896,2 14,4
2011 1004 15,5
2012 1097 9,3
6 tháng đầu năm 2013 481 -4,1
Nguồn: Tổng cục hải quan
Việt Nam luôn nằm trong nhóm 10 quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu vào thị
trường Nhật Bản với kim ngạch đạt gần 800 triệu USD trong năm 2009. Các sản phẩm
thủy sản của Việt Nam xuất sang thị trường Nhật Bản bao gồm chủ yếu tôm và các loại
cá như cá tra, cá basa, cá hồi, cá đuối, cá bò, cá ghim, cá ngừ hun khói, mực, bạch tuộc,
ghẹ. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu thủy sản trung bình hàng năm sang Nhật Bản đạt
bình quân 5,4% (2004-2009). Với đà tăng trưởng này, dự báo kim ngạch xuất khẩu thủy
sản sang Nhật Bản sẽ đạt 1.083 triệu USD vào năm 2015.
Năm 2009, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Nhật Bản chiếm 17,8% tổng giá
trị kim ngạch xuất khẩu, đạt 757.92 triệu tấn. Năm 2010, Nhật Bản tiếp tục giữ vị trí nhà
nhập khẩu thủy sản lớn thứ hai của Việt Nam (sau EU) với kim ngạch xuất khẩu đạt 549
triệu USD (tăng 18,9%) trong 8 tháng đầu năm 2010.
Biều đồ 2.1. Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Nhật Bản giai đoạn 2008
-2012
14
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trong giai đoạn từ 2008 đến hết quý II năm 2013, giá trị kim ngạch thủy sản xuất
khẩu sang Nhật thiếu ổn định. Năm 2009, nhập khẩu thủy sản Việt Nam vào Nhật Bản sụt
giảm 8,5%. Nguyên nhân chính là ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới.
Năm 2010, 2011 nhu cầu nhập khẩu từ hầu hết các thị trường đã khởi sắc. Ngoài ra,
Hiệp định đối tác kinh tế VN - Nhật Bản (VJEPA) có hiệu lực kể từ ngày 1.10.2009 đã
giúp kích thích một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của VN vào Nhật, trong đó có thủy
sản. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Nhật Bản tăng tương ứng là 18,34% và 11,9%.
Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đạt
1,097 tỷ USD tăng 9,3% so với năm 2011.
Xét trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của VN, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu
năm đến nay.
Khả năng cạnh tranh của thủy sản VN còn thấp. Giá thành sản phẩm cao do áp lực
tăng chi phí đầu vào cho sản xuất, như giá nhiên liệu, điện, nước, nhân công, bao bì, cước
phí vận chuyển… Bên cạnh đó, việc tăng các loại phí, thuế, như thuế bảo vệ môi trường
đối với bao bì nhựa PE để bao gói hàng, trích 2% kinh phí cho công đoàn lấy từ quỹ
lương, phí kiểm soát chất lượng thủy sản xuất khẩu, phí kiểm dịch thú y tăng 300%
cũng góp phần làm gia tăng chi phí và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của thủy sản VN.
Theo tính toán của các DN chế biến thủy sản xuất khẩu, so với đầu năm 2011, hiện chi
phí đầu vào tăng khoảng 30%. Trong khi đó, giá sản phẩm thủy sản xuất sang Nhật đều
không tăng, thậm chí có lúc giảm.
Cạnh tranh trên thị trường Nhật diễn ra gay gắt. VN phải chịu sự cạnh tranh từ các
nước láng giềng như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ có xu hướng hạ giá bán
sản phẩm tôm. Bangladesh bắt đầu thúc đẩy sản xuất tôm thẻ chân trắng tạo áp lực lên
mặt hàng tôm xuất khẩu của nước ta. Bên cạnh đó, VN cũng phải đối mặt với sự cạnh
tranh mạnh mẽ từ các nước phát triển khác như Hoa Kỳ, Canada
2.2.2. Cơ cấu các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu
Cơ cấu hàng thuỷ sản xuất khẩu sang Nhật Bản trong 6 tháng đầu năm 2010 bao
gồm cá các loại đạt 27,2 nghìn tấn với trị giá là 90,5 triệu USD, tăng 81,6%; tôm đạt 26,3
nghìn tấn với trị giá gần 256 triệu USD, tăng 20%; mực và bạch tuộc đạt 7,47 nghìn tấn,
trị giá gần 46 triệu USD, giảm 7,2% so với cùng kỳ năm 2009. Nhật Bản là nước nhập
khẩu nhiều nhất nhuyễn thể chế biến của Việt Nam.
* Nhóm sản phẩm tôm (chủ yếu là tôm đông lạnh): là nhóm sản phẩm quan trọng
nhất trong cơ cấu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào Nhật Bản (chiếm 29,76% giá trị
xuất khẩu) với doanh thu hàng năm đạt 400 triệu USD. Mặc dù Việt Nam vẫn là nhà cung
cấp tôm số 1 cho Nhật Bản, tuy nhiên cạnh tranh từ phía các nhà cung cấp khác ngày
càng gia tăng, đặc biệt là từ Thái Lan làm cho xuất khẩu tôm của Việt Nam vào Nhật Bản
16
giảm. Trong khi nhập khẩu tôm của Nhật Bản từ Việt Nam giảm 11%, thì nhập khẩu tôm
từ Thái Lan vào Nhật Bản lại tăng 28,7% trong 9 tháng đầu năm 2009.
Theo số liệu của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP), Việt
Cua ghẹ và giáp xác khác 21.379.923 1,9
Nhuyễn thể hai mảnh vỏ 7.935.017 0,7
Cá tra 2.886.765 0,3
Tổng cộng 1.097.109.455 100,0
Nguồn: Tổng cục thống kê
Theo số liệu của Sở Công thương TP HCM, tổng kim nhạch xuất nhập khẩu 8 tháng
đầu năm 2013 của TP HCM với Nhật Bản đạt 2,4 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu
đạt 1,4 tỉ USD. Phân tích về ngành hàng thì kim ngạch xuất khẩu dệt may của TP HCM
sang Nhật Bản 8 tháng đầu năm 2013 đạt 492,2 triệu USD, xuất khẩu thủy hải sản đạt
90,5 triệu USD, xuất khẩu giày dép các loại đạt 97 triệu USD, đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ
đạt 41,5 triệu USD…
Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), từ năm 1993
đến nay Nhật Bản luôn là thị trường lớn nhất của thủy sản Việt Nam, chiếm tỉ trọng bình
quân 26% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản hàng năm. Nhật Bản là nhà nhập khẩu tôm
lớn nhất của Việt Nam, là nhà nhập khẩu mực và bạch tuôc lớn thứ 2 của Việt Nam sau
Hàn Quốc, là nhà nhập khẩu cá ngừ lớn thứ 3 của Việt Nam. Trong danh sách các nhà
cung cấp thủy sản vào Nhật Bản, Việt Nam đứng thứ 8, chiếm 9 % thị phần năm 2012.
Phân tích theo mặt hàng, Việt Nam xuất khẩu vào Nhật Bản: tôm 56,30%; mực và bạch
tuộc 13,10%; cá ngừ 4,90%; cua ghẹ và giáp xác khác 1,90%; nhuyễn thể hai mảnh
0,70%, các tra 0,30%; cá các loại khác 22,80%
2.2.3. Đánh giá hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Nhật Bản
Nhật là nước nhập khẩu thủy sản lớn hàng đầu thế giới, đứng thứ hai sau Hoa Kỳ.
Đây là một thị trường xuất khẩu lớn đối với hàng thủy sản của VN và luôn chiếm vị trí
dẫn đầu trong các nước xuất khẩu tôm sang Nhật. Tuy nhiên, đây cũng là một thị trường
khó tính với những yêu cầu cao về vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng. Do đó, để có
thể giữ vững và đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang thị trường Nhật, các DN phải đặc biệt
chú ý đến chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm.
Khó khăn hiện tại
18
Hiện nay các nhà xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam liên tiếp vấp phải các hàng rào
19
đông lạnh xuất khẩu của Malaysia vào Nhật Bản hiện ở mức thuế 0 – 0,6%, trong khi
Việt Nam chịu thuế từ 0 - 2,9%. Xuất khẩu cá ngừ sang Nhật Bản của các nước láng
giềng đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi khiến sản phẩm thủy sản của Việt Nam bị
cạnh tranh mạnh hơn. Kể từ tháng 4/2010, xuất khẩu cá ngừ của Thái Lan đã được hưởng
mức thuế suất ưu đãi là 3,2% (tiếp đó giảm xuống còn 1,6% kể từ tháng 4/2011; giảm
xuống còn 0% từ tháng 4/2012). Mức thuế tương tự được giảm theo lộ trình đối với
Philippines là 3,6% giảm xuống còn 2,4% từ tháng 4/2011 ở mức 0% từ tháng 4/2013.
Trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ Việt Nam vẫn đang phải chịu mức thuế cao
hơn 40% so với các nước này, tương đương 7,2% sang thị trường Nhật Bản.
Để tăng cường xuất khẩu vào Nhật Bản, cần tiếp tục đa dạng hoá và phát triển các
mặt hàng thủy sản mới xuất khẩu sang Nhật Bản như cá hồi, cua huỳnh đế, các sản phẩm
tinh chế từ tôm như tôm sushi, cá ngừ sushi và các sản phẩm phối chế khác nhằm nâng
cao hơn nữa giá trị gia tăng của hàng thủy sản xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản. Để
thâm nhập và đứng vững trên thị trường Nhật Bản phải có một chiến lược với tầm nhìn
sâu rộng thông qua nghiên cứu thị trường một cách kỹ lưỡng, đầy đủ và tạo được hình
ảnh đáng tin cậy cho các sản phẩm xuất khẩu.
2.3. Những điểm cần lưu ý
Nhật Bản là một trong những thị trường xuất khẩu thuỷ sản lớn của Việt Nam và là một
thị trường nhiều tiềm năng để các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu
thuỷ sản. Tuy vậy, đây cũng là một thị trường đặc biệt và có một số điểm rất cần lưu ý
nhằm giảm những khó khăn khi thâm nhập sâu hơn vào thị trường này
2.3.1. Các quy định về hàng rào kỹ thuật và kiểm dịch động thực vật ngày càng khắt
khe của thị trường Nhật Bản và khả năng đáp ứng của Việt Nam
Bảng 2.3: Mức giới hạn các loại chất kháng sinh của hàng thuỷ sản nhập khẩu vào thị
trường Nhật Bản
Loại chất kháng sinh Mức giới hạn cho phép
Fenitrothion 0,002 ppm
oxolinic acid 0,01 ppm
acetochlor 0,01 ppm
biện pháp quản lý hiệu quả việc sử dụng Ethoxyquin trong thức ăn nuôi tôm, dẫn đến
việc tồn dư Ethoxyquin trong tôm nguyên liệu thì nguy cơ ngành tôm Việt Nam mất dần
thị phần tại Nhật Bản là rất cao. Đầu năm 2013, Nhật Bản đã nâng mức kiểm tra dư
lượng Trifluralin trong tôm nhập khẩu từ Việt Nam tăng 500 lần lên mức 0,5ppm, giúp
doanh nghiệp Viêt Nam "dễ thở" hơn so với mức quy định trước đó (trước đó là
0.001ppm)
21
Đánh giá khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của hàng thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu
sang Nhật Bản
- Ưu điểm
Hàng thuỷ sản Việt Nam qua những năm gần đây đã từng bước nâng cao được chất
lượng để đáp ứng các quy định khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường Nhật Bản.
Từ năm 2010 đến 2012, đã có một sự tiến bộ đáng kể trong chất lượng của mặt hàng thuỷ
sản Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản thể hiện qua số lô hàng bị kiểm tra và cảnh cáo về
chất lượng (năm 2012, số lô hàng bị cảnh cáo giảm 35% so với năm 2011)
Tín hiệu tốt cho ngành tôm Việt Nam là số DN bị phát hiện vi phạm VSATTP khi
XK tôm vào Nhật đã giảm mạnh. Trong 2 tháng đầu năm 2013, có 12 DN XK tôm bị cơ
quan chức năng Nhật Bản đưa vào chế độ kiểm tra chặt, nhưng đến tháng 4 chỉ có một
DN bị đưa vào chế độ này. Nhờ kịp thời kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, xuất khẩu
sang Nhật Bản tháng 4/2013 đã có dấu hiệu hồi phục. Trong 4 tháng đầu năm 2013, Nhật
Bản vẫn là thị trường NK tôm số 1 của Việt Nam với giá trị hơn 168 triệu USD, tăng
2,4% so với cùng kỳ năm 2012.
Những điểm trên cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã rất nỗ lực để nâng cao
chất lượng, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật. Do từng bước tạo uy tín đối thị trường Nhật
Bản, do đó Nhật Bản đã dỡ bỏ quy định kiểm tra trifluralin đối với 100% lô tôm NK từ
Việt Nam và cũng đang xem xét dỡ bỏ chế độ kiểm tra ethoxyquin. Điều này sẽ tạo điều
kiện cho việc XK tôm vào Nhật phục hồi.
- Hạn chế
Chất lượng hàng thủy sản xuất khảu sang Nhật dù đã có nhiều cải thiện song chất
lượng vẫn chưa thực sự cao. Vẫn còn nhiều lô hàng bị trả về do vi phạm về dư lượng chất
và nhỏ, các cơ sở này lại chưa có sự chỉ đạo thống nhất và tạo sự liên kết chặt chẽ với
nhau, chủng loại vật nuôi không thống nhất, nguồn cung cấp giống, thức ăn chăn nuôi,
thuốc thú y cũng rất khác nhau và chưa kiểm soát chặt chẽ, chưa áp dụng được các kỹ
thuật nuôi trồng sạch. Nuôi trồng mang tính tự phát, ý thức bảo vệ môi trường chưa cao
làm ô nhiễm môi trường, khi có dịch bệnh không thông báo kịp thời làm dịch bệnh lan
tràn, sử dụng thức ăn và phương pháp phòng chữa bệnh không phù hợp, quá lạm dụng
thuốc thú y, sử dụng kháng sinh và hóa chất bị cấm còn ở mức phổ biến là nguyên nhân
làm cho hàng thủy sản nước ta có chất lượng còn thấp và chưa đảm bảo các qui định kỹ
thuật và vệ sinh an toàn.
23
- Hiện nay, nước ta đã phát triển đội tàu đánh bắt xa bờ, nhưng số lượng và chất lượng
của đội tàu còn thấp, phương pháp khai thác còn lạc hậu, nhiều người còn dùng hóa chất
để khai thác, các thiết bị hỗ trợ cho việc khai thác, bảo quản và dịch vụ ngoài khơi còn
thiếu, sản phẩm cá ngừ đại dương có hàm lượng histamin cao vượt quá mức qui định là
do kỹ thuật đánh bắt và bảo quản trên tầu không thích hợp.
- Trình độ công nghệ chế biến còn lạc hậu và thiếu đồng bộ, chưa thực sự cập nhật các
thông tin về các qui định kỹ thuật và vệ sinh thủy sản của các nước nhập khẩu, nhất là các
thông tin về ghi nhãn, trình độ quản lý còn thấp, chưa tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu
chuẩn vệ sinh, sử dụng nguồn nước chế biến không đảm bảo yêu cầu, còn hiện tượng lây
nhiễm chéo và sử dụng các hóa chất bị cấm trong chế biến thủy sản. Chưa kiểm tra
nghiêm ngặt nguyên liệu đầu vào, đường đi của nguyên liệu đầu vào từ nơi sản xuất đến
nơi chế biến còn chưa thích hợp, cùng với chế độ bảo quản không phù hợp, nhiều khi còn
bị bơm tạp chất để làm tăng khối lượng làm hàng thủy sản bị nhiễm bẩn và không đảm
bảo các tiêu chuẩn vệ sinh.
- Hệ thống các văn bản để đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn cũng đã được ban hành
nhưng chưa đầy đủ, kịp thời và phát huy được hiệu quả, công tác kiểm tra, thanh tra như
kiểm dịch cho giống, kiểm tra các cơ sở sản xuất, chế biến thủy sản, thức ăn thuốc thú y,
lưu thông, sử dụng các hóa chất và kháng sinh bị cấm còn chưa được tiến hành thường
xuyên, triệt để. Do đó, việc sản xuất, nhập lậu, lưu thông buôn bán và sử dụng kháng sinh
hóa chất bị cấm còn ở mức độ rất phổ biến.