Cơ sở thể nhiễm sắc của
các quy luật Mendel
Năm 1865, Mendel đã trình bày các thí nghiệm và các quy luật di truyền
nhưng phải đến 35 năm sau, năm 1900 thí nghiệm được tái phát hiện bởi
H.de Vries, C. Correns và E. Tschermak mới được công nhận rộng rãi, bởi vì
chỉ sau những năm 1880 các nhà nghiên cứu mới phát hiện ra thể nhiễm sắc
và tập tính của thể nhiễm sắc được tạo thành cặp tương đồng ở bố mẹ (2n) và
phân ly vào giao tử (n) rồi được kết hợp lại ở hợp tử (2n) khi thụ tinh.
Nhân tố di truyền mà Mendel giả định là thành cặp ở bố mẹ, chúng cùng tồn
tại và quy định nên các tính trạng nhưng không hòa lẫn vào nhau mà phân ly
và lại được tổ hợp lại ở thế hệ sau. Các nhân tố di truyền được Mendel giả
định về sau này được gọi là gen (Johannsen - 1909). Ví dụ một cặp thể
nhiễm sắc tương đồng, trong đó một chiếc (bố) mang alen A và chiếc
kia (mẹ) mang alen a (hoặc ngược lại). Cơ thể bố mẹ 2n có thể là AA(đồng
hợp trội), aa (đồng hợp lặn) và Aa(dị hợp) và khi phân ly sẽ cho ra Avà a, và
khi tổ hợp sẽ lại cho ra AA, aa hoặc Aa. Đó là qui luật phân ly của Mendel
khi nghiên cứu với 1 cặp gen - alen.
Nếu hai cặp gen – alen định khu trong hai cặp thể nhiễm sắc tương đồng khác
nhau thì chúng sẽ phân ly độc lập và tổ hợp tự do theo qui luật 2 của Mendel.
Ví dụ, cặp gen - alen Aa ở trong một cặp thể nhiễm sắc tương đồng và
cặp gen - alen Bb ở trong một cặp thể nhiễm sắc tương đồng khác thì
chúng sẽ phân ly độc lập và tổ hợp tự do (nghĩa là không phụ thuộc vào
nhau) khi tạo giao tử và hình thành hợp tử, nghĩa là sẽ tạo nên bốn loại giao
tử khác nhau là AB, ab, Ab, aB và khi tổ hợp tự do sẽ tạo nên 16 loại hợp tử
khác nhau.
Một điều kiện cần cho qui luật 2 là hai cặp gen - alen (A-avà B-b) phải ở
trong hai cặp thể nhiễm sắc tương đồng khác nhau.
Hiện tượng di truyền liên kết nghĩa là di truyền các tính trạng được qui định