LUẬN VĂN:
Nâng cao chất lượng tín dụng tại
NHNo & PTNT Huyện Đông Triều,
Tỉnh Quảng Ninh
Lời mở đầu
Trong những năm qua nền Kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi như nguồn vốn
FDI tăng nhanh, Kinh tế - Xã hội phát triển, đời sống nhân nhân không ngừng tăng
cao…. Đặc biệt sau khi gia nhập WTO ngày 01 tháng 11 năm 2006, Việt Nam đã và
đang đứng trước nhiều cơ hội cũng như thách thức cho nền Kinh tế. Song song với quá
trình đó Ngân Hàng Thương Mại và các tổ chức tín dụng cũng đang đứng trước trước
nhiều thách thức khó khăn. Xuất phát từ yêu cầu đó hệ thống Ngân Hàng Việt Nam
nói chung cũng như NHNo & PTNT Huyện Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh nói riêng
phải phát triển toàn diện về mọi mặt như: hoạt động huy động vốn, nâng cao chất
lượng dịch vụ,… và một trong những mặt đang được hệ thống ngân hàng rất chú trọng
là chất lượng tín dụng của Ngân Hàng Thương Mại. Vì lý do đó, tôi tiến hành thực
hiện nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT Huyện
Đông Triều, Tỉnh Quảng Ninh”.
…., lực lượng này chiếm phần đông trong xã hội, họ là những người vô sản không có
tư liệu sản xuất trong tay. Giai cấp thống trị là người nắm tư liệu sản xuất trong tay
(quy trình sản xuất trong tay) trong khi giai cấp bị trị không có tư liệu sản suất do đó
nảy sinh quan hệ tín dụng. Đặc trưng thứ nhất của thời kì này là tín dụng nặng lãi bản
chất là khả năng trang trải của người sử dụng vốn. Đặc trưng thứ hai thời kì này là
mang tính chất phi sản suất vì nông dân (giai cấp vô sản) thường vay về để ăn chống
đói. Đối với Vua chúa vay về xây thành quách hưởng thụ hoặc vay về xây dựng thành
lũy phục vụ cho các cuộc chiến tranh. Hầu như đều là mục đích tiêu dùng. Do đó cho
vay dưới hình thức này tạo ra hai hướng tiêu cực cho nền kinh tế. Thứ nhất là người
sản xuất nghèo đi do không có tư liệu sản xuất trong tay vì vậy làm nghèo nàn nền
kinh tế. Thứ hai, những người đi vay họ trở thành người vô sản mà vốn tích tụ tập
trung trong tay địa chủ và đây là mầm mống cho hình thức sản xuất tư bản.
Trong thời kì sản xuất hàng hóa phát triển, quan hệ tín dụng gồm nhiều chủ thể khác
nhau như: Cá nhân, Doanh nghiệp… . Họ khác nhau về quyền sở hữu, khác nhau về
đặc điểm tuần hoàn luân chuyển vốn,… do quá trình khác nhau trong các lĩnh vực sản
xuất. Vì vậy xét trong bất kì thời điểm nào của nền kinh tế luôn có những doanh
nghiệp bán được hàng hóa, đó là những doanh nghiệp thừa vốn một cách tương đối.
Mặt khác, có những doanh nghiệp cần dự trữ nguyên vật liệu, hoặc là phải thực hiện
nghĩa vụ tài chính với nhà nước… tại thời điểm nhất định là các doanh nghiệp đang
trong giai đoạn thiếu vốn một cách tương đối. Đối với các doanh nghiệp thừa vốn họ
có nhu cầu nhường lại quyền sử dụng vốn để tăng lợi nhuận trong quá trình sản xuất.
Còn đối với các doanh nghiệp thiếu vốn có nhu cầu đi vay để duy trì sản xuất cũng vì
mục tiêu tạo ra lợi nhuận sau này. Do vậy quan hệ tín dụng xảy ra. Đặc điểm tín dụng
trong thời kì này là mang tính chất mùa vụ.
Giả sử nếu không có quan hệ tín dụng, mà nhà nước điều tiết nền kinh tế một cách
bao cấp thì các doanh nghiệp thừa vốn không muốn bị nhà nước chiếm dụng vốn, do
họ không thích bị nhà nước lấy đi một phần vốn vì vậy họ kê khai không đúng. Còn
chính quyền.
Thứ hai: Do vị trí quan trọng của ngân hàng trên thị trường cùng với vai trò của
nó trong việc “tạo tiền” trong nền kinh tế cũng như quản lí của chính quyền về
tài chính đối đất nước.
Chính vì các lí do nói trên, từ đó ngân hàng thương mại và tín dụng ngân hàng hình
thành như một tất yếu trong quá trình phát triển của loài người.
1.1.1 Khái niệm
Từ sự hình thành và phát triển của ngân hàng và tín dụng ngân hàng ta có thể đưa ra
một khái niệm chung về tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng: Là mối quan hệ tín dụng của ngân hàng với các chủ thể còn
lại trong nền kinh tế trong đó ngân hàng vừa là người đi vay và vừa là người cho
vay bằng tiền. Như vậy chủ thể trong quan hệ này một bên là ngân hàng hoặc là các tổ
chức tương tự như ngân hàng (quĩ tín dụng nhân dân) nhưng đều là hoạt động dưới
hình thức huy động vốn cho vay với nền kinh tế. Điều khác biệt của tín dụng ngân
hàng đối với tín dụng thương mại đó là cho vay bằng tiền.
Về mặt ưu điểm thì tín dụng ngân hàng khắc phục gần hết nhược điểm của tín dụng
thương mại, như chiều vận động thì tiền ưu điểm hơn hẳn so với chiều vận động của
hàng hóa. Hơn nữa về quy mô các ngân hàng và các tổ chức tín dụng thì quy mô là rất
lớn do hoạt động ngân hàng có thể đi vay và cho vay. Bất cứ đối tượng nào có nhu cầu
vay mà nhu cầu đó là chính đáng, hiệu quả thì ngân hàng đều đáp ứng được nhu cầu
đó. Khác với tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng cho phép chính phủ có thể kiểm
soát với các doanh nghiệp và từ đó kiểm soát nền kinh tế.
Tuy nhiên tín dụng ngân hàng có nhược điểm so với tín dụng thương mại đó là rủi ro
trong tín dụng ngân hàng. Các rủi ro này chia ra 2 loại rủi ro trong hoạt động đi vay &
rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Rủi ro trong việc đi vay là việc khách
hàng rút tiền ra đột ngột trước hạn ảnh hưởng cân đối vốn. Trong khi tín dụng thương
mại khó có thể sử dụng tài sản sai mục đích. Nhưng trong tín dụng ngân hàng thì đối
ưu tiên vốn có thể di chuyển nơi được sử dụng theo đúng chính sách định
hướng của nhà nước. Có thể coi tín dụng là công cụ vĩ mô của nhà nước. Ví
như khuyến khích cho hoạt động đánh bắt xa bờ người ta đầu tư ưu tiên cho vay
mua thuyền, hay khuyến khích cho công nghiệp hóa dầu thì ưu tiên đầu tư khu
công nghiệp Dung Quất
Tín dụng ngân hàng được sử dụng chống lạm phát ổn định tiền tệ như việc thay
đổi lãi suất ảnh hưởng nhu cầu tín dụng có tác dụng quan trọng đối với tổng đầu
tư, tác động đến tổng cầu, sản lượng…
Tín dụng ngân hàng là cửa ngõ thực hiện giao lưu về kinh tế. Thông qua tín
dụng người ta kiểm soát lượng vốn đi ra đi vào của nền kinh tế.
Như vậy vai trò của tín dụng ngân hàng là rất lớn đối với nền kinh tế.
1.1.3 Các loại hình tín dụng ngân hàng
Khi nghiên cứu về các hình thức tín dụng ngân hàng theo quan điểm chung nhất
người ta phân chia thành bốn hình thức tín dụng: Chiết khấu thương phiếu, Cho vay,
Tín dụng thuê mua, Tín dụng hình thức bảo lãnh.
1.1.3.1 Chiết khấu thương phiếu, giấy tờ có giá
Đây là hình thức tín dụng ngân hàng chiết khấu các thương phiếu trong hoạt động tín
dụng thương mại.
Để tìm hiểu rõ về vấn đề này trước hết ta phải hiểu Tín dụng thương mại, Tín dụng
nhà nước là gì?
- Tín dụng thương mại:
Là quan hệ tín dụng được thể hiện giữa những người sản xuất và kinh doanh với
nhau. Đối tượng là hàng hóa, chủ thể cho vay là những người sản xuất và người
kinh doanh hàng hóa. Do vậy tín dụng thương mại không có sự tham gia của ngân
hàng hay chính phủ, hộ gia đình. Ở đây chỉ có sự quan hệ giữa những người sản xuất
và kinh doanh hàng hóa với nhau trên giác độ hàng hóa. Chỉ là quan hệ bán chịu hàng
hóa và bên mua hàng trả cho bên sản xuất một thương phiếu.
Thương phiếu có hai loại. Loại thứ nhất do người mua phát hành ra người ta gọi kì
phiếu. Loại thứ hai do người bán phát hành ra là hối phiếu. Ngày nay hình thức chủ
Loại thứ nhất là trái phiếu chính phủ do chính quyền nhà nước trung ương phát
hành ra thường có thời hạn dài.
Loại thứ hai là trái phiếu địa phương đáp ứng nhu cầu chi tiêu của địa phương.
Tuy nhiên, để được phát hành trái phiếu địa phương phải được sự cho phép của
Chính phủ.
Loại thứ ba là trái phiếu công trình huy động nguồn lực tài chính đáp ứng cho
nhu cầu công trình. Ở Việt Nam có trái phiếu công trình đường dây 5000KW…
. Sự khác nhau của trái phiếu công trình với trái phiếu khác là trái phiếu công
trình có mục đích cụ thể. Đặc điểm giống nhau là thời hạn dài.
Loại thứ tư là tín phiếu kho bạc. Đó là các công cụ huy động vốn trong nước.
Loại thứ năm là trái phiếu quốc tế. Đó là trái phiếu của nước này nhưng phát
hành ở nước khác bằng đồng tiền của nước sở tại.
Loại thứ sáu là trái phiếu Châu Âu. Đó là trái phiếu phát hành nước khác nhưng
bằng đồng tiền của nước phát hành.
Xét về ưu điểm thì tín dụng nhà nước có ưu thế tuyệt đối. Với nhà nước thì tín dụng
nhà nước đáp ứng được nhu cầu chi tiêu của nhà nước, không gây ra lạm phát và
không bao giờ phải trả nợ bởi vì đây là loại nợ luân chuyển.
Vậy chiết khấu thương phiếu là việc doanh nghiệp bên bán nhận thương phiếu của
doanh nghiệp bên mua. Để đáp ứng nhu cầu thanh toán, doanh nghiệp bên bán đem
thương phiếu (kì phiếu) đến ngân hàng chiết khấu. Ngân hàng sẽ thu khoản phí gọi là
lãi suất chiết khấu. Ngân hàng giữ thương phiếu chờ đến hạn, ngân hàng sẽ chuyển
thương phiếu đến doanh nghiệp bên mua đòi tiền (nếu doanh nghiệp bên mua không
trả tiền, ngân hàng có quyền đòi tiền của các bên kí tên trên thương phiếu).
Số tiền ngân hàng ứng trước phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu. Ví dụ: Nếu lãi suất
chiết khấu là 6%/năm, doanh nghiệp bên bán có thương phiếu là 100tr, thời gian đáo
hạn còn lại của thương phiếu là 9 tháng thì:
Số tiền ngân hàng đưa ra là: 100 × (1 – 3×0,06/4) = 95,5 tr
đảm bảo. Hình thức cho vay này thường áp dụng cho các doanh nghiệp thương mại,
hoặc đối với các doanh nghiệp sản suất hàng hóa khi mua nguyên vật liệu trong ngắn
hạn.
Số lãi thấu chi phải trả = thời gian thấu chi × lãi suất thấu chi × số tiền thấu chi
Trong tương lai thì hình thức cho vay này sẽ ngày càng phổ biến khi khách hàng
doanh nghiệp với nhu cầu thanh toán tăng lên. Tiếp theo em xin nghiên cứu tiếp hình
thức cho vay trực tiếp từng lần.
1.1.3.2.2 Cho vay trực tiếp từng lần
Đây là hình thức cho vay phổ biến tại các ngân hàng hiện nay. Đây thường là các
khách hàng không có quan hệ thường xuyên đối với ngân hàng. Hình thức này thường
cho vay khi khách hàng đầu tư vào các tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh
hay một khâu nào đó trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mục đích
sử dụng vốn thường mang tính chất dài hạn và thường bắt buộc có tài sản đảm bảo.
Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ, khế ước nhận nợ khác nhau tùy
thuộc vào nhu cầu vốn của khách hàng tại các thời điểm khác nhau dựa trên cơ sở kế
hoạch sản xuất kinh doanh.
Cho vay từng lần dựa trên tài sản đảm bảo:
Số lượng cho vay = Giá trị tài sản đảm bảo × tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm
bảo.
1.1.3.2.3 Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn
mức tín dụng. Hạn mức tín dụng được cấp theo nhu cầu sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong kì (hình thức này thường có tài sản đảm bảo).
Vấn đề đặt ra mỗi khách hàng đi vay ai cũng muốn có hạn mức cao. Xác định hạn
mức dựa vào tài sản đảm bảo của khách hàng và tỉ lệ cho vay đối với tài sản đảm bảo
đó. Trong trường hợp tài sản đảm bảo giá trị lớn mà nhu cầu vốn đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh không cần thiết lượng vốn đó, ta cần xây dựng một hạn mức tín dụng
Nhu cầu tín dụng cao nhất của kì này = Nhu cầu dự trữ hàng hóa bình quân của kì
này + chênh lệch dự trữ (tính theo kì trước) – Hàng hóa kém phẩm chất không thuộc
đối tượng tài trợ của ngân hàng - Vốn chủ sở hữu tham gia và các nguồn tài trợ khác
* Hạn mức tín dụng nếu nhu cầu vốn là dài hạn
Hạn mức tín dụng = Nhu cầu đầu tư × tỷ lệ lạm phát – các nguồn tài trợ khác
Đây là hình thức cho vay thuận tiện đối với khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn
vay tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Do trong nghiệp vụ này ngân hàng
không ấn định trước ngày trả nợ miễn là thời gian hạn mức tín dụng chưa hết. Khi
khách hàng có thu nhập thì ngân hàng sẽ thu tạo sự chủ động cho khách hàng trong
việc quản lí ngân quỹ doanh nghiệp của mình. Tuy nhiên do ngân hàng không ấn định
được kì hạn trả nợ nên việc quản lí với từng loại vốn vay khó có thể kiểm soát được
mà chỉ có thể phát hiện khi khách hàng nộp báo cáo tài chính cho ngân hàng hay dư nợ
lâu không giảm. Hình thức cho vay này sẽ phát triển mạnh trong tương lai.
Một hình thức cho vay khác là hình thức cho vay luân chuyển cũng đáp ứng được
nhu cầu sử dụng vốn của doanh nghiệp.
1.1.3.2.4.1 Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là hình thức cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hóa.
Tức là ngân hàng có thể cho doanh nghiệp vay khi doanh nghiệp mua hàng hóa,
nguyên vật liệu và thu nợ khi khách hàng bán hàng hóa. Trong hình thức cho vay này
ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau về phương thức cho vay, hạn mức tín
dụng, nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ trong tương lai. Hạn mức tín
dụng ở đây không phải là hạn hoàn trả mà là thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối
quan hệ với khách hàng quyết định có quan hệ nữa hay không.
Hình thức cho vay này khi khách hàng gửi chứng từ, hóa đơn nhập hàng và số tiền
cần vay tới ngân hàng. Với hình thức cho vay này thường áp dụng đói với các doanh
ghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn, có quan hệ
thường xuyên đối với ngân hàng. Cho vay dưới hình thức luân chuyển thuận tiện cho
gian lợi dụng uy tín của mình để tăng lãi suất cho vay lại đối với các thành viên, hay
giữ số tiền của các thành viên phục vụ cho mục đích của riêng mình… . Tuy vậy dưới
hình thức cho vay này ngân hàng gắn trách nhiệm quản lí việc sử dụng vốn của các
thành viên cho tổ chức trung gian, tiết kiệm chi phí quản lý cho ngân hàng. Hình thức
thường áp dụng cho khu vực thị trường phân tán các món vay nhỏ, các món cho vay cá
thể. Nguồn vốn cho vay ít, chủ yếu mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn.
Tóm lại hình thức cho vay là hình thức tín dụng ngân hàng mà các ngân hàng hiện
nay hoạt động thường xuyên và phổ biến nhất. Ngoài các hình thức cho vay trên, hình
thức tiếp theo của tín dụng ngân hàng mang nhiều ưu điểm đảm bảo cho người vay sử
dụng vốn đúng mục đích là hình thức tín dụng thuê mua.
1.1.3.3 Hình thức tín dụng thuê mua
Hình thức tín dụng thuê mua là hình thức tín dụng ngân hàng mua tài sản cho khách
hàng thuê phục vụ cho kế hoạch sản xuất kinh doanh. Hình thức này được áp dụng khi
khách hàng không có đủ điều kiện vay, ngân hàng muốn mở rộng tín dụng. Ngân hàng
có thể thu hồi tải sản để bán (do quyền sở hữu đối với tài sàn cho thuê) khi khách hàng
không trả được nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Có ba hình thức chủ yếu của hoạt động thuê mua tài sản
Ngân hàng mua để cho thuê.
Ngân hàng mua tài sản của người đi thuê cho thuê lại: Trong trường hợp doanh
nghiệp có tài sản cố định mà không có tiền mua nguyên vật liệu sản xuất thì
ngân hàng sẽ đứng ra mua tài sản đó của doanh nghiệp để cho thuê lại. Khi đó
doanh nghiệp sẽ có tiền mua nguyên vật liệu để sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng thuê tài sản để cho thuê hoặc mua trả góp tài sản để cho thuê: Tùy
theo điều kiện cụ thể ngân hàng với nhà cung cấp thỏa thuận mà ngân hàng mua
trả góp tài sản hay thuê của nhà cung cấp. Hình thức nay thực chất ngân hàng
dựa vào uy tín của mình để cho thuê lại.
Tuy trong khi cho thuê tài sàn ngân hàng bắt buộc các doanh nghiệp mua bảo hiểm
việc trả tiền ứng trước do vậy bão lãnh tiền ứng trước là cam kết của ngân hàng về
việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho bên mua nếu bên cung cấp không trả.
Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay:
Nhiều tổ chức tín dụng khi cho vay yêu cầu đảm bảo bằng tài sản khi uy tín của
người vay chưa cao nảy sinh nhu cầu bảo lãnh vay vốn. Bảo lãnh vay vốn là việc đảm
bảo hoàn trả vốn vay về việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạn nếu người vay không trả được
nợ.
Bảo lãnh thanh toán:
Là hình thức cam kết của ngân hàng sẽ thanh toán tiền đúng hợp đồng cho người thụ
hưởng nếu khách hàng của ngân hàng không thanh toán đầy đủ. Thường áp dụng bảo
lãnh cho du học.
1.2 Chất lượng tín dụng
Khi tìm hiểu về một ngân hàng, dưới góc độ quan sát tìm hiểu khác nhau, mà người
ta đặt những câu hỏi khác nhau đại loại như: Ngân hàng này có những hình thức cho
vay nào? Hiện nay có mối quan hệ tín dụng với đơn vị kinh tế nào? Nợ quá hạn là bao
nhiêu? Có nợ khó đòi hay không? Dư nợ tín dụng là bao nhiêu? Tất cả các câu hỏi
trên đều liên quan đến một vấn đề quan trọng mang tính chất sống còn với một ngân
hàng thương mại đó là chất lượng tín dụng.
1.2.1 Khái niệm
Cho đến nay, định nghĩa về chất lượng tín dụng còn nhiều tranh cãi. Bởi đây là khái
niệm hết sức trừu tượng và những chuẩn mực của nó luôn luôn thay đổi ở nơi này hay
nơi khác, tại thời điểm này hay thời điểm khác. Nhưng có thể hiểu: “Chất lượng tín
dụng là chất lượng của các khoản cho vay của Ngân Hàng”.
Để tìm hiểu về chất lượng tín dụng, chúng ta cần hiểu một khoản tín dụng được coi
là có chất lượng khi thỏa mãn một số yêu cầu cơ bản sau:
Ngân hàng có khả năng thu hồi khoản tiền cho vay hay không.
Ngân hàng không những thu hồi được số tiền gốc cho vay mà còn thu hồi được
- Đánh giá về tỷ lệ nợ quá hạn.
- Đánh giá về các khoản nợ ưu đãi, nợ có đảm bảo và nợ khác.
Đánh giá về khả năng thanh khoản: Khả năng thanh toán của Ngân hàng có ý nghĩa
sống còn đối với sự tồn tại và sống còn của Ngân hàng. Tỷ lệ thanh toán càng cao
thì ảnh hưởng đến mục tiêu lợi nhuận của Ngân hàng. Tỷ lệ thanh toán thấp thì ảnh
hưởng đến khả năng chi trả của Ngân hàng.
Tỷ lệ thanh toán nhanh = Ngân quỹ của người vay / Các khoản nợ hiện hành
Tỷ lệ thanh toán trung bình = Tài sản lưu động / Nợ hiện hành
Đánh giá luồng tiền: Ngân hàng tạo ra lợi nhuận lớn. Nhưng khả năng thanh toán
của Ngân Hàng phụ thuộc vào ngân quỹ. Kỳ hạn thu nợ có thể lệch pha với việc
chi trả. Do vậy, các Ngân hàng cần phải chú trọng đến khả năng chi trả.
Đánh giá về khả năng tài trợ bằng vốn chủ: Thông thường các Ngân Hàng phải có
vốn chủ đảm bảo một phần cho tài sản lưu động.
Tỷ lệ tài trợ bằng vốn chủ = Vốn chủ sỡ hữu / Tổng tài sản.
Tỷ lệ này cho thấy khả năng tài chính của Ngân Hàng. Thường đối với Ngân hàng
tỷ lệ này ≈ 25 %.
Đánh giá về điều kiện kinh tế: Khi đánh giá về các chỉ tiêu tín dụng của Ngân Hàng
cần bám sát thực tế của nền kinh tế, cũng như chính sách tiền tệ của chính phủ.
Đánh giá về hệ số an toàn vốn:
Hệ số an toàn vốn = Vốn chủ / Tổng tài sản có thể chuyển đổi
Hiện nay tại các Ngân hàng trên thế giới hệ số này ≈ 8% (Hệ số Cook) đối với
Ngân Hàng thương mại. Hệ số này cho phép đảm bảo khả năng thanh toán của các
Ngân hàng.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Năng lực vay nợ của người đi vay
Đây là một ràng buộc mang tính chất pháp lí. Bởi vì hợp đồng tín dụng là một loại
hợp đồng dân sự, đòi hỏi người tham gia hợp đồng phải có tư cách pháp lí, cụ thể
Thứ nhất theo kế hoạch kinh doanh hay dự án, kinh tế thị nguồn vốn doanh nghiệp
dùng để trả nợ ngân hàng chủ yếu lấy từ lợi nhuận. do đó kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp khả năng tạo ra lợi nhuận thì doanh nghiệp có khả năng thanh toán gốc
và lãi cho ngân hàng.
Thứ hai là ngân hàng luôn luôn mong muốn thu được nợ gốc và lãi từ lợi nhuận của
doanh nghiệp chứ không phải từ phần vốn tự có của doanh nghiệp. thực chất là ngân
hàng muốn khách hàng của mình làm ăn phát đạt để tiếp tục mối quan hệ duy trì mối
quan hệ lâu dài với khách hàng.
Đánh giá khả năng tạo ra lợi tức của doanh nghiệp đi vay, trong thực tế việc xem xét
kế hoạch kinh doanh hay đánh giá dự án kinh tế của doanh nghiệp có tính khả thi hay
không? Hơn nữa cán bộ tín dụng phải dùng những thông tin thu thập được, những hiểu
biết sẵn có của mình để đánh giá về thị trường, tiềm năng phát triển khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trên thị trưởng trong tương lai.
Những yếu tố ngân hàng quan tâm đó là: Đặc điểm của doanh nghiệp, chất lượng
hàng hóa, khả năng cạnh tranh, trình độ kĩ thuật của lực lượng lao động . khả năng
khai thác giá thành, nguyên vật liệu đầu vào, quản lí doanh nghiệp, định hướng phát
triển của doanh nghiệp cũng như sản phẩm của doanh nghiệp trong tương lai… . Mặc
dù những hiểu biết trên thực tế thị trường về quản lí doanh nghiệp là vô cùng cần thiết
giúp cho cán bộ tín dụng có thể đánh giá tương đối chính xác về khách hàng. Tuy
nhiên những điều này là rất khó, thông thường căn cứ chủ yếu để quyết định cho vay
thông qua phân tích kế hoạch kinh doanh hay dự án kinh tế của doanh nghiệp. Và
thông qua một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng.
Chương II
Thực trạng chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT Huyện Đông Triều Tỉnh
Quảng Ninh
Từ ngày thành lập đến nay NHNo & PTNT Việt Nam đã có những bước đi vững
chắc đủ sức cạnh tranh trên thương trường. Những bước phát triển khả quan trên, dã
tạo động lực cho ngân hàng cơ sở bắt tay vào thực hiện. Nhìn tổng thể có thể khẳng
định NHNo & PTNT Việt Nam đang trên đà phát triển vượt bậc có tầm vóc cả trong
và ngoài nước. Là một chi nhánh cấp huyện trực thuộc NHNo & PTNT tỉnh Quảng
Ninh, trong những năm qua theo xu thế hội nhập đã ra sức vươn lên xây dựng nền
móng cho các bước tiếp theo. Từ cơ chế bao cấp chuyển sang thực hiện chức năng
kinh doanh tiền tệ, tín dụng & các dịch vụ ngân hàng trên địa bàn theo cơ chế thị
trường, tự chủ về tài chính theo cơ chế khoán 946A của NHNo & PTNT Việt Nam.
Nằm trong tình trạng chung của các Ngân Hàng Thương Mại nền Kinh tế thị trường
có nhiều biến động. Từ khi Việt Nam chuẩn bị và gia nhập WTO nên phải trải qua
nhiều thách thức mới. Nền kinh tế khu vực và trong nước lạm phát trong khi các tổ
chức ngân hàng đang hoàn thiện các qui chế về hoạt động nghiệp vụ Ngân Hàng nói
riêng, qui định pháp luật cho Ngân Hàng nói chung chưa đồng bộ.
Từ chỗ cơ sở vật chất kĩ thuật lạc hậu cồng kềnh, đội ngũ cán bộ quá đông, trình độ
nghiệp vụ quản lí kinh doanh tiếp cận khoa học kĩ thuật, theo cơ chế thị trường còn
nhiều hạn chế cả về lí luận & thực tiễn. Song dưới sự chỉ đạo của Ngân Hàng cấp trên,
sự quyết tâm phấn đấu vượt qua khó khăn của ban lãnh đạo, tập thể CBCNV qua từng
thời kỳ. Do vậy hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Huyện Đông Triều luôn
hoàn thành tốt mục tiêu nhiệm vụ chính trị của Đảng. Đời sống CBCNV không ngừng
được nâng lên, đơn vị luôn đạt danh hiệu đơn vị đứng đầu NHNo & PTNT tỉnh Quảng
Ninh.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
NHNo & PTNT Huyện Đông Triều là một Ngân Hàng có doanh số hoạt động lớn
nhất trong 12 huyện thị của NHNo & PTNT tỉnh Quảng Ninh. Có mạng lưới hoạt động
tương đối hoàn thiện. Thực hiện các chức năng của Ngân Hàng , là một Ngân Hàng
cấp 2 gồm: 1 trụ sở chính, một Ngân Hàng cấp 3 Mạo Khê và 4 phòng giao dịch được
- Phân tích kế toán tài chính ,lãi lỗ của ngân hàng ,thường xuyên phân loại dư nợ
,phân tích nợ quá hạn tìm ra nguyên nhân giải pháp khắc phục.
- Phòng kinh doanh thẩm định dự án và đề xuất cho vay các dự án có hiệu quả .
- Tổng hợp báo cáo ,kiểm tra chuyên môn theo qui định ,thực hiện các nhiệm vụ
của Giám Đốc giao.
Phòng kế toán ngân quỹ:
Thực hiện nghiệp vụ giải ngân, cho vay, thu nợ, thu lãi, thu chi tiền mặt, quản lí
tài sản, nhận tiền gửi. Thực hiện thanh toán các đơn vị tổ chức kinh tế thực hiện
các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt trong hệ thống ngân hàng. Thực
hiện cơ chế tài chính của ngành theo văn bản chế độ hiện hành. Tổng hợp lưu trữ
hồ sơ tài liệu, kế toán, quyết toán và các báo cáo theo qui định. Quản lí sử dụng
thiêt bị thông tin, điện toán phục vụ cho nghiệp vụ kinh doanh theo qui định của
ngân hàng nhà nước việt nam.
Xây dựng chỉ tiêu kế hoạch tài chính quyết toán kế hoạch thu chi tài chính, hạch
toán chính xác.Quản lí kho quĩ theo qui định của Ngân Hàng Nhà Nước và chấp
hành các qui định về an toàn kho quĩ. Định mức tồn quĩ theo qui định của
NHNo&PTNT Việt Nam.
Phòng hành chính nhân sự:
Xây dựng qui chế lề lối làm việc trong đơn vị và mối quan hệ với các phòng tổ
trong cơ quan .Đề xuất mở rộng mạng lưới kinh doanh trên địa bàn .thực hiện công
tác thi đua khen thưởng .Trực tiếp quản lí con dấu của chi nhánh, thực hiện công
tác hành chính ,văn thư lễ tân , bảo vệ…phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
Ngân hàng cấp 3 Mạo Khê: Thực hiện các hoạt động huy động vốn, cho vay và
cung cấp các dịch vụ Ngân hàng trên địa bàn khu vực Mạo Khê.
Bốn phòng giao dịch ( các phòng đếu có các tổ nghiệp vụ): Thực hiện các hoạt
động huy động vốn trên các địa bàn cụ thể. Các phòng được thực hiện theo
Năm 2006 là năm thực hiện kế hoạch 5 năm trong quá trình hội nhập quốc tế. Do
vậy, trước những khó khăn của nền Kinh tế, nhiệm vụ đặt ra với ngành Ngân Hàng là
rất nặng nề. Vừa đáp ứng được nhu cầu vốn cho tăng trưởng của nền kinh tế vừa thực
hiện tốt đề án cơ cấu lại Ngân Hàng giai đoạn giai đoạn 2001 – 2010 đã được thủ
tướng phê duyệt và khi Việt Nam gia nhập WTO.
Cùng với định hướng và năng động trong điều hành của tổng giám đốc và sự phấn
đấu của toàn hệ thống và sự ủng hộ của khách hàng.
Với phương châm “ AGRIBANK mang phồn thịnh đến với khách hàng”. Dưới sự
chỉ đạo của NHNo & PTNT Việt Nam, NHNo & PTNT tỉnh Quảng Ninh, sự phấn đấu
của tập thể CBCNV Ngân Hàng Đông Triều , kết quả kinh doanh trong những năm
qua các chỉ tiêu kinh doanh đều tăng trưởng tốt vượt mức chỉ tiêu tăng trưởng của
Ngân Hàng cấp trên giao cả về chỉ tiêu nguồn vốn, sử dụng vốn, đáp ứng đủ vốn cho
vay phát triển nông nghiệp nông thôn. Luôn đảm bảo khả năng chi trả đối với khách
hàng, hoàn thành vượt mức kế hoạch tài chính, đảm bảo hệ số tiền lương và có lương
năng suất, đảm bảo an toàn vốn. Ngoài các hoạt động lĩnh vực tín dụng truyền thống,