TIỂU LUẬN: Tình hình xuất khẩu dược phẩm của Việt Nam và một số giải pháp nhằm hỗ trợ trong những năm tới pot - Pdf 11


TIỂU LUẬN:

Tình hình xuất khẩu dược phẩm của
Việt Nam và một số giải pháp nhằm hỗ
trợ trong những năm tới Lời nói đầu Sự phát triển vượt bậc của hoạt động xuất khẩu trong những năm vừa qua có
thể coi là một trong những thành tựu nổi bật của công cuộc đổi mới nền kinh tế của
Việt Nam.
Nếu như năm 1976, năm đầu tiên sau giải phóng, kim ngạch xuất khẩu mới
đạt xấp xỉ 200 triệu USD, năm 1986 là 789 triệu USD thì tới năm 1996 kim ngạch
Chương I
Những vấn đề lý luận chung
về hoạt động xuất khẩu
I. Khái niệm và các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu
1.Khái niệm
Xuất nhập khẩu nói chung và xuất khẩu nói riêng là hoạt động kinh doanh
buôn bán trên phạm vi quốc tế. Nó không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả
một hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong và bên ngoài
nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, ổn định và từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Xuất khẩu là hoạt động
kinh doanh dễ đem lại hiệu quả đột biến nhưng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải
đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước tham
gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế được.
Xuất nhập khẩu là việc mua bán hàng hoá với nước ngoài nhằm phát triển
sản xuất, kinh doanh và đời sống. Song mua bán ở đây có những nét riêng phức tạp
hơn trong nước như giao dịch với người có quốc tịch khác nhau, thị trường rộng lớn
khó kiểm soát, mua bán qua trung gian chiếm tỷ trọng lớn, đồng tiền thanh toán bằng ngoại tệ mạnh, hàng hoá vận chuyển qua biên giới, cửa khẩu các quốc gia
khác nhau phải tuân theo các tập quán quốc tế cũng như địa phương.
Hoạt động xuất nhập khẩu được tổ chức, thực hiện với nhiều nhiệm vụ, nhiều
khâu từ điều tra thị trường nước ngoài, lựa chọn hàng hoá xuất nhập khẩu, thương
nhân giao dịch, các bước tiến hành giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ chức
thực hiện hợp đồng cho đến khi hàng hoá chuyển đến cảng chuyển giao quyền sở
hữu cho người mua, hoàn thành các thanh toán. Mỗi khâu mỗi nhiệm vụ này phải
được nghiên cứu đầy đủ, kỹ lưỡng, đặt chúng trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ
nắm bắt những lợi thế nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất, phục vụ đầy đủ, kịp thời

+Nhận biết mặt hàng xuất khẩu.
Việc nhận biết mặt hàng xuất khẩu, trước tiên phải dựa vào nhu cầu của sản
xuất và tiêu dùng về quy cách, chủng loại, kích cỡ, giá cả, thời vụ và các thị hiếu
cũng như tập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó, xem xét
các khía cạnh của hàng hoá trên thị trường thế giới. Về khía cạnh thương phẩm,
phải hiểu rõ giá trị công dụng, các đặc tính, quy cách phẩm chất, mẫu mã. Để lựa
chọn được mặt hàng kinh doanh, một nhân tố quan trọng là phải tính toán được tỷ
suất ngoại tệ hàng xuất nhập khẩu. Trong trường hợp xuất khẩu, tỷ suất ngoại tệ là
số lượng bản tệ phải chi ra để có thể thu về 1 đồng ngoại tệ. Nếu tỷ suất này thấp
hơn tỷ giá hối đoái thì việc xuất khẩu có hiệu quả.
Việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu không chỉ dựa vào những tính toán hay
ước tính, những biểu hiện cụ thể của hàng hoá, mà còn phải dựa vào những kinh
nghiệm của người ngoài thị trường để dự đoán được các xu hướng biến động trong
thị trường nước ngoài cũng như trong nước, khả năng thương lượng để đạt được các
điều kiện mua bán có ưu thế hơn.
+Lựa chọn đối tượng giao dịch.
Trong thương mại quốc tế, bạn hàng hay khách hàng nói chung là những
người hoặc tổ chức có quan hệ giao dịch với ta nhằm thực hiện các hợp đồng mua
bán hàng hoá hay các loại dịch vụ, các hoạt động hợp tác kinh tế hay hợp tác kỹ
thuật liên quan tới việc cung cấp hàng hoá.
Việc lựa chọn các đối tượng giao dịch có căn cứ khoa học là điều kiện cần
thiết để thực hiện thắng lợi các hợp đồng thương mại quốc tế, song nó phụ thuộc
nhiều vào kinh nghiệm của người làm công tác giao dịch. Nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế trong kinh doanh xuất khẩu là hết
sức cần thiết. Đó là bước chuẩn bị và là tiền đề để doanh nghiệp có thể tiến hành
các hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế có hiệu quả cao nhất.
2.2 Nghiên cứu giá cả hàng hoá.
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, đồng thời thể hiện một

Trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ, việc thanh toán phải chú ý đến
các vấn đề sau:
-Tỷ giá hối đoái.
-Tiền tệ trong thanh toán quốc tế.
-Thời hạn thanh toán.
-Các phương thức thanh toán.
-Các điều kiện đảm bảo hối đoái.
Có nhiều loại tiền tệ được sử dụng trong thanh toán quốc tế, cần phải biết
cách lựa chọn đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán và các điều kiện thanh
toán sao cho có lợi nhất, tránh những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện
các hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ.
II. Tầm quan trọng và nhiệm vụ của hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu là một cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh đem lại lợi
nhuận lớn, là phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế. Mở rộng xuất khẩu để tăng
thu ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ sở hạ tầng. Nhà nước ta
luôn luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến
khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và
tăng thu ngoại tệ.
1.Tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế
-Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu
Công nghiệp hoá đất nước đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy
móc, thiết bị, kỹ thuật, vật tư và công nghệ tiến tiến. Nguồn vốn để nhập khẩu có
thể được hình thành từ các nguồn như: liên doanh đầu tư với nước ngoài, vay nợ,
viện trợ, tài trợ, thu từ hoạt động dịch vụ, du lịch, xuất khẩu sức lao động, Trong
các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ, cũng phải trả bằng cách
này hay cách khác. Để nhập khẩu, nguồn vốn quan trọng nhất là từ xuất khẩu. Xuất
khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu. -Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang nền kinh tế hướng

Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho kinh tế nước ta gắn chặt
với phần công lao động quốc tế. Thông thường hoạt động xuất khẩu ra đời sớm hơn
các hoạt động kinh tế đối ngoại khác nên nó thúc đẩy các quan hệ này phát triển.
Chẳng hạn xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư,
vận tải quốc tế, Đến lượt nó chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo tiền đề cho
mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để
phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
2. Nhiệm vụ của hoạt động xuất khẩu
-Phải mở rộng thị trường, nguồn hàng và đối tác kinh doanh xuất khẩu nhằm
tạo thành cao trào xuất khẩu, coi xuất khẩu là mũi nhọn đột phá cho sự giàu có.
-Phải ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước như đất đai,
nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất, kỹ thuật-công nghệ chất xám theo
hướng khai thác lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh.
-Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu đê tăng nhanh khối lượng và
kim ngạch xuất khẩu.
-Tạo ra những mặt hàng và nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đáp ứng những đòi
hỏi của thị trường thế giới và của khách hàng về chất lượng và số lượng, có hấp dẫn
và khả năng cạnh tranh cao.

Chương II
Tình hình xuất khẩu dược phẩm của Việt Nam trong giai đoạn 1990- 2000
I.Thực trạng hoạt động xuất khẩu
1.Về quy mô và tốc độ tăng trưởng
Theo số liệu thống kê cho thấy, hiện nay cả nước có 47 doanh nghiệp
đang hoạt động xuất nhập khẩu thuốc trực tiếp, trong đó:


12,40%

1993 5.415.201

2,00%

1994 5.816.332

7,41%

1995 13.695.680

135,00%

1996 11.997.000

-12,40%

1997 11.627.000

-3,08%

1998 17.050.930

1,46%

1999 11.428.000

-3,30%


1.000.000

1.500.000

Rượi bổ, trà 3.000.000

3.000.000

3.000.000

3.500.000

3.000.000

Tinh dầu 5.000.000

3.000.000

3.500.000

6.000.000

3.500.000

Nguyên liệu 2.000.000

1.000.000

1.000.000


30/12/1999 về điều hành xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2000, tại điều 9 quy định:
“Giao các Bộ, ngành hữu quan sau khi thống nhất với Bộ Thương mại, công bố
danh mục và hướng dẫn việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá thuộc danh mục hàng
quản lý chuyên ngành theo nguyên tắc: chỉ quy định các tiêu chuẩn kỹ thuật, tính
năng sử dụng, điều kiện được xuất khẩu, nhập khẩu để doanh nghiệp có cơ sở làm
thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại hải quan cửa khẩu, không cấp giấy phép hoặc duyệt
mặt hàng, số lượng, trị giá hàng xuất khẩu, nhập khẩu”.
Do tính chất đặc thù của loại hàng hoá này, Bộ Y tế đã có trao đổi với Bộ
Thương mại, Tổng cục Hải quan và xin ý kiến Chính phủ duy trì một số quy định về
quản lý, cụ thể đã ban hành Thông tư 07/2000/TT-BYT.
Thông tư 07/2000/TT-BYT đánh dấu một bước phát triển trong công tác
quản lý, tạo thông thoáng cho doanh nghiệp, đồng thời đi sâu vào quản lý chất
lượng và khuyến khích việc đăng ký thuốc lưu hành tại Việt Nam, quy định mở
rộng đối tượng tham gia xuất khẩu.
Tuy nhiên, kinh nghiệm quản lý và kinh nghiệm hoạt động thương mại quốc
tế trong lĩnh vực dược của Việt Nam còn quá ít ỏi, các doanh nghiệp mới chỉ tiếp
cận thương mại quốc tế khoảng 10 năm nay, thuốc trong nước chưa đủ cạnh tranh
với thuốc nước ngoài.
- Chính sách quản lý sản xuất, xuất, nhập khẩu còn nặng về các biện pháp
hành chính , chưa có điều kiện triển khai các giải pháp kỹ thuật về kiểm tra chất lượng một cách tối ưu. Các thủ tục về đăng ký nhãn mác sản phẩm còn quá rườm rà,
thiếu tính đồng bộ từ trên xuống dưới.
- Sự khác nhau và không hài hoà giữa hệ thống quy chế Dược của các nước:
+Quy định về đăng ký, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc khác nhau giữa các nước.
Danh mục thuốc, thực phẩm, mỹ phẩm và các sản phẩm được coi như thuốc của các
nước chưa thống nhất.
+ Thiếu thông tin và mất nhiều thời gian để liên hệ với Cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy phép sản xuất, xuất nhập khẩu thuốc của một số nước khi cần thẩm

hàng hoá xuất khẩu. Sản phẩm dược mặc dù có những đặc thù riêng song vẫn không
tránh khỏi những tồn tại trên. Khi được hỏi về nguyên nhân của tình trạng này, thì
hầu như các doanh nghiệp đổ lỗi nhiều cho “thiếu vốn” và “thiết bị lạc hậu”. Hai
yếu tố này tác động qua lại và tạo thành vòng xoáy khiến doanh nghiệp dù “rất
mong muốn nhưng không thể thoát ra được”. Vốn và thiết bị đóng vai trò quan
trọng trong việc tạo ra sức cạnh tranh cho sản phẩm nhưng bên cạnh vốn và thiết bị
còn rất nhiều yếu tố khác cũng tác động vào sức cạnh tranh của sản phẩm. Những
yếu tố này có thể là yếu tố vĩ mô (như lãi suất, thuế suất, ) nhưng cũng có thể là
yếu tố vi mô (như quy trình sản xuất và khả năng quản lý của từng doanh
nghiệp, ). Nếu có thể cải tổ những yếu tố này thì vấn đề vốn và thiết bị nhiều khi
lại trở thành vấn đề thứ yếu trong việc nâng cao sức cạnh tranh. Một tài liệu nghiên
cứu gần đây chỉ ra rất rõ rằng “ Hiện nay ở Việt Nam đang tồn tại xu hướng cạnh
tranh dựa trên mức lương thấp và các nguồn tài nguyên thiên nhiên”. Đây là nhận
xét hoàn toàn chính xác. Có thể nói phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đang theo
đuổi một chiến lược cạnh tranh thụ động là dựa vào các “lợi thế vốn có”. Các yếu tố
như lao động rẻ, tài nguyên thiên nhiên, vị trí độc quyền, trợ cấp riêng rẽ, lãi suất ưu
đãi, được nhiều doanh nghiệp coi như là cơ sở để tồn tại và phát triển. Rất ít
doanh nghiệp dám theo đuổi một chiến lược chủ động mà điểm cót lõi của nó là tạo
ra một vị thế cạnh tranh khác biệt, mang tính dài hạn, dựa trên khả năng cắt giảm
chi phí bình quân trong ngành và khả năng tạo ra các sản phẩm độc đáo hơn cũng
như quy trình sản xuất hợp lý hơn. Hơn nữa do đặc thù của ngành, một số doanh
nghiệp chưa nghiên cứu kỹ quy định về xuất nhập khẩu thuốc và các quy chế chuyên môn dẫn đến việc lập đơn hàng có nhiều sai sót gây mất thời gian cho chính
doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Một số doanh nghiệp cả trong nước và nước ngoài vi phạm về lập đơn hàng
dẫn đến vi phạm về những quy định lưu thông phân phối thuốc.
Hiện nay xuất hiện tình trạng vi phạm về chất lượng thuốc. Bộ phận đảm bảo
chất lượng thuốc của một số doanh nghiệp hoạt động chưa thực sự có hiệu quả. Vấn
Chương III
Phương hướng và một số giải pháp nhằm hỗ trợ hoạt động xuất khẩu dược
phẩm của Việt Nam trong những năm tới.
I.Phương hướng
1.Phương hướng quản lý hoạt động xuất khẩu các năm tới
Việc quản lý xuất nhập khẩu thuốc đã được luật hoá và thông qua hoạt động
quản lý, Bộ Y tế có trách nhiệm đối với chất lượng thuốc.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng tại công văn số 2961/VPCP-
KTTH của Văn phòng Chính phủ: “Để hoạt động xuất nhập khẩu được điều hành
nhất quán, ổn định và đạt mục tiêu tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, kiểm soát
được nhập khẩu ( đáp ứng được yêu cầu của đầu tư và sản xuất trong nước) chủ yếu
bằng các biện pháp thuế quan và các chính sách bảo hộ có mục tiêu, có thời hạn,
đồng thời phải phù hợp với yêu cầu cấp bách về công tác cải cách hành chính cũng
như tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế”, trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm quản lý
các năm qua, nhằm đảm bảo tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế, Bộ Y tế đã dự
kiến cơ chế và quy định điều hành xuất nhập khẩu áp dụng cho nhiều năm.
Dự thảo của Bộ Y tế trên nguyên tắc tạo thông thoáng, thuận lợi cho các
doanh nghiệp, khuyến khích xuất khẩu nhưng vẫn phải đảm bảo thực hiện đúng các
quy chế chuyên môn nhằm đảm bảo chất lượng thuốc, giữ uy tín cho các doanh
nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế; đề cao trách nhiệm Giám đốc doanh
nghiệp; đảm bảo trật tự thị trường thuốc trong nước; chống việc sản xuất và lưu hành thuốc sai quy chế; gian lận thương mại, xin sản xuất thuốc xuất khẩu nhưng
thực tế tiêu thụ tại thị trường trong nước.

được đặt ở vị trí ưu tiên số một. Các hình thức ưu đãi cao nhất phải được dành cho
sản xuất hàng xuất khẩu, nhất là hoạt động xuất khẩu dược phẩm trong thời gian
hiện nay. Để xuất khẩu dược phẩm có được nguồn vốn đầu tư cần thiết trong hoàn
cảnh tích luỹ nội bộ có hạn cần phải thực hiện một số biện pháp như:
- Triệt để và nhất quán thi hành các hình thức ưu đãi dành cho sản xuất hàng
xuất khẩu: cho phép vay vốn với lãi suất ưu đãi thấp, giảm hoặc miễn nộp thuế lợi
tức một số năm đối với một số sản phẩm làm ra trong những năm đầu chưa có lãi
hoặc lãi thấp, Nhà nước có thể áp dụng chính sách trợ cấp có điều kiện,
- Xoá bỏ ngay các thủ tục phiền hà, đặc biệt là việc phê duyệt nhập khẩu máy
móc thiết bị. Hiện nay, do các doanh nghiệp dược phẩm của Việt nam có trình độ và
điều kiện về vốn còn thấp nên nhu cầu về đổi mới công nghệ là cần thiết song
không phải ở mức độ cao, mà điều đó còn phụ thuộc vào thực tế của doanh nghiệp
và không phải doanh nghiệp nào cũng cần những máy móc, thiết bị hiện đại nhất.
Do vậy các chính sách về nhập khẩu máy móc,thiết bị cũng cần linh động sao cho
phù hợp với tình hình thực tế.
Chính sách khuyến khích đầu tư cần được xây dựng dựa trên các tiêu chí
như tính chủ lực, cấp độ chế biến, để tránh tình trạng khuyến khích dàn đều,
không có định hướng xây dựng sản phẩm chủ lực. Chúng ta cần dựa vào những thế
mạnh về nguồn nguyên liệu dược phẩm rất phong phú và đa dạng, nguồn nhân công
rẻ, để xây dựng cho mình một chiến lược xuất khẩu chủ động, có tính tập trung
vào sản phẩm chủ lực. Đồng thời cần ưu đãi, khuyến khích mạnh đầu tư đổi mới
công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị.
Song song với việc đề cao vị trí của đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, cần hết
sức chú ý ổn định môi trường đầu tư. Trong các yếu tố của tổng cầu thì hoật động
đầu tư là yếu tố tự thân, phụ thuộc rất nhiều vào nhận định chủ quan của nhà đầu
tư, không biến thiên theo thu nhập. Vì lý do đó, ngoài việc ban hành các chính sách
khuyến khích, việc duy trì môi trường đầu tư ổn định nhằm tạo tâm lý tin tưởng cho
nhà đầu tư mang một ý nghĩa cực kỳ quan trọng.
2.Đảm bảo quyền bình đẳng của các chủ thể tham gia hoạt động xuất nhập
khẩu

toàn thế giới, vừa đưa ngân sách vào tình trạng cực kỳ khó khăn khi những cam kết
giảm thuế có hiệu lực và làm cho nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm mạnh. Để giải quyết tình trạng này, cần gấp rút thay đổi cơ cấu nguồn thu, tăng tỷ trọng cuả các
sắc thuế khác như các loại thuế trực thu, thuế hàng hoá, tháo bỏ những cản trở đối
với việc thu một số loại thuế như thuế chuyển quyền sử dụng đất để giảm dần tỷ
trong của số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu.
Tiếp tục thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đi đôi với việc tạo tiền
đề cho đa dạng hoá nguồn vốn; khuyến khích mạnh vốn đầu tư cho khu vực sản
xuất hàng xuất khẩu.
Khuyến khích thành lập các quỹ phòng ngừa rủi ro. Tại các quốc gia phát
triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, . đều có các tổ chức xúc tiến xuất khẩu độc lập.
Tổ chức này có trách nhiệm hỗ trợ tối đa cho người xuất khẩu trên cơ sở phi lợi
nhuận (chỉ thu của người xuất khẩu một khoản đủ để bù đắp chi phí). Qua tổ chức
này, người xuất khẩu có thể thu thập được nhiều thông tin hữu ích về thị trường
nước ngoài, về bạn hàng nhập khẩu, Quyền kinh doanh xuất nhập khẩu tới nay đã
được mở cho tất cả các doanh nghiệp nên đã đến lúc cần có sự thay đổi cơ bản về
phương thức quản lý hoạt động của các doanh nghiệp và phương pháp phổ cập
thông tin (bao gồm thông tin về hàng hoá, thị trường, giá cả cũng như các quy định
về quản lý xuất nhập khẩu, ). Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn chưa
thực hiện được quyền mà Chính phủ trao cho họ chỉ vì hiểu biết hạn chế về thị
trường nước ngoài, nghiệp vụ ngoại thương cũng như các quy định của Nhà nước
có liên quan tới hoạt động quản lý xuất nhập khẩu.
Trong thời gian tới, cần tăng cường sử dụng các công cụ của chính sách tiền
tệ để hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu. Các công cụ như tỷ giá hối đoái, bảo lãnh bán
hàng trả chậm, cho vay theo thành tích xuất khẩu, tăng tỷ trọng cho vay trung và dài
hạn, đều có thể tác động nhanh và mạnh đến xuất khẩu. Cần khẩn trương cải
cách hệ thống trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng thương mại để tránh hiện
tượng co cụm, giảm dư nợ như đã xảy ra tại Thái Lan khi số lượng các khoản nợ

được dành để thành lập Ngân hàng dữ liệu nhằm cung cấp cho doanh nghiệp những
thông tin cập nhật nhất về lĩnh vực công nghệ mà họ quan tâm. Việc này đã được
làm nhưng quy mô còn nhỏ, lại thiếu quảng cáo nên rất ít doanh nghiệp biết về sự
tồn tại của một trung tâm như vậy. Tới đây nên tiến hành đầu tư một cách bài bản
hơn cho lĩnh vực này, đồng thời tăng cường phổ biến đến doanh nghiệp để họ biết
và có điều kiện tham khảo dữ liệu trước khi ra quyết định đầu tư. Tạo lập thị trường công nghệ để các sản phẩm khoa học công nghệ được trả
giá đúng mức và lưu thông bình thường như một hàng hoá đặc biệt. Đây là biện
pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học gắn bó hơn với
tiến trình phát triển, đồng thời rút ngắn được khoảng cách thời gian giữa nghiên cứu
và ứng dụng. Để tạo lập thị trường công nghệ, nên khuyến khích việc ký hợp đồng
giữa các doanh nghiệp với các cơ sở nghiên cứu khoa học bằng cách thiết lập Quỹ
Hỗ trợ đầu tư phát triển công nghệ quốc gia. Quỹ này sẽ cho các doanh nghiệp vay
trong trường hợp họ có nhu cầu đặt hàng với các Viện nghiên cứu. Làm như vậy
vừa gắn được nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của sản xuất, vừa tạo điều kiện cho
các nhà khoa học giỏi phát huy tài năng, vừa không phí phạm nguồn vốn ít ỏi của
ngân sách Nhà nước.
5. Đẩy mạnh công tác khai thác thông tin, thị trường
Việc hoạch định một chiến lược tổng thể về thị trường là việc có tầm quan
trọng hàng đầu. Để xây dựng được chiến lược này, Bộ Thương mại và hệ thống
thương vụ phải nắm rõ được năng lực và hiện trạng sản xuất trong nước cũng như
đặc điểm, tính chất và thể chế của từng thị trường ngoài để từ đó trả lời cho các câu
hỏi: mặt hàng nào, đi vào đâu, với số lượng bao nhiêu, đi như thế nào và cần giải
quyết vấn đề gì trong quan hệ song phương. Trên cơ sở đó sẽ xác định tốc độ phát
triển cho từng thị trường và cơ cấu tổng thể về thị trường ngoài.
Một khi đã xác định, các mục tiêu trên sẽ trở thành chỉ tiêu phấn đấu của cả
Bộ, trong đó có các tham tán thương mại tại nước ngoài. Nếu thị trường nào đó
không đạt được mức chỉ tiêu phấn đấu thì tham tán sẽ là người đầu tiên phaỉ trả lời.

nước với các doanh nghiệp trên thị trường mà tham tán hoạt động. Để thực hiện
được vai trò đó, phải đặt mối quan hệ giữa các cơ quan hữu quan trên một truc dọc
và phải tăng tốc độ chuyển động đi đôi với đảm bảo sự chuyển động hướng đích của
toàn bộ trục này.
ở tầm vi mô, các doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức tiếp cận và phân tích,
khai thác các thông tin, trực tiếp và thường xuyên tiếp xúc với thị trường thế giới
thông qua hội thảo khoa học, hội chợ, triển lãm, đẩy mạnh tiếp thị để kịp thời nắm
bắt thị trường, bám sát và tiếp cận được tiến bộ của thế giới trong sản xuất và kinh
doanh, tự mình lo tìm bạn hàng, thị trường, ký hợp đồng, tổ chức sản xuất và xuất khẩu theo nhu cầu và thị hiếu của thị trường, tránh tư tưởng ỷ lại vào các cơ quan
quản lý Nhà nước hoặc trông chờ trợ cấp, trợ giá.
Tiến hành sâu rộng một chiến dịch nhằm cải thiện hình ảnh hàng hoá Việt
Nam nói chung và sản phẩm dược nói riêng trên thị trường thế giới. Trước mắt có
thể ra một tạp chí chính thức về các sản phẩm của Việt Nam phát hành miễn phí ra
nước ngoài thông qua hệ thống sứ quán và thương vụ. Chỉ các sản phẩm tiêu biểu
có chất lượng cao hoặc đã từng đạt huy chương tại các hội chợ quốc tế mới được
xem xét đưa vào tạp chí này.
Nói tóm lại, công tác xúc tiến thương mại thông qua các hình thức như tham
tán ở nước ngoài, quảng cáo, đẩy mạnh quan hệ ngoại giao, có một vị trí hết sức
quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu.
6. Đẩy mạnh cải cách hành chính
Công khai hoá và luật pháp hoá là việc đầu tiên cần làm trong tiến trình đổi
mới công tác quản lý. Hiện nay, các doanh nghiệp rất thiếu thông tin về các quy
định của Nhà nước có liên quan đến công việc kinh doanh của họ. Đây là yếu điểm
lớn cần được khắc phục nhanh, nhất là trong điều kiện quyền kinh doanh xuất nhập
khẩu đã được mở ra cho hàng chục nghìn doanh nghiệp.
Mọi văn bản về quản lý Nhà nước chỉ nên có hiệu lực thi hành sau khi đã
được đăng trên Công báo. Hiện nay tuy Luật đã quy định về vấn đề này nhưng chỉ

gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tính toán hiệu quả kinh doanh, vừa
làm triệt tiêu khả năng định hướng của công cụ thuế. Ngoài ra, các doanh nghiệp
còn gặp phải các lệnh cấm có hiệu lực ngay lập tức, các lệnh ngừng tạm thời và vô
thời hạn, các thay đổi chính sách có hiệu lực “hồi tố” gây rất nhiều thắc mắc, Kết luận

Như chúng ta đã biết, hoạt động xuất khẩu giữ một vai trò vô cùng quan
trọng đối với nền kinh tế. Vì vậy việc đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những nhiệm
vụ hàng đầu của Nhà nước ta nói chung cũng như của các doanh nghiệp nói riêng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status