TIỂU LUẬN: Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty xuất nhập khẩu TOCONTAP Hà Nội - Pdf 11

z

TIỂU LUẬN:

Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty xuất
nhập khẩu TOCONTAP Hà Nội
Lời nói đầu Trong xu thế mở rộng giao lưu, hội nhập vào nền kinh tế thế giới, số lượng các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác ngày càng tăng. Xuất khẩu hàng hoá ra
nước ngoài thường phức tạp hơn rất nhiều so với kinh doanh trên thị trường nội địa vì
quy mô thị trường rộng lớn khó kiểm soát, doanh nghiệp khó nắm bắt thông hiểu một
cách cặn kẽ, lại phải tuân thủ các tập quán, luật lệ của các quốc gia Nhưng bù lại
doanh nghiệp sẽ giải quyết được tình trạng nhu cầu của thị trường nhỏ bé, sức mua thấp

lựa chọn đề tài : “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
tại Công ty xuất nhập khẩu TOCONTAP Hà Nội”.
Báo cáo thực tập được kết cấu gồm 3 phần :
Chương I : Hoạt động xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đối với
TOCONTAP.
Chương II : Thực trạng hoạt động xuất khẩu tại TOCONTAP.
Chương III : Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt dộng xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ.
Với kiến thức tiếp thu ở nhà trường cơ quan thực tập và hiểu biết ngoài xã hội, tôi
mong muốn được góp thêm một vài suy nghĩ trong việc đánh giá hoạt động xuất khẩu và
đề ra một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của Công ty trong thời gian tới.
Xin chân thành cảm ơn các cán bộ phòng kinh doanh xuất nhập khẩu , Công ty xuất
nhập khẩu Tạp phẩm Hà Nội, đặc biệt là thầy Bình, trưởng khoa Kinh tế và kinh doanh
quốc tế, Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội đã tận tình quan tâm, giúp đỡ để hoàn thành
công việc của mình. CHƯƠNG I: Hoạt động xuất khẩu thủ công mỹ nghệ và vai trò của xuất khẩu thủ
công nghệ đối với tocontap.
I. Vai trò của xuất khẩu thủ công mỹ nghệ.
1. Khái niệm xuất khẩu và vai trò của nó.
a, Khái niệm xuất khẩu và các hình thữc xuất khẩu chủ yếu
Xuất khẩu là một quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua mua bán nhằm
đạt được mức lợi nhuận cao nhất. Trao đổi hàng hoá là hình thức của các mối quan hệ
kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh
hàng hóa riêng biệt của các quốc gia. Xuất khẩu là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo
điều kiện cho các nước tham gia vào các phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế

vụ kịp thời cho sản xuất và tiêu dùng trong nước.
Đối với người tham gia hoạt động xuất khẩu, trước khi bước vào nghiên cứu, thực
hiện các khâu nghiệp vụ phải nắm bắt được thông tin về nhu cầu hàng hoá, thị hiếu, tập
quán tiêu dùng, khả năng mở rộng sản xuất, giá cả và xu hướng biến động của nó.
Những điều đó phải thành nếp thường xuyên trong tư duy mỗi nhà kinh doanh xuất khẩu
để nắm bắt được các cơ hội trong kinh doanh thương mại quốc tế.
* Các hình thức xuất khẩu trong cơ chế thị trường.
- Xuất khẩu tự doanh:
Xuất khẩu tự doanh là hoạt động xuất khẩu độc lập của một doanh nghiệp, kinh doanh
xuất khẩu trực tiếp trên cơ sở nghiên cứu thi trường trong và ngoài nước, tính toán đầy
đủ chi phí, bảo đảm kinh doanh xuất khẩu có lãi, đúng trong phương hướng, chính sách
pháp luật quốc gia cũng nhu quốc tế.
Trong xuất khẩu tự doanh thì doanh nghiệp phải đứng mũi chịu sào tất cả. Đây là hoạt
động xuất khẩu được xem xét một cách kỹ càng từ việc nghiên cứu thị trường đến việc
ký kết hợp đồng bởi doanh nghiệp phải tự bỏ vốn của mình ra, chịu mọi chi phí giao
dịch, nghiên cứu, thăm viếng, giao nhận lưu kho cho tới chi phí phải giao nhận hàng
hoá, chịu thuế doanh thu. Khi xuất khẩu tự doạnh thì doanh nghiệp xuất khẩu được tính
kim ngạch xuất nhập khẩu và khi tiêu thụ được số hàng xuất khẩu thì được tính doanh
số, do đó phải chịu thuế doanh thu.
Đây là hình thức xuất khẩu phức tạp nhất, khó khăn nhất và tự chủ nhất trong các
hình thức. Các bộ kinh doanh phải tự nghiên cứu, thực hiện các bước xuất khẩu sao cho
tận dụng được mọi sự biến động của thị trường, mua được rẻ nhất, bán được đắt nhất và
thời gian ngắn nhất.
- Xuất khẩu uỷ thác:
Xuất khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có
hàng hoá và có nhu cầu xuất khẩu một số hàng hoá nhưng không có quyền tham gia và
không có quyền quan hệ trực tiếp, trên thực tế phải uỷ thác cho một doanh nghiệp có
chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành xuất nhập khẩu hàng hoá theo yêu
cầu của mình để làm thủ tục xuất khẩu hàng hoá thêo yêu cầu của bên uỷ thác và được
hưởng một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.

năng ấy cũng như cùng chung ý tưởng kinh doanh, do vậy những đơn vị đó cùng với
phòng nghiệp vụ liên doanh với nhau nhằm khắc phục khó khăn cho nhau, cùng tiến
hành xuất khẩu hàng hoá. Thường thì do phòng kinh doanh có nhiệm vụ, có kinh
nghiệm, có bạn giao dịch và được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp đứng ra tiến hành các
bước giao dịch ký kết hợp đồng với nước ngoài còn phía ban liên doanh thường góp vốn
và đảm bảo hàng hoá.
- Xuất khẩu đổi hàng:
Nhập đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai loại chủ yếu của buôn bán đối lưu,
nó là hình thức xuất khẩu gắn liền với nhập khẩu. Thanh toán trong hợp đồng này không
phải dùng tiền mà chính bằng hàng hoá với mục đích xuất hàng không chỉ để thu lãi từ
hoạt động nhập mà còn nhằm để xuất được hàng.
Hoạt động này rất có lợi bởi cùng một hợp đồng có thể tiến hành cùng một lúc hoạt
động xuất khẩu và nhập khẩu do đó thu lãi từ hoạt động xuất và nhập khẩu này. Hàng
hoá xuất và nhập khẩu tương đương về giá trị, cân bằng về giá cả, nếu có sự chênh lệch
sẽ được thanh toán bù trừ tuỳ theo thoả thuận giữa hai bên. Doanh nghiệp xuất nhập
khẩu trực tiếp được tính cả kim ngạch xuất và kim ngạch nhập. Nhận doanh thu tiêu thụ
hàng xuất và hàng nhập nên chịu thuế doanh thu cả hàng xuất và hàng nhập.
Trong xuất khẩu đổi hàng, biên pháp đảm bảo thực hiện hợp dồng là:
*Dùng thư tín (L/C) đối ứng: đây là loại L/C mà trong nội dung của nó có điều khoản
quy định L/C này có hiệu lực khi người hưởng mở một L/C có kim ngạch tương đương
*Dùng người thứ ba khống chế chứng từ sở hữu hàng hoá, người thứ ba chỉ giao
chứng từ đó khi người nhận đổi lại một chứng từ sở hữu hàng hoá có giá trị tương
đương.
*Phạt về giao thiếu hay giao chậm.
b. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân:
Xuất khẩu là cơ sở của nhập khẩu là hoạt động kinh doanh để đem lại lợi nhuận lớn,
là phương tiện thúc đẩy kinh tế. Mở rộng xuất khẩu tăng ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập
khẩu và phát triển cơ sơ hạ tầng. Nhà nước ta luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh
tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích các ngành kinh tế theo hướng xuất khẩu, khuyến
khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu để giảI quyết công ăn việc làm tăng thu

- Xuất khẩu tạo ra những điều kiện kinh tế kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyên
năng lực sản xuất trong nước. Nói cách khác xuất khẩu với cơ sở tăng thêm vốn và kỹ
thuật công nghệ tiên tiến từ các quốc gia bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá
nước ta.
- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá Việt Nam sẽ tham gia cuộc cạnh tranh trên thị
trường quốc tế về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổ chức lại sản
xuất cho phù hợp với thị trường quốc tế.
- Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác
quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành.
. Xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân:
Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động, tạo ra nguồn vốn để
nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân. Sản xuất hàng hoá
xuất khẩu là lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao, chính vì vậy có thể mang lại mức lương
cao cho những lao động hoạt động trong lĩnh vực này, nâng cao mức sống cho người lao
động.

. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của
nước ta:
- Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế nước ta gắn chặt
với phân công lao động quốc tế. Thông thường hoạt xuất khẩu ra đời sớm hơn các hoạt
động kinh tế đối ngoại nên nó thúc đẩy các quan hệ khác phát triển. Chẳng hạn xuất
khẩu và sản xuất hàng hoá xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng đầy tư, vận tải quốc
tế…ngược lại, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại lại tạo điều kiện cho mở rộng sản
xuất .
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển
kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
II. Các nội dung chủ yếu của hoạt động kinh doanh xuất khẩu:
1, Nghiên cứu thị trưòng, ký kết hợp đồng xuất khẩu:
Nghiên cứu thị trường trong kinh doanh quốc tế là một loạt các thủ tục và kỹ thuật
được đưa ra để giúp các nhà kinh doanh có đầy đủ các thông tin cần thiết, từ đó đưa ra

xuất khẩu trở thành vật cản trở, kéo dài thời gian, gây rắc rối về mặt thủ tục, hạn chế
hoạt động xuất khẩu. Mặt khác tồn tại giấy phép xuất khẩu còn có giấy phép kinh doanh
xuất khẩu cũng là một thủ tục bắt buộc. Vì vặy ngày 15.12.1995, Chính phủ ra quyết
định 89/CP quy định giấy phép kinh doanh chuyển cho các doanh nghiệp muốn xuất
khẩu phục vụ hoạt động kinh doanh sản xuất đều phải xin giáy phép.
3. Chuẩn bị hàng xuất khẩu:
Hiện nay nước ta không chỉ có các doanh nghiệp thương mại lớn là công tác xuất
khẩu mà còn có nhiều các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là công tác xuất khẩu trực
tiếp với nước ngoài. Do vậy đối với các doanh nghiệp ngoại thương kinh doanh xuất
khẩu, chuẩn bị hàng xuất khẩu gồm các công đoạn sau:
- Thu gom tập trung thành lô hàng xuất khẩu.
- Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu.
- Kẻ ký mã hiệu hàng xuất khẩu.

4, Kiểm tra chất lượng hàng hoá xuất khẩu:
Đây là công việc cần thiết trong các công đoan thực hiện hợp động kinh
doanh xuất khẩu. Các nhà xuất khẩu, trước khi chuyển hàng đi, phải có nghĩa vụ kiểm
tra về phẩm chất, số lượng, trọng lượng …(hay còn gọi là kiểm nghiệm). Nếu là hàng
hoá thực vật phải kiểm tra khả năng lây lan bệnh tật (gọi là kiểm tra).Việc kiểm nghiệm
và kiểm tra phải được tiến hành ở hai cấp: cơ sở và cửa khẩu. Trong đó kiểm tra ở cơ sở
do phòng KCS tiến hành, có vai trò quyết định có tác dụng triệt để nhất. Kiểm tra ở cửa
khẩu có tác dụng kiểm tra lại kết quả ở cấp cơ sở.
5, Thuê tàu lưu cước:
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương, việc thuê tàu
chở hàng phụ thuộc vào các căn cứ sau đây:
- Những điều khoản của hợp đồng mua bán.
- Đặc điểm hàng hoá mua bán.
- Điều kiện vận tải.
Ví dụ: nếu điều kiện cơ sở giao hàng của hợp đồng là CIF thì đơn vị xuất khẩu phải
thuê tàu giao hàng.

Khi đã được cấp toa xe, chủ hàng tổ chức bốc xếp, niêm phong kẹp chì và các chứng từ
vận tải, trong đó chủ yếu là vận đơn đường sắt. Vận đơn đường sắt chuyển về phòng kế
toán để lập bộ chứng từ thanh toán.
- Nếu hàng được chuyên chở bằng Container thì giao theo hai phương thức
+ Hàng chiếm đủ một container thì chủ hàng phải đăng ký thuê container, chịu chi phí
chuyển container rỗng về cơ sở sản xuất của mình, đóng hàng vào container và chuyển
ra ga để giao hàng cho người vận tải.
+ Hàng chưa đủ một container thì chủ hàng phải làm đăng ký hàng chuyên chở xuất
trình cho người vận tải. Sau khi được chấp nhận chở hàng, chủ hàng đưa hàng đến ga
container để giao cho người vận tải. Cơ quan vận tải chịu trách nhiệm đóng hàng vào
container và bốc hàng lên tàu.
9, Thủ tục thanh toán:
Đây là khâu cuối cùng và là khâu thể hiện kết quả của quá trình kinh doanh xuất
khẩu. Do đặc điểm buôn bán với nước ngoài nên thanh toán trong thương mại quốc tế có
nhiều hình thức. Sau đay là hai phương thức thanh toán chủ yếu:
- Thanh toán bằng tín dụng ( L/C):
Thư tín dụng là một loại giấy phép mà ngân hàng bảo đảm hoặc hứa hẹn sẽ trả tiền.
Thanh toán tiền hàng bằng L/C là một phương thức thanh toán bảo đảm hợp lý, thuận
tiện, an toàn, hạn chế rủi ro cho cả bên mua và bên bán. Nếu trong hợp đồng xuất khẩu
quy định thanh toán bằng L/C thì: Người xuất khẩu đôn đốc người nhập khẩu mở L/C
đúng hạn mà nội dung như hợp đồng quy đinh. Sau khi nhận được L/C, người xuất khẩu
phải kiểm tra so sánh với nội dung và điều kiện ghi trong hợp đồng. Nếu có chỗ chưa
phù hợp thì yêu cầu người nhập khẩu sửa bằng văn bản. Có L/C người xuất khẩu tiến
hành thực hiện hợp đồng. Đến thời hạn giao hàng, cùng với việc giao hàng người xuất
khẩu phải lập bộ chứng từ hoàn hảo phù hợp với nội dung trong L/C.
- Thanh toán bằng phưong thức nhờ thu:
Nếu hợp đồng xuất khẩu quy định thanh toán bằng phương thức này thì ngay sau khi
giao hàng, bên xuất khẩu phải hoàn thiện việc lập chứng từ và phải xuất trình ngân hàng
để uỷ thác cho ngân hàng vay tiền hộ. Chứng từ thanh toán phải hợp lệ, chính xác và
nhanh chóng cho ngân hàng nhằm thu lại vốn.

thừa lao động, nhất là ở nông thôn trong thời gian nông nhàn, giúp họ có thêm thu nhập
góp phần xoá đói giảm nghèo.
Như vậy việc phát triển thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
không chỉ mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho băn thân các doanh nghiệp cho người
lao động mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội rộng lớn. Vì thế đề ra các biện pháp phù hợp
để khai thác khả năng của mặt hàng này là vấn đề cần thiết.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu.
a, Các yếu tố khách quan.
Các yếu tố khách quan là các yếu tố bên người doanh ngiệp như khách hàng, các đối
thủ cạnh tranh, luật pháp, chính trị Và doanh nghiệp không thể điều khiển chúng theo
ý muốn của mình. Doanh nghiệp chỉ có thể cố gắng thích ứng một cách tốt nhất sự vận
động của nó. Nừu không doanh nghiệp khôngnhững không phát triển được thị trường,
nâng cao được vị thế của mình mà còn có thể bị mất thị phần hiện tại hoặc bị đào thải
khỏi thị trường.
 Khách hàng và các yếu tố thuộc về văn hoá xã hội.
Đây là yếu tố đầu tiên và cũng là yếu tố quyết định đến khả năng tiêu thụ hàng hoá
nói chung và hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng.
Như ta đã biết, các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm phục cụ cho
tiêu dùng, chính vì vậy đời sống được nâng cao đã kéo theo sự giá tăng nhu cầu vè các
sản phẩm này, ở những nước có nền kinh tế phát triển như Châu Âu, Mỹ, Nhật, Hàn
Quốc nhu cầu về hàng thủ công mỹ nghệ khá lớn. Chỉ tính riêng mặt hàng gồm gốm sứ
hàng năm Nhật nhập khoảng 1 tỷ USD, năm 1997 Mỹ nhập 3,1 tỷ USD và năm 1998
nhu cầu nhập tăng lên 3,35 tỷ USD.
Khả năng tiêu thụ các sản phẩm thủ công mỹ nghệ còn rộng mở hơn nhất là khi
người tiêu dùng đang có xu hướng bảo vệ thiên nhiên, trở về gần gũi với thiên nhiên
thông qua việc sử dụng các sản phẩm được làm từ chất liệu thiên nhiên như các đồ dùng
mây tre cói, đay thay cho các sản phẩm từ plastic, thuỷ tinh, sợi nhân tạo Mặt khác sự
phát triển giao lưu kinh tế, văn hoá cũng góp phần đẩy mạnh tiêu thụ, truyền bá giới
thiệu mặt hàng này tới những thị trường giàu tiềm năng.
Tóm lại, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm thủ công mỹ nghệ nói chung có xu hướng

* Môi trường chính trị luật pháp.
Yếu tố chính trị có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp. Môi
trường chính trị ở trong nước cũng như ở thị trường xuất khẩu ổn định là điều kiện thuận
lợi cho doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh thuận lợi. Bên cạnh các yếu tố
luật pháp cũng như các quy định của chính phủ là các yếu tố mà doanh nghiệp buộc phải
tuôn theo nên chúng chi phói nhiều tới khả năng mở rộng thị trường cảu doanh nghiệp.
Chảng hạn việc quy định hạn chế khai thác gỗ sẽ gây nhiều khó khăn cho các doanh
nghiệp xuất khẩu các mặt hàng làm từ gỗ.
* Môi trường kinh tế.
Các yếu tố tốc độ phát triển kinh tế, tình hình lạm phát, sự ổn định tỉ giá, hệ thống
thuế thuộc môi trường kinh tế là yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Nền kinh tế của quốc gia tăng trưởng hay giảm sút sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống nhân dân qua thu nhập và cách phân bổ thu nhập, tác động tới khả năng mở
rộng hay thu hẹp quy mô thị trường của doanh nghiệp.
Ngoài ra ta còn có thể kể đến một yếu tố thuộc môi trường kinh doanh ảnh hưởng
đến khả năng xuất khẩu, tăng thị phần của doanh nghiệp như yếu tố khoa học công nghệ,
môi trường sinh thái địa lý.
b, Các yếu tố chủ quan.
* ý chí của ban lãnh đạo.
Hàng thủ công mỹ nghệ được doanh nghiệp chú ý phát triển ở thị trường nào trước
hết phụ thuộc vào mục tiêu của ban lãnh đạo và sự kiên định theo đuổi mục tiêu đó. Khả
năng kinh doanh ở mỗi thị trường có đội may rủi khác nhau và mỗi nhà lãnh đạo có thể
chấp nhận may rủi ở những mức độ khác nhau và điều này ảnh hưởng đến quyết định
chọn lựa cơ hội kinh doanh.
* Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp,
Là yếu tố quan trọng phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng vốn
mà doanh nghiệp huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối quản lý có hiệu quả các
nguồn vốn. Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp thường được xem xét qua các chỉ tiêu
như số vốn sở hữu, vốn huy động, tỉ lệ tái đầu tư từ lợi nhuận, khả năng chi trả nợ của
doanh nghiệp, thông thường doanh nghiệp có khả năng và nguồn lực về tài chính mạnh

Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của doanh
nghiệp nói chung và công tác phát triển thị trường nói riêng. Bởi vì chính con người thu
thập các thông tin đầu vào để hoạch định mục tiêu lựa chọn và thực hiện các chiến lược
thị trường của doanh nghiệp. Công việc được thực hiện tốt đến đâu phụ thuộc vào trình
độ của cán bộ nhân viên. Với đội ngũ cán bộ kinh doanh có tố chất năng động, am hiểu
về mặt hàng thủ công mỹ nghệ trong nước và quốc tế, có kinh nghiệm kinh doanh ngoại
thương sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng thích nghi với mọi thay đổi của nền kinh tế,
nhanh chóng phán đoán được tình thế, chớp được thời cơ tạo thế vững chắc trên thị
trường.

Chương ii : thực trạng hoạt động
xuất khẩu tại tocontap

I. Khái quát chung về Công ty TOCONTAP.
1, Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Công ty.

Công ty xuất nhập khẩu Tạp phẩm Hà Nội có tên giao dịch là Vietnam National
Sundries inport and export Company (Viết tắt là TOCONTAP).
Trụ sở : 36 Bà Triệu, Hà Nội.
Được thành lập ngày 5/3/1956 với tên gọi ban dầu là Tổng Công ty xuất nhập khẩu
Tạp phẩm trực thuộc Bộ Thương Mại, Công ty là một doanh ngiệp Nhà nước được phép
xuất nhập khẩu tất cả các mặt hàng mà luật pháp Việt Nam không cấm. Tuy nhiên trong
quá trình hoạt động, tổ chức của Công ty có nhiều thay dổi, một số bộ phận được tách ra
để thành lập các Công ty khác :
 Năm 1964 : Tách thành lập ARTEXPOT.
 Năm 1971 : Tách thành lập BAROTEX.
 Năm 1972 : Tách các cơ sở sản xuất giao cho Bộ công nghiệp nhẹ quản
lý.
 Năm 1978 : Tách thành lập TEXTIMEX.
 Năm 1985 : Tách thành lập MECANIMEX.

 Giấy và bột giấy các loại.
 Hàng nông, lâm, thuỷ hải sản.
 Hàng thủ công mỹ nghệ.
 Hàng may mặc vải.
 Giầy dép thành phẩm và bán thành phẩm.
 Da và các sản phẩm từ da.
 Các thiết bị điện dân dụng và công nghiệp.
 Các thiết bị dành cho điện ảnh,nhiếp ảnh, hàng điện tử dân dụng.
 Dụng cụ đồ chơi trẻ em,
 Hàng bảo hộ lao động.
 Đồ dùng tranh trí nội thất trong gia đình, nhà hàng khách sạn.
b, Nhiệm vụ của Công ty.
Là một doanh nghiệp Nhà nước, Công ty có nhiệm vụ bảo toànvà phát triển tổng số
vốn Nhà nước giao cho, thực hiện chế độ hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính.
Công ty có nhiệm vụ hoàn thành các chỉ tiêu do Bộ đề ra, có nghĩa vụ nộp ngân sách
cho Nhà nước.
Công ty phải tiến hành kinh doanh theo đúng luật pháp, chịu trách nhiệm về kinh tế
và dân sự, đối với các hoạt động kinh doanh và tài sản của mình.
Phát huy ưu thế, uy tín của hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế, củng cố và mở
rộng các mối quan hệ kinh tế, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng sản xuất trong và ngoài
nước.
c, Cơ cấu bộ máy tố chức.
Đứng đầu Công ty là tổng giám đốc, do Bộ Thương Mại bổ nhiệm và miễn nhiệm,
tổng giám đốc của Công ty hiện nay là bà Bùi Thị Tuệ. Tổng giám đốc điều hành trực
tiếp mọi hoạt động cảu Công ty đến tất cả các phòng, các cơ sở sản xuất kinh doanh
trong Công ty và chịu trách nhiệm trước Bộ Thương Mại.
Giúp việc cho tổng giám đốc có 2 phó tổng giám đốc. Một phó tổng giám đốc chịu
trách nhiệm điều hành các phòng ban quản lý. Một phó tổng giám đốc được uỷ nhiệm
duyệt các phương án kinh doanh của Công ty, các chi nhánh và các phòng nghiệp vụ
xuất nhập khẩu.

xuất kinh doanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status