1 Đề tài: “Gía trị thặng dư nguồn gốc, bản chất và
các hình thức chuyển hóa”
2A - LỜI MỞ ĐẦU
******
Giá trị thăng dư là mục tiêu của các nhà tư bản, làđiều kiện tồn tại và phát
triển của tư bản.
Bất kỳ một nền sản xuất nào muốn phát triển được, muốn đáp ứng nhu cầu
của con người vềđiều kiện sống đều phải tái sản xuất, mở rộng và phải tạo ra
được sản phẩm thặng dư. Bởi mức độ giàu có của xã hội tuỳ thuộc vào khối
lượng sản phẩm thặng dư. Xã hội càng phát triển thì sản phẩm thặng dư càng
nhiều. Song trong mọi xã hội, sản phẩm thặng dư bán trên thị trường đều có
giá trị, nhưng chỉ cóở nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thì giá trị của sản phẩm
chủ nghĩa trong sự thống nhất của nó như là quá trình lao động và quá trình
tăng thêm giá trị qua ví dụ về sản xuất sợi.
Giảđịnh sản xuất 10 kg sợi cần 10 kg bông, giá 10 kg bông là 10 đôla. Để
biến số bông đó thành sợi, một công nhân phải lao động trong 6 giờ và hao
mòn máy móc là 2 đôla; giá trị sức lao động trong một ngày của người công
nhân là 3 đôla; trong một giờ lao động người công nhân đã tạo ra một giá trị
là 0.5 đôla; cuối cùng, ta giảđịnh rằng trong quá trình sản xuất sợi đã hao phí
theo thời gian lao động xã hội cần thiết.
Với giảđịnh như vậy, nếu như quá trình lao động kéo dài đến cái điểm
màởđó bùđắp được giá trị sức lao động (6 giờ), tức là bằng thời gian lao động
cần thiết thì chưa có sản xuất giá trị thặng dư, do đó tiền chưa biến thành tư
bản.
Trong thực tế quá trình lao động không dừng lại ởđiểm đó. Giá trị sức lao
động mà nhà tư bản phải trả khi mua và giá trị mà sức lao động có thể tạo ra
cho nhà tư bản là hai đại lượng khác nhau mà nhà tư bản đã tính đến điều đó
trước khi mua sức lao động. Nhà tư bản đã trả tiền mua sức lao động trong
ngày. Vậy việc sử dụng sức lao động trong ngày đó thuộc về nhà tư bản.
4
Chẳng hạn, nhà tư bản bắt công nhân lao động trong 1 giờ một ngày thì :
Chi phí sản xuất Giá trị của sản phẩm mới
(20 kg sợi)
-
Tiền mua bông là 20 đôla.
tiền biến thành tư bản. Phần giá trị mới dôi ra so với giá trị sức lao động gọi là
giá trị thặng dư.
5
Phần II
NGUỒNGỐCVÀBẢNCHẤTCỦAGIÁTRỊTHẶNGDƯ
I - QUANĐIỂMCỦACÁCTRƯỜNGPHÁITRƯỚC MÁC
1. QUANĐIỂMCỦATRƯỜNGPHÁITRỌNGTHƯƠNG
Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào thời kỳ quáđộ mà nền kinh tế phong
kiến bước vào thời suy thoái và nền kinh tế TBCN bắt đầu hình thành. Nó ra
đời phản ánh những quan điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản và nóđược phát
triển rộng rãi ở các nước Tây Âu. Mặc dù thời kỳ này chưa biết đến quy luật
kinh tế và còn hạn chế về tính quy luật nhưng hệ thống quan điểm học thuyết
kinh tế trọng thương đã tạo ra nhiều tiền đề về kinh tế xã hội cho các lý luận
kinh tế thị trường sau này phát triển. Điều này được thể hiện ở chỗ họđưa ra
quan điểm sự giàu có không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị tiền
Học thuyết kinh tế trọng thương coi lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông
mua bán, trao đổi sinh ra. Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán
đắt mà có.
2. QUANĐIỂMCỦATRƯỜNGPHÁICỔĐIỂN
Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủ yếu là
trong lĩnh vực lưu thông. Do quá trình phát triển cuả công trường thủ công, tư
bản đã chuyển sang lĩnh vực sản xuất. Lúc này các vấn đề kinh tế của sản xuất
đã vượt quá khă năng giải thích của lý thuyết chủ nghĩa trọng thương và học
thuyết kinh tế cổđiển xuất hiện. Các nhà kinh tế học của trường phái này lần
đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản
cho rằng nguồn gốc của lợi nhuận là do toàn bộ tư bản đầu tưđẻ ra trong lĩnh
vực sản xuất và trong lĩnh vực lưu thông.
Ông thấy địa tô chênh lệch I do màu mỡđất đai và vị trí gần xa quyết định
nhưng không nghiên cứu địa tô chênh lệch II và phủ nhận địa tô tuyệt đối.
Những tư tưởng kinh tế của A.Đ Smith tuy còn hạn chế và mâu thuẫn, song
cũng gây tiếng vang lớn trong giới học giả kinh tế cổđiển. Ông được nhiều tác
giả hậu bối coi là "cha đẻ của kinh tế học".
c)Quan điểm của Ricacdo
Nếu như A.Đ Smith sống trong thời kỳ công trường thủ công phát triển
mạnh mẽ thì David Ricacdo sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Đó
7
làđiều kiện khách quan đểông vượt được ngưỡng giới hạn mà A.Đ Smith
dừng lại. Ông là người kế tục xuất sắc của A.Đ Smith. Theo C.Mac, A.Đ
Smith là nhà kinh tế của thời kỳ công trường thủ công còn Ricacdo là nhà tư
tưởng của thời đại cách mạng công nghiệp. Ông sử dụng phương pháp khoa
học tự nhiên, sử dụng công cụ trừu tượng hoá, đồng thời áp dụng các phương
pháp khoa học chính xác, đặc biệt là phương pháp suy diễn để nghiên cứu
kinh tế chính trị học.
Về lợi nhuận, Ricacdo cho rằng "Lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương
mà nhà tư bản trả cho công nhân". Ông đã thấy xu hướng giảm sút tỷ xuất lợi
nhuận và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vận động, biến
đổi thu nhập giữa ba giai cấp: địa chủ, công nhân và nhà tư bản. Vềđịa tô,
Ricacdo dựa vào quy luật giá trịđể giải thích địa tô, rằng địa tô hình thành
không trái với quy luật giá trị. Ông bác bỏ quan niệm cho rằng địa tô là sản
phẩm của những lực lượng tự nhiên hoặc năng xuất đặc biệt trong nông
thể so sánh được với nhau thành một thứ lao động đồng nhất có thể so sánh
với nhau được tức là phải quy lao động cụ thể thành lao động trừu tượng. Vì
vây lao động trừu tượng là một phạm trù lịch sử. Lao động trừu tượng tạo ra
giá trị của hàng hoá.
Trong nền sản xuất hàng hoáđơn giản, tính chất hai mặt của lao động sản
xuất hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao
động xã hội của những người sản xuất hàng hoá. Đó là mâu thuẫn cơ bản của
sản xuất hàng hoáđơn giản. Mâu thuẫn này còn biểu hiên ở lao động cụ thể
với lao động trừu tượngở giá trị sử dụng với giá trị hàng hoá. "Tính chất hai
mặt của lao động sản xuất hàng hoá làđiểm mấu chốt để hiểu biết kinh tế
chính trị học". Nó là sự phát triển vượt bậc so với các học thuyết kinh tế
cổđại.
1.
CÔNGTHỨCCHUNGCỦATƯBẢNVÀMÂUTHUẪNCHUNGCỦACÔNGT
HỨCTƯBẢN
Mác vàĂnghen cũng là người đầu tiên xây dựng nên lý luận về giá trị
thặng dư một cách hoàn chỉnh. Vì vậy, lý luận về giá trị thặng dưđược xem là
hòn đá tảng to nhất trong toàn bộ học thuyết của Mác. Qua thực tế xã hội tư
9
bản lúc bấy giờ Mác thấy rằng giai cấp tư bản ngày càng giàu thêm còn giai
cấp vô sản thì ngày càng nghèo khổ vàông đãđi tìm hiểu nguyên nhân vì sao
lại có hiện tượng này.
Cuối cùng ông phát hiện rằng nếu tư bản đưa ra một lượng tiền T đưa vào
quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá thì số tiền thu về lớn hơn số tiền ứng
ra.
Ta gọi là : T' (T' > T) hay T' = T + ΔT.
biến và tư bản khả biến.
Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trịđược bảo
tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng
trong quá trình sản xuất được C.Mác gọi là tư bản bất biến và gọi là kí hiệu là
c.
Còn bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá
trình sản xuất đã tăng thêm về lượng gọi là tư bản khả biến và kí hiệu là v.
Như vậy, ta thấy muốn cho tư bản khả biến hoạt động được thì phải có một
tư bản bất biến đãđược ứng trước với tỉ lệ tương đương. Và qua sự phân chia
ta rút ra tư bản khả biến tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng để mua sức lao
động. Còn tư bản bất biến có vai trò gián tiếp trong việc trong việc tạo ra giá
trị thặng dư. Từđây ta có kết luận: "Giá trị của một hàng hoá của một hàng
hoá bằng giá trị tư bản bất biến mà nó chứa đựng, cộng với giá trị của tư bản
khả biến (Tức là giá trị thặng dưđãđược sản xuất ra). Nóđược biểu diễn bằng
công thức : Giá trị = c + v + m.
Sự phân chia tư bản thành tư bản khả biến và tư bản bất biến đã vạch rõ
thực chất bóc lột TBCN, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra
giá trị thặng dư của nhà tư bản. Tư bản đã bóc lột một phần giá trị mới do
công nhân tạo ra. Nóđược biểu diễn một cách ngắn gọn qua quá trình Giá trị
= c + v + m.
Giá trị tư liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm: c
Giá trị sức lao động của người công nhân (mà nhà tư bản trả cho người
công nhân) : v.
11
M = m'.V = (m.V) : v
12
Mác đã chỉ ra trong giai đoạn phát triển đầu của chủ nghĩa tư bản khi kỹ
thuật còn thấp thì việc tăng giá trị thặng dư tuyệt đối bằng cách kéo dài tuyệt
đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động cần thiết không thay đổi.
nhưng phương pháp này còn hạn chế về mặt thời gian, về thể chất và tinh thần
người công nhân. sự bóc lột này đã dẫn đến nhiều cuộc bãi công, đấu tranh
của các nghiệp đoàn.
Nhà tư bản sản xuất ngày càng nhiều giá trị thăng dư bằng các rút ngắn
thời gian lao động cần thiết do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong
điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. phương pháp này không có giới
hạn.
Bên cạnh đó các nhà tư bản ngày nay đang tìm cách cải tạo kỹ thuật, đưa
kỹ thuật mới vào, nâng cao tay nghề công nhân, tạo điều kiện về tinh thần tốt
để tạo ra năng suất lao động cá biệt lớn hơn năng xuất lao động xã hội. Phần
giá trị thăng dư dôi ra ngoài giá trị thặng dư thông thường do thời gian lao
động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội cần thiết gọi là giá trị thặng
dư siêu bền. Phương pháp này là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu
ngạch.
4.CÁCHÌNHTHỨCBIỂUHIỆNCỦAGIÁTRỊTHẶNGDƯ
4.1 TIỀNLƯƠNG
Công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian nào đó, sản xuất ra một
lượng thời gian nào đó thì nhận được một số tiền công nhất định. Tiền trả
công đóđược gọi là tiền công. Hiện tượng đó làm người ta lầm tưởng rằng
tiền công là giá cả lao động.
Sự thật thì tiền công không phải là giá trị hay giá cả lao động. Vì lao động
không phải hàng hoá và không thể làđối tượng mua bán. Sở dĩ như vậy là vì:
a) Nếu lao động là hàng hoá thì nó phải có trước, phải được vật hoá
trong một số trường hợp cụ thể nào đó. Tiền đềđể cho lao động có
thể "vật hoá" là phải có tư liệu sản xuất. Nhưng nếu người lao động
phẩm sản xuất ra, điều đó khiến người ta tưởng lầm rằng tiền công
là giá cả công lao động.
14
Tiền công che đậy mọi giấu vết của sự phân chia ngày lao động thành thời
gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư, thành lao động được
trả công và lao động không được trả công, do đó tiền công che đậy mất bản
chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản.
Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thời gian và tiền
công tính theo sản phẩm.
a) Tiền công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của
nó phụ thuộc vào thời gian lao động của công nhân ( giờ, ngày, tuần,
tháng ). Vậy cần phân biệt tiền công giờ, công ngày, công tháng.
Tiền công ngày và công tuần chưa nói rõđược mức tiền công đó
thấp hay cao, vì còn tuỳ theo ngày lao động dài hay ngắn. Do đó,
muốn đánh giáđúng mức tiền công không chỉ căn cứ vào lượng tiền
mà còn căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường độ lao động.
Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác mức tiền công
theo thời gian. thức hiện chếđộ tiền công theo thời gian, nhà tư bản
có thể không thay đổi công ngày, công tuần, mà vẫn hạ thấp được
giá cả lao động do kéo dài ngày lao động hoặc tăng cường độ lao
động. Trả công theo thời gian còn có lợi cho các nhà tư bản khi tình
hình thị trường thuận lợi, hàng hoá tiêu thụ dễ dàng, thực hiện lối
làm việc thêm giờ, tức là làm việc ngoài số giờ quy định của ngày
lao động. Còn khi thị trường không thuận lợi buộc phải thu hẹp sản
xuất, nhà tư bản sẽ rút ngắn ngày lao động và thực hiện lối trả công
theo giờ, do đó hạ thấp tiền công xuống rất nhiều. Như vấy, công
nhân không những bị thiệt thòi khi khi ngày lao động bị kéo dài
dàng kiểm soát công nhân, đẻ ra sự cạnh tranh giữa công nhân, buộc
công nhân phải nâng cao cường độ lao động, và như vậy làm tăng
giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Một trong những chếđộ quan trọng
nhất của tiền công dưới chủ nghĩa tư bản là lao động khẩn trương
quá mức. Khi cường độ lao động vượt quá mức lao động nào đó, thì
bất cứ một sự bùđắp nào cũng không ngăn cản được sự phá hoại sức
khoẻ của người lao động. Cái gọi là "tổ chức lao động" chẳng hạn
như chếđộ Tay lo (Taylor), và chếđộ Pho (Ford) xét về mặt phương
16
pháp tiến hành là khoa học, song xét về thực chất là chếđộ tiền công
làm kiệt sức người lao động. Về mặt lịch sử, tiền công tính theo thời
gian được áp dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu phát triển của chủ
nghĩa tư bản, còn ở giai đoạn sau tiền công tính theo sản phẩm được
áp dụng rộng rãi. Hiện nay, hình thức tiền công tính theo thời gian
ngày càng được mở rộng.
4.2 LỢINHUẬN
Quá trình sản ra giá trị thặng dư chỉ là sự tiêu biểu qua sản phẩm còn thực
tếđể thu được tiền thì sự chuyển hoá giá trị thặng dư như thế nào. Vì công
thức chung của tư bản là T-H-T' nên mục đích cuối cùng của nhà tư bản là
thu được T' còn m là nền tảng để thu được T' (T' > T). Mác đã giúp chúng ta
giải quyết vấn đề này vìông đã tìm ra một đại lượng biểu hiện giá trị thặng
dưđó là lợi nhuận (P). Vậy:
"Giá trị thặng dư khi được đem so sánh với tổng tư bản ứng trước thì
mang giá trị hình thức biến tướng thành lợi nhuận" từđó ta có thể thấy P chính
là con đẻ của tổng tư bản ứng trước c + v.
Để hiểu rõ hơn về P chúng ta có thểđi sâu và phân tích chi phí thực tế xã
hội và chi phí sản xuất TBCN xuất phát từ giá trị hàng hoá c + v + m.
4.3 TỈXUẤTLỢINHUẬN
Về tỉ xuất lợi nhuận (P) là tỉ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư
và toàn bộ tư bản ứng trước.
P' = m' . 100% : (c + v).
Tỉ xuất lợi nhuận không phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản mà nó
nói lên mức lãi của việc đầu tư. Nó cho nhà tư bản biết họđầu tư vào đâu thì
có lợi . Do đó việc thu P và theo đuổi P làđộng lực thúc đẩy nhà tư bản, là
mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản.
Do mục tiêu làđạt được lợi nhuận cao nhất nên giữa các nhà tư bản luôn
luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt. Các quá trình cạnh tranh của các nhà tư
bản được Mác phân chia thành 2 loại : cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh
tranh giữa các ngành.
18
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong
cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ
hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Do bản chất của cạnh tranh chính là một hình thức đấu tranh gay gắt giữa
những người sản xuất hàng hoá dựa trên chếđộ tư hữu về tư liệu sản xuất,
nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất của sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá. Vì vậy cho nên cạnh tranh trong nội bộ ngành buộc các xí nghiệp giảm
giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội để giành thắng lợi trong
cạnh tranh. Kết quả là do điều kiện sản xuất bình quân trong một ngành thay
đổi, giá trị xã hội của hàng hoá giảm xuống.
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà tư bản ở các ngành
sản xuất khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Ở các ngành sản xuất
khác nhau có những điều kiện khác nhau, do đó tỉ suất lợi nhuận cũng khác
nhau. Các nhà tư bản chọn ngành có lợi nhuận cao đểđầu tư.
phần bởi vì tư bản thương nghiệp chỉ hoạt động trong lĩnh vực lưu thông, đó
là một khâu, một giai đoạn của quá trình sản xuất, không có giai đoạn đó thì
quá trình tái sản xuất không thể tiếp diễn tiếp tục được. Và dĩ nhiên nhà tư
bản thương nghiệp cũng không phải là hoạt động không công được mà họ
cũng đòi hỏi phải có lợi nhuận. Điều này bắt buộc nhà tư bản công nghiệp
phải nhường một phần lợi nhuận của mình cho tư bản thương nghiệp.
Vậy "lợi nhuận thương nghiệp là số chênh lệch giữa giá bán và giá mua
hàng hoá ".
Nhưng điều đó không có nghĩa là tư bản thương nghiệp bán hàng hoá
cao hơn giá trị của nó, mà là nhà tư bản thương nghiệp mua hàng hoá thấp
hơn giá trị và khi bán thì anh ta bán đúng giá trị của nó. Vì nhà tư bản thương
nghiệp tham gia vào việc phân chia m nên đời sống của xã hội tư bản hình
thành hai loại giá cả sản xuất : giá cả sản xuất thương nghiệp và giá cả sản
xuất thực tế. Sự hình thành P thương nghiệp đã che giấu thêm một bước quan
hệ bóc lột TBCN. Do việc phân phối P giữa tư bản công nghiệp và tư bản
thương nghiệp diễn ra theo quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân thông qua
cạnh tranh
20
4.5. LỢITỨC
Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ mà người chủ của nó nhường cho một người
khác sử dụng trong một thời gian để nhận được một số lời nào đó. số lời đó
gọi là lợi tức.
Tư bản cho vay dưới thời CNTB là một bộ phận của tư bản công ngiệp tách
ra . Sở dĩ như vậy là vì sự xuất hiện và tồn tại của tư bản cho vay vừa là sự
cần thiết và vừa có khả năng thực hiện. điều đóđược thực hiện ở chỗ : trong
quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tư bản công nghiệp , luôn có số tư bản
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, mà tư bản nhàn rỗi không sinh lời. Nhưng đối với tư
tô TBCN vàđịa tô phong kiến cóđiểm giống nhau và khác nhau.
Sự giống nhau trước hết là quyền sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt
kinh tế. Đồng thời, cả hai loại địa tôđều là kết quả của sự bóc lột đối với
những người lao động.
Song hai loại địa tô khác nhau về lượng và chất.
a) Về mặt lượng:Địa tô phong kiến gồm toàn sản phẩm thặng dư do nông
dân tạo ra, có khi còn lạm sang cả sản phẩm cần thiết. Còn địa tô
TBCN chỉ là một phần giá trị thặng dư ngoài lợi nhuận bình quân của
nhà tư bản kinh doanh ruộng đất.
b) Về mặt chất:Địa tô phong kiếnphản ánh mối quan hệ giữa hai giai cấp:
địa chủ và nông dân, trong đó giai cấp địa chủ trực tiếp bóc lột của
nông dân. Còn địa tô TBCN phản ánh mối quan hệ giữa ba giai cấp:
Giai cấp địa chủ, giai cấp tư bản kinh doanh ruộng đất và công nhân
nông nghiệp làm thuê, trong đóđịa chủ gián tiếp bóc lột công nhân
thông qua tư bản hoạt động.
Vấn đềđặt ra là : tại sao nhà tư bản kinh doanh có thể thu được phần giá trị
thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân để trả cho ruộng đất? Việc nghiên
cứu địa tô chênh lệch vàđịa tô tuyệt đối sẽ trả lời cho việc đó.
2 - Các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa và sự hoạt động
a/ Địa tô chênh lệch
22
Trong các phần trên, chúng ta đã nghiên cứu và thấy rằng lợi nhuận siêu
ngạch trong công nghiệp chỉ là một hiện tượng tạm thời, không ổn định với
nhà tư bản cá biệt nào đó do họ có những điều kiện sản xuất tốt hơn điều kiện
sản xuất trung bình của xã hội. Lợi nhuận siêu ngạch này lại xuất hiện ở các
Có hai loại địa tô chênh lệch: địa tô chênh lệch I vàđịa tô chênh lệch II.
Địa tô chênh lệch I làđịa tô thu được trên những trên những ruộng đất
cóđộ màu mỡ tự nhiên thuận lợi (trung bình và tốt), có vị trí gần với nơi
tiêu thụ hay gần đường giao thông.
Địa tô chênh lệch II làđịa tô thu được nhờ thâm canh mà có. Thâm canh
ruộng đất làđầu tư thêm tư bản vào một đơn vị diện tích để nâng cao chất
lượng canh tác, nhằm tăng độ màu mỡ trên mảnh ruộng đó, nâng cao sản
lượng trên một đơn vị diện tích.
Chừng nào mà còn thời hạn hợp đồng thuê ruộng thì nhà tư bản kinh
doanh bỏ túi số lợi nhuận siêu ngạch. Nhưng khi hết hạn hợp đồng, chủ ruộng
sẽ tìm cách nâng mức địa tôđể chiếm lấy số lợi nhuận siêu ngạch đó, tức là
biến lợi nhuận siêu ngạch thành địa tô chênh lệch.
Vì lẽđó mà chủ ruộng đất chỉ muốn cho thuê ruộng trong thời hạn ngắn,
còn nhà tư bản kinh doanh thì muốn thuê với thời gian dài hơn. Cũng vì lẽđó
mà nhà tư bản kinh doanh không muốn đầu tư vốn lớn để cải tiến kỹ thuật, cải
tạo đất đai, vì làm như vậy phải mất một thời gian dài mới thu hồi được số
vốn lớn đã bỏ ra, rốt cuộc chủ ruộng sẽđược hưởng những lợi ích do việc cải
tiến đem lại. Vì vậy, trong thời hạn thuê ruộng, nhà tư bản kinh doanh tìm
mọi cách tận dụng hết độ màu mỡ của đất để thu được lợi nhuận nhiều hơn.
Đó là mục đích kinh doanh của họ. Điều này giúp chúng ta dễ dàng đi đến kêt
luận làđất đai trong điều kiện canh tác theo lối TBCN thìđộ màu mỡ ngày
càng giảm sút.
b/ Địa tô tuyệt đối
Khi nghiên cứu địa tô chênh lệch, ta thấy hình như những nhà kinh doanh
trên ruộng đất xấu không phải nộp tô cho chủ ruộng. Nhưng thực tế trong điều
kiện chếđộ tư hữu TBCN về ruộng đất thì chủ ruộng có ruộng đất xấu vẫn thu
24