Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thăng long - Pdf 11


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Với nhu cầu đáp ứng mục tiêu kinh doanh,cơ cấu vốn,mua sắm trang thiêt bị,xây dựng
cơ sở hạ tầng và phát triển kinh doanh ngày một rộng hơn,nhiều và nhanh hơn. Bên
cạnh đó cùng với sự tăng trưởng của niền kinh tế,nhu cầu vốn đang là vấn đề cấp thiết
đối với tất cả các doanh nghiệp,cá nhân,tổ chức,…có hoạt động kinh doanh.
Do đó vai trò của các ngân hàng(NH), các tổ chức tín dụng-người trực tiếp cung cấp
nguồn vốn tới nền kinh tế ngày một quan trọng hơn,là một thành phần không thể thiếu
trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường,có nhiệm vụ tham gia bình ổn thị
trường tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, tạo công
ăn việc làm cho người lao động
Các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam những năm gần đây đã có những bước
phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, mạng lưới, quy mô hoạt động và năng
lực tài chính, góp phần tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền. Ngoài hệ thống
ngân hàng quốc doanh còn có các ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên
doanh,… Các nghiệp vụ cũng đổi mới, tiên tiến,hiện đại hóa và từng bước tiếp cận
với công nghệ hiện đại trên thế giới.Với hoạt động chính là tín dụng,dịch vụ đa dạng,
các ngân hàng đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu của khách hàng, góp phần đáng kể
vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.
Trong điều kiện hiện nay hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản nhất, chủ yếu nhất
trong toàn bộ các hoạt động của NHTM. Hoạt động đó đã tạo ra phần lớn tài sản trong
tổng tài sản của các NHTM và là hoạt động tạo ra nguồn thu nhập chính của mỗi
NHTM dưới hình thức thu nhập từ lãi cho vay. Tuy nhiên hoạt động này luôn tiềm ẩn
nhiều rủi ro, có thể gây tổn thất lớn, dẫn đến mất khả năng thanh toán hay phá sản
ngân hàng. Chính vì vậy mà "chất lượng tín dụng" luôn là vấn đề "sống, còn" trong
hoạt động kinh doanh mà bất cứ ngân hàng nào cũng phải đặc biệt quan tâm trong suốt
quá trình tồn tại và phát triển
Việc phân tích một cách chính xác, khoa học các nguyên nhân phát sinh rủi ro tín
dụng,từ đó đề ra những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng vừa
mang tính cấp bách vừa mang tính chiến lược lâu dài và được nhiều người quan tâm

Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NH Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn- Chi nhánh Thăng Long
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại NH Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn- Chi nhánh Thăng Long
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT
LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG-HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm,đặc điểm,vai trò,chức năng của tín dụng ngân hàng
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ,hoạt động của NHTM là
tìm kiếm các khoản vốn(huy động vốn)để sử dụng nhằm thu lợi nhuận.Việc sử sụng
vốn chính là quá trình tạo nên các loại sản phẩm khác nhau của ngân hàng ,trong đó
cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quan trọng nhất.Do đặc thù đó nên phần lớn
tài sản của ngân hàng là các loại tài sản chính gồm;các hợp đồng cho vay,hợp đồng
thuê,mua các chứng khoán,các loại tiền gửi…Mỗi loại tài sản được hình thành theo
các hình thức khác nhau,song đều tập trung đảm bảo sinh lời cho ngân hàng
Tín dụng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của các quan hệ hàng
hóa tiền tệ.Nó tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất khác nhau ,ở bất kỳ phương
thức sản xuất nào,tín dụng cũng biểu hiện bên ngoài như là sự vay mượn,sử dụng vốn
lẫn nhau giữa các chủ thể trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất
định , là một loại quan hệ xã hội trước hết dựa vào lòng tin.Tín dụng phản ánh quan hệ
kinh tế giữa người đi vay và người cho vay ,giữa họ có mối quan hệ với nhau thông
qua sự vận động của vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức hàng hóa là tiền và
tiền tệ
Hoạt động tín dụng rất phong phú ,đa dạng với nhiều hình thức khác nhau như: tín
dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng và các hình

thức tín dụng kết hợp khác Do đó,quan hệ tín dụng có sự khác nhau về tính chất,đặc

- Vốn tín dụng là bộ phận không thể thiếu trong quá trình vận động của mọi hoạt động
xã hội nói chung và các hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng. Tuy nhiên, do tính
độc lập tương đối của tiền tệ trong mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ, cho nên người ta
thường quan niệm vốn tín dụng ngân hàng có tính độc lập tương đối với quá trình tái
sản xuất xã hội. Bởi vì trong quá trình vận động, vốn tín dụng ngân hàng có thể tham
gia vào bất cứ một giai đoạn nào của chu kỳ vận động, song dường như đều dễ nhìn
thấy đó là ở giai đoạn đầu (dưới hình thức các nhu cầu chi phí bằng tiền) và giai đoạn
kết thúc (dưới hình thức các khoản thu nhập bằng tiền của quá trình tái sản xuất). Do
đó khi nền kinh tế ở trạng thái cân bằng (cân đối hàng hóa - tiền tệ) nguồn vốn tín
dụng vận động theo sự vận động của các nguồn vốn của quá trình tái sản xuất (T - H
hoặc H - T). Nhưng khi nền kinh tế phát triển đến một mức nhất định tất yếu nảy sinh
mâu thuẫn trong quá trình chu chuyển vốn là nhu cầu vốn bằng tiền không tương thích
với nhu cầu hàng hóa trong trao đổi. Khi đó với chức năng "trung gian tín dụng" và
với các công cụ huy động vốn, cho vay, thanh toán để góp phần đưa nền kinh tế về
trạng thái cân bằng theo các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế trong từng giai đoạn.Cho
nên trong thực tế tín dụng ngân hàng thường được coi là một công cụ hữu hiệu để thúc
đẩy tăng trưởng, hoặc điều chỉnh, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.
- Phạm vi hoạt động của tín dụng ngân hàng là toàn bộ nền kinh tế. Trong nền kinh tế
thị trường hầu như mọi quan hệ trao đổi đều có thể "tiền tệ hóa ", do vậy với công cụ
thực hiện chủ yếu là "quyền sử dụng tiền tệ" nên tín dụng ngân hàng có thể tham gia
vào mọi quan hệ xã hội. Có nghĩa là tín dụng ngân hàng có thể thỏa mãn nhu cầu sử
dụng tiền cho mọi đối tượng, mọi phạm vi, mọi khoảng thời gian của toàn xã hội. Tuy
nhiên sự thỏa mãn đó phải nằm trong sự điều chỉnh chung của nhà nước và sự ràng
buộc của pháp luật trong từng giai đoạn, tình hình cụ thể của nền kinh tế
1.1.3. Vai trò tín dụng ngân hàng
Khi nền kinh tế sản xuất hàng hoá ra đời thì quan hệ tín dụng cũng được hình thành và
phát triển . Nền kinh tế càng phát triển bao nhiêu thì kéo theo thị trường tài chính tiền
tệ cũng phát triển một cách thích ứng. Trong nền kinh tế thị trường tiền tệ là một phạm
trù kinh tế, mọi quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá là yếu tố cần thiết của quá trình


1.1.4. Chức năng của tín dụng ngân hàng

Nhìn tổng thể tín dụng có hai chức năng:
- Huy động và phân phối nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức cho vay.
- Giám đốc và kiểm soát bằng đồng tiền đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Dùng tiền để xây dựng các chỉ tiêu, thước đo để tiến hành quản lý doanh nghiệp với
các mục tiêu: Sử dụng vốn hiệu quả , hợp pháp và hợp lệ.
1.1.5.Phân loại tín dụng ngân hàng
Có thể nói chung hoạt động tín dụng Ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ: Cho vay,
chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính….
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên số tiêu thức nhất
định.Phân loại tín dụng một cách khoa học sẽ giúp cho quản lý lập một quy trình tín
dụng thích hợp,giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Trong quá trình phân loại có thể dùng nhiều tiêu thức ,Ứng với mỗi tiêu thức khác
nhau người ta phân loại cho vay khác nhau, ta có thể dựa trên những tiêu thức sau:
 Theo kỳ hạn nợ.
 Theo mục đích sử dụng vốn.
 Theo hình thức đảm bảo tiền vay.
 Theo phương pháp hoàn trả .
 Theo loại hình tiền tệ.
1.1.5.1. Theo kỳ hạn nợ cho vay của Ngân hàng thương mại được phân làm ba loại:
Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn
 Cho vay ngắn hạn.
Là loại cho vay có kỳ hạn dưới 1 năm và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu
động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Khoản cho
vay ngắn hạn chủ yếu tài trợ cho các hoạt động sau:
-Cho vay mua hàng dự trữ.
Từ trước tới nay, ngân hàng thường cho các hãng vay ngắn hạn bổ xung tạm thời vốn
hoạt động. Các khoản cho vay này chủ yếu được sử dụng để tài trợ cho việc mua hàng
dự trữ như nguyên liệu thô Các khoản cho vay như vậy tận dụng được chu kỳ tiền

- Cho vay kinh doanh bán lẻ.
Các ngân hàng hỗ trợ người tiêu dùng trong việc mua trả góp xe máy, đồ dùng gia
đình, nội thất và các hàng hoá lâu bền khác bằng cách tài trợ cho các khoản phải thu

mà người bán những hàng hoá này sẽ nhận được sau khi họ ký hợp đồng bán trả góp.
Hợp đồng trả góp sẽ được ngân hàng của người bán lẻ xem xét. Nếu đáp ứng các yêu
cầu tín dụng, ngân hàng sẽ mua những hợp đồng này với một mức lãi suất thay đổi tuỳ
theo chất lượng tín dụng người vay vốn, chất lượng của vật thế chấp và thời hạn của
mỗi khoản vay.
- Cho vay trên tài sản.
Trong những năm gần đây, những khoản cho vay trên tài sản là khoản tín dụng được
đảm bảo bằng các tài sản ngắn hạn của hãng được dự tính sẽ chuyển thành tiền mặt
trong tương lai. Tài sản chủ yếu được dùng để bảo đảm cho các khoản vay bao gồm
các khoản phải thu, nguyên vật liệu hoặc thành phẩm tồn kho. Ngân hàng cho vay
theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị ghi sổ của tài khoản phải thu, hoặc trên
giá trị hàng tồn kho. Khi thu hồi được các khoản phải thu hoặc bán được hàng doanh
nghiệp sẽ chuyển một phần tiền mặt thu về tới ngân hàng để trả nợ tiền vay.
 Cho vay trung hạn.
Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, loại tín dụng này chủ yếu được sử dụng để
đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ mở rộng sản
xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và có thời gian thu hồi vốn
nhanh.
 Cho vay dài hạn.
Là loại cho vay có thời hạn từ 5 năm trở lên, loại cho vay này chủ yếu để đáp ứng nhu
cầu dài hạn như: Xây dựng nhà ở, các thiết bị phương tiện vân tải có quy mô lớn, xây
dựng các xí nghiệp mới. Loại cho vay này tài trợ cho các loại:
+ Cho vay kỳ hạn mua thiết bị và các tài sản cố định khác.
+ Cho vay luôn chuyển.
+ Cho vay theo dự án.
+ Cho vay tài trợ hoạt động mua lại công ty.

uy tín của chính khách hàng hay người ta còn gọi là tín chấp. Khách hàng được ngân
hàng cho vay theo hình thức này thường là những khách hàng truyền thống của ngân
hàng có uy tín và độ tin cậy cao.

1.1.5.4. Theo phương thức hoàn trả.
Theo phương thức này ta có thể phân loại cho vay thành hai loại
 Cho vay trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn, gốc và lãi theo
định kỳ, trả dần trong suốt kỳ hạn thực hiện hợp đồng. Kỳ hạn hoàn trả có thể hàng
tháng, hàng quý , nửa năm hoặc một năm.
 Cho vay trả một lần: Là loại cho vay trả một lần theo kỳ hạn đã thoả thuận.
1.1.5.5. Theo loại hình tiền tệ.Bao gồm
 Cho vay bằng ngoại tệ.
 Cho vay bằng nội tệ.
 Cho vay bằng vàng.”
1

1.2. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.2.1. Khái niệm về chất lượng tín dụng
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng
số tiền đó để cho vay,thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Bởi NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nên tất yếu cũng phải quan tâm đến
chất lượng sản phẩm của mình, đặc biệt là chất lượng tín dụng.
Hoạt động tín dụng là một hoạt động sinh lời chủ yếu của Ngân hàng trong nền kinh
tế thị trường, nhưng cũng là nơi chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Chính vì thế vấn đề chất
lượng tín dụng là vấn đề quan trọng, sống còn đối với tất cả các Ngân hàng. Tuy vậy
để đưa ra một khái niêm đúng về chất lượng tín dụng không phải là dễ, bởi lẽ mỗi khái
niệm đưa ra đòi hỏi phải chỉ ra nó xuất phát từ đâu trên quan điểm nào. Như ta đã biết
mỗi quan điểm khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về chất lượng tín dụng.
 Chất lượng tín dụng theo quan điểm của khách hàng.

nền kinh tế, các hoạt động như tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển theo chiều
sâu sẽ được tiến hành và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế. Như vậy đứng trên
quan điểm của xã hội để đánh giá chất lượng tín dụng thì chất lượng tín dụng là: Sự
đáp ứng cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà các khoản tín dụng của Ngân hàng
đem lại.

1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tín dụng của ngân hàng thương mại.
Một trong những rủi ro đáng sợ đối với Ngân hàng là rủi ro tín dụng và nó cũng là một
trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán của Ngân
hàng, bằng chứng là đã xảy ra những cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới Có thể
nói bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng có thể lâm và tình trạng đó, vì thế vấn
đề nâng cao chất lượng tín dụng không chỉ đối là cần thiết đối với Ngân hàng, với
khách hàng mà còn đối với toàn xã hội nữa.
 Về phía Ngân hàng:
Ngân hàng thương mại giống như các nhà kinh doanh: bỏ vốn của mình ra và mong
muốn thu được lợi nhuận và thu hồi vốn. Như vậy đảm bảo chất lượng cho các khoản
vay và cho vay bản thân nó đối với Ngân hàng đã là một nhu cầu cấp thiết. Đặc biệt
đối với các Ngân hàng thương mại ở Việt nam hiện nay không còn là cái bóng của
Ngân hàng Trung Ương mà đã và đang dần trở thành một chủ thể kinh doanh độc lập,
tự kiếm lợi nhuận lời ăn lỗ chịu, chịu trách nhiệm với khách hàng, với Ngân hàng
Trung Ương. Do vậy mà Ngân hàng không thể không cần đến sự an toàn với các
khoản vay.
Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ để chuyển sang một nền kinh
tế thị trường. Bản thân mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chưa thoát khỏi tư tưởng bao
cấp, tư duy về nền kinh tế thị trường còn nhiều hạn chế, do đó việc làm ăn của các
doanh nghiệp có nguy cơ dẫn đến rủi ro là rất lớn. Vì thế để nâng cao chất lượng tín
dụng Ngân hàng không chỉ là người cung cấp vốn cho các doanh nghiệp mà Ngân
hàng còn phải là người hiểu rõ hơn ai hết về lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, có
như thế thì Ngân hàng mới mở rộng được các dịch vụ của mình như dịch vụ tư
vấn giúp doanh nghiệp tránh khỏi được những rủi ro không đáng có.

Các chỉ tiêu định tính - những chỉ tiêu hết sức quan trọng có tính chất quyết định đối
với chất lượng và độ an toàn, hiệu quả của tín dụng ngân hàng:
Để đánh giá chất lượng tín dụng của một đơn vị được qui định trong Văn bản
3653/NHCS-TDNN ngày 19/11/2012 , một số chỉ tiêu định tính sau đây :
-Triển khai các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ tín dụng.
-Tổ chức, điều hành hoạt động tín dụng.

-Công tác lập kế hoạch tín dụng (tháng/quí/năm): cụ thể/chi tiết không?
Hoạt động kiểm tra, đối chiếu:
Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá tình hinh, quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng của Ngân
hàng.
Khi cho vay vốn Ngân hàng phải tuân thủ 3 nguyên tăc đó là:
-Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích.
-Vốn vay phải được đảm bảo bằng giá trị vật tư hàng hoá tương đương.
-Vốn vay phải được hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn cam kết.
Ba nguyên tắc tín dụng trên hình thành một quy luật nội tại của tín dụng. Trên thực tế
cho thấy, một khi cả ba nguyên tắc ấy, hoặc một trong ba nguyên tắc ấy bị coi nhẹ,
hoặc quá nhấn mạnh nguyên tắc này xem nhẹ nguyên tăc kia sẽ dẫn đến tình trạng
khách hàng mất khả năng thanh toán, phá sản, đổ bể một dự án, một doanh nghiệp,
một Ngân hàng. Khi nói đến chất lượng tín dụng chúng ta phải xem xét đến chất lượng
tuân thủ nghiêm ngặt cả ba nguyên tắc trên.
1.2.3.2. Nhóm chỉ tiêu định lượng.
Theo văn bản 3653/NHCS-TDNN ngày 19/11/2012 của Tổng giám đốc NHCSXH về
việc xây dựng Phương án, Đề án củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng. Một số chỉ
tiêu chủ yếu để đánh giá chất lượng tín dụng gồm:
Tỷ lệ nợ quá hạn.
Tổng dư nợ = Tổng doanh số cho vay - Tổng doanh số thu nợ
Tỷ lệ nợ Nợ quá hạn
= *100%
quá hạn Tổng dư nợ

hiệu quả, góp phần mở rộng và tăng cường sự ổn định hoạt động của Ngân hàng.
Tỷ lệ sử dụng vốn Sai mục đích =
Số tiền vay sử dụng sai mục đích
Tổng số tiền dư nợ
Một trong những nguyên tắc vay vốn Ngân hàng là phải sử dụng vốn đúng mục đích
như đã thoả thuận. Nếu như sử dụng vốn sai mục đích thì điều đó chứng tỏ có hành vi
lừa dối Ngân hàng và khoản cho vay này có nguy cơ mất khả năng hoàn trả cao. Tỷ lệ
sử dụng vốn sai mục đích càng cao thì chất lượng cho vay bị đánh giá càng thấp và
ngược laị.
Các Chỉ tiêu lợi nhuận.

Như đã đề cập, lợi nhuận do hoạt động tín dụng mang lại chiếm một tỷ trọng lớn trong
tổng thu nhập của Ngân hàng. Vì vậy lợi nhuận tăng hàng năm, điều đó chứng tỏ chất
lượng cho vay đã được tăng lên hoặc Ngân hàng thương mại đã mở rộng công tác cho
vay. còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Chính sách thu nhập, chi phí của Chính phủ,
chính sách lãi suất, chính sách khách hàng Chất lượng tín dụng không thể nói là tốt
nếu lợi nhuận thu được từ nguồn này là thấp.Ta có 2 chỉ tiêu
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản tín dụng trung dài hạn của ngân
hàng, cho biết một đồng dư nợ cho vay trung, dài hạn mang lại bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Tỷ lệ cao tức lợi nhuận tín dụng trung dài hạn lớn, chất lượng cao.
(2) =
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Tổng lợi nhuận từ hoạt động ngân hàng
Chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng trung dài hạn vào toàn
bộ kết quả sản xuất kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ cao phản ánh chất lượng tín dụng
khả quan nhưng đồng nghĩa với việc ngân hàng chấp nhận đối mặt với nguy cơ rủi ro
tiềm tàng.
- Ngoài ra lượng khách hàng trung dài hạn có hiệu quả tăng chứng tỏ ngân hàng đã
làm tốt công tác nâng cao chất lượng tín dụng, thu hút khách hàng hiện tại và tiềm
năng chính là một lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng.

mại do nóng vội mở rộng đầu tư, nâng cao dư nợ, đẩy tỷ lệ tăng trưởng tín dụng vượt
quá mức tăng trưởng kinh tế trên địa bàn đều phải trả giá cho sự nóng vội.
1.3.1.2. Môi trường pháp lý.chính trị
Bất kỳ một nền kinh tế nào muốn ổn định và phát triển thì cũng cần có một hành lang
pháp lý thích hợp, hành lang pháp lý chính là bàn tay hữu hình của Nhà nước tác động
vào nền kinh tế nhằm hướng nền kinh tế phát triển theo đúng mục tiêu, chế độ của
mình. Hoạt động Ngân hàng là một trong những hoạt động kinh tế trong tổng thể nền
kinh tế vì vậy nó cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống Pháp luật nhất là Luật các tổ chức
tín dụng. Nói đến môi trường pháp lý là nói đến tính đồng bộ của hệ thống pháp luật,
tính đầy đủ, tính thống nhất của các văn bản dưới luật, đồng thời gắn liền với quá trình
chấp hành pháp luật và trình độ dân trí.
Việc hoàn chỉnh cơ chế, thể hiện tín dụng của ngành đúng với Luật Ngân hàng, phù
hợp với thực tiễn là một điều quan trọng để nâng cao chất lượng tín dụng.
"!  !#"!!! "!"! 
  !! 

Hiện nay nước ta có nhiều bộ luật, tuy nhiên vẫn còn có nhiều bất cập chưa sát với
thực tế gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế xã hội nói chung và hoạt động tín dụng
Ngân hàng nói riêng.
1.3.1.3. Các yếu tố khách quan đến từ tự nhiên:Thiên tai,bão lũ,dịch họa……
Các yếu tố trên tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng song lại là mối lo ngại
tới toàn bộ khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng,do đó nó ảnh hưởng lớn tới
chất lượng dịch vụ của ngân hàng và ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng trong thời
gian vay vốn
Đây là nhân tố gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng cũng như
chất lượng của nền kinh tế. Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thiên
tai hỏa hoạn, bệnh dịch thường xuyên xảy ra. Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng lớn đến
một số ngành, đặc biệt là những ngành có liên quan đến nông nghiệp, thủy sản, hàng
hải,… Vì thế, việc đầu tư vào những ngành có thể dẫn đến những rủi ro do môi trường
tự nhiên gây ra, làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng ngân hàng.

Trong quá trình khách hàng sử dụng vốn vay thì ngân hàng phải thường xuyên kiểm
tra xem nguồn vốn của mình có được sử dụng đúng mục đích không, rà soát và kịp
thời phát hiện những sai phạm, có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế rủi ro, góp phần
nâng cao chất lượng tín dụng.
Thu nợ và khâu thanh lý nợ là khâu để ngân hàng tồn tại và phát triển được, đây là kết
quả cuối cùng của công tác cho vay, do đó cán bộ tín dụng phải tích cực trong công tác
thu hồi vốn và lãi tiền vay, hạn chế nợ quá hạn.
Việc ngân hàng có thông tin tín dụng tốt,hồ sơ tín dụng đầy đủ,làm tốt các bước của
quy trình tín dụng sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng bảo toàn vốn, nâng cao được chất
lượng tín dụng.
- Kiểm soát nội bộ:Kiểm soát nội bộ giúp cho các lãnh đạo có được các thông tin về
tình hình cho vay của các cán bộ tín dụng có phù hợp với chủ trương, đường lối, chính
sách mà ngân hàng đưa ra hay không. Hoạt động này gồm những việc như: kiểm tra
các thủ tục về thẩm quyền điều hành, quản lý, giám sát các khoản tiền vay, thủ tục, hồ
sơ xin vay vốn, nhằm mục đích phát hiện ra các sai phạm trong quá trình cho vay, từ
đó giúp ban lãnh đạo đưa ra các quyết định để hạn chế rủi ro tín dụng. Hệ thống kiểm

soát nội bộ hoạt động tốt sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng
của mình.
- Công nghệ ngân hàng:Trong điều kiện nền kinh tế hội nhập, sự cạnh tranh ngày càng
diễn ra gay gắt hơn. Điều này càng thấy rõ hơn trong lĩnh vực Ngân hàng. Hàng loạt
các ngân hàng mới ra đời trong đó cần chú ý là sự gia nhập của các ngân hàng nước
ngoài, các ngân hàng liên doanh với quy mô và công nghệ hiện đại hơn thỏa mãn nhu
cầu ngày càng cao của khách hàng, do đó đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải
không ngừng cải thiện công nghệ. Với các trang thiết bị máy móc, phương tiện kĩ thuật
hiện đại sẽ tạo điều kiện đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, thông
tin thu thập nhanh và chính xác hơn, tiết kiệm chi phí, giúp ngân hàng kịp thời nắm
bắt những thông tin, diễn biến trên thị trường, dự báo về khả năng phát triển kinh tế xã
hội và hoạt động tín dụng nhằm đưa ra các quyết sách phù hợp với tình hình thực tế và
đem lại sự tiện ích cho khách hàng.

CHƯƠNG 2
THỰC TRANG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN-CHI NHÁNH THĂNG LONG
2.KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN CHI NHÁNH THĂNG LONG VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHÁT
TRIỂN
2.1. Khái quát về ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh
Thăng Long
Tên đầy đủ: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh
Thăng Long
Tên giao dịch tiếng Anh: Agribank Thăng Long
Tên viết tắt: NHNo & PTNT Thăng Long
Agribank Thăng Long có trụ sở tại :số 4 đường Phạm Ngọc Thạch,quận Đống
Đa,HàNội
Tiền thân là sở giao dịch I (SGD I), một bộ phận của Trung tâm điều hành NHNo&P
TNT Việt Nam (NHNo&PTNT VN) và là một chi nhánh trong hệ thống

NHNo&PTNT VN
Sở giao dịch I NHNo&PTNT được thành lập theo quyết định số 15/TCCB
ngày 16/03/1991 của Tổng giám đốc NHNo&PTNT VN với chức năng chủ
yếu là đầu mối để quản lý các ngành nông,lâm, ngư nghiệp và thực hiện thí điểm văn
bản, chủ trương của ngành trước khi áp dụng cho toàn hệ thống trực
tiếp thực hiện cho vay trên địa bàn Hà Nội, cho vay đối với các công ty
lớn về nông nghiệp như: Tổng công ty rau quả, công ty thức ăn gia súc
Ngày 01/04/1991, SGD I chính thức đi vào hoạt động. Lúc mới thành lập, SGD I
Chỉ có hai phòng ban: Phòng Tín dụng và Phòng Kế toán cùng một Tổ kho quỹ
Năm 1992, SGD I được sự ủy nhiệm của TGĐ NHNo&PTNT đã tiến
hành thêm nhiệm vụ mới đó là quản lý vốn, điều hòa vốn, thực hiện quyết toán
tài chính cho 23 tỉnh, thành phố phía Bắc (từ Hà Tĩnh trở ra). Từ cuối năm
1994, SGD I thực hiện nhiệm vụ điều chỉnh vốn theo lệnh của SGD I và thực

6CD
?E
*;6 FG
*;(9*H
*;I- 6JK
*;
*K'E
*;; DL:D1
*;; DL(M*N
*;=OI
*;+!(M+P

phòng giao dich trực thuộc chi nhánh cấp I, 6 phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh
cấp II.
Các phòng chuyên môn nghiệp vụ, chi nhánh và phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh
Thăng Long thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước và của NHNo&PTNT Việt Nam. Việc phân định chức năng nhiệm vụ rõ ràng
giữa các phòng ban và sự mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch đã góp phần
rất lớn vào thành công của chi nhánh trong thời gian qua
Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động của Chi nhánh NHNo&PTNT Thăng Long
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức
2.1.2. Nhiệm vụ cơ bản các phòng ban quan trọng
 Phòng hành chính nhân sự :Tham mưu cho Giám đốc xây dựng chương trình công
tác hàng tháng, quý, thực thi pháp luật có liên quan đến an ninh trật tự,phòng cháy nổ
*-""
->
5 $Q
Phòng
TTQT
*-"5 $Q

vay của giám đốc các chi nhánh hoặc những món vay do HĐQT,Tổng GĐ hoặc GĐ
chi nhánh quyết định.thu thập thông tin và thường xuyên tổ chức kiểm tra chuyên đề
công tác thấm định.Tiếp cận với các bộ ngành có liên quan đến đối tượng đầu tư nhằm
khai thác các dự án có hiệu quả ,tham mưu cho lãnh đạo trong việc làm đầu mối tài trợ
với các NHTM khác.
Tham mưu cho lãnh đạo trong việc xác định mức cho vay đới với các ngành kinh
tế,ngành hàng,doanh nghiệp để có phương án đầu tư đúng hướng,phòng ngừa và phân
tán rủi ro.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status