A. Lời nói đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày nay, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế phổ biến trên
thế giới, nó đã và đang cuốn hút tất cả các nớc kể cả các nớc kém phát triển vào vòng
xoáy của mình nh một tất yếu lịch sử. Đối với Việt Nam, việc tham gia vào quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế là một hớng đi đúng đắn và quan trọng làm tiền đề cho việc
tạo dựng vị thế trên trờng quốc tế; đồng thời mang lại nhiều cơ hội để phát triển nhanh
và bền vững nền kinh tế đất nớc.
Ngành ngân hàng Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung của đất nớc và thế
giới. Tiến trình hội nhập tài chính - tiền tệ khu vực và thế giới đang đặt ngành ngân
hàng, đặc biệt là các NHTM trớc những cơ hội và thách thức to lớn. Sau hơn 15 năm
đổi mới, hệ thống các NHTM nớc ta đã có nhiều chuyển biến tích cực trong hoạt động
và đã có những kết quả đáng ghi nhận: số lợng các NHTM tăng nhanh chóng, quy mô
ngày càng lớn, địa bàn hoạt động kinh doanh đợc mở rộng với mạng lới các chi nhánh
từ cấp 1 đến cấp 4. Các NHTM ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động
và điều chuyển các nguồn vốn phục vụ cho sự nghiệp Công nghiêp hoá - Hiện đại hoá
đất nớc. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, các NHTM nớc ta còn
không ít những hạn chế. Những hạn chế này đã và đang làm giảm năng lực cạnh tranh
của các ngân hàng, ảnh hởng xấu đến uy tín và khả năng của ngân hàng. Đặc biệt khi
những cam kết hội nhập đợc thực hiện, chúng ta sẽ phải chạy đua quyết liệt với các
định chế tài chính nớc ngoài vốn có tiềm lực mạnh hơn chúng ta rất nhiều. Cuộc chiến
sẽ rất gay gắt và nếu hệ thống các NHTM nớc ta không có những biện pháp để nâng
cao năng lực cạnh tranh, chúng ta sẽ thua ngay trên sân nhà. Chính vì thế, nâng cao
năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập là một yêu cầu
tất yếu.
Xuất phát từ đòi hỏi cấp thiết trên, đồng thời để khẳng định tinh thần nỗ lực vơn lên
trong kinh doanh của ngời Việt Nam nói chung, của các cán bộ ngành ngân hàng nói
riêng, tôi đã lựa chọn đề tài: "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt
1
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế làm đối tợng cho bài nghiên cứu
khoa học của mình.
ờng, thị phần của doang nghiệp để có doanh thu tối đa và lợi nhuận tối đa.
Theo quan điểm của Marketing thì cạnh tranh là qúa trình giành giật những lợi thế từ
phía đối thủ về phía doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu
quả tối u.
Các khái niệm trên mặc dù có sự khác nhau nhng đều tơng đối thống nhất về bản chất
của cạnh tranh doanh nghiệp, đều cho rằng cạnh tranh là cuộc ganh đua và giành giật
quyết liệt giữa các doanh nghiệp và ai cũng muốn giành phần thắng về mình.
Cạnh tranh là cuộc chạy đua đờng trờng về Kinh tế không có đích cuối cùng nào dừng
lại giữa chừng sẽ bị tụt hậu và thất bại. Chính vì vậy, cạnh tranh là linh hồn sống của thị
trờng, là động lực phát triển kinh tế của xã hội.
Năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể đợc hiểu là khả năng tạo ra và sử
dụng có hiệu quả các điều kiện sản xuất vợt trội so với các doanh nghiệp đối thủ để
giành u thế và thắng lợi trên một số phơng diện nào đó trong quá trình cạnh tranh.Các
điều kiện sản xuất kinh doanh vợt trội đó có thể là lợi thế về chi phí sản xuất thấp, giá
3
thấp, lợi thế về đa dạng hoá và khác biệt hoá sản phẩm, lợi thế về chất lợng hàng hoá
cao
Với t cách là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đặc biệt, Ngân hàng thơng mại (NHTM)
có những điểm đặc thù riêng so với các doanh nghiệp khác.Vì vậy, năng lực cạnh tranh
của NHTM đợc hiểu là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng tự duy trì lâu dài một
cách có ý chí trên thị trờng, trên cơ sở thiết lập mối quan hệ bền vững với khách hàng để
đạt đợc một số lợi nhuận nhất định và chống lại một cách thành công sức ép từ phía các
đối thủ cạnh tranh.
1.2 Vai trò của cạnh tranh:
Đối với doanh nghiệp, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tìm kiếm giải pháp tối
u hoá đầu vào (tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm )nâng cao khả năng thoả mãn nhu cầu thị tr ờng của sản phẩm, ứng dụng công
nghệ dây chuyền sản xuất hiện đại để tăng năng suất và chất lợng sản phẩm. Đồng
thời cạnh tranh cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải đánh giá đúng bản thân các
đó. Hơn nữa, các ý tởng hiện đại hoá ngân hàng luôn gắn liền với việc đầu t mua sắm
phần mềm mới, và trị giá các khoản đầu t này là không nhỏ đòi hỏi các ngân hàng phải
có tiềm lực tài chính đủ mạnh để chi trả.
Yếu tố con ngời cũng là một yếu tố quan trọng đối với bản thân NHTM. Do đặc thù
là ngành kinh doanh dịch vụ nên trong lĩnh vực ngân hàng, con ngời luôn đóng vai trò
trung tâm duy trì mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, quyết định hình ảnh của
ngân hàng trong con mắt khách hàng và là một trong những nhân tố kiến tạo sức cạnh
tranh của ngân hàng.Những đóng góp của yếu tố con ngời trong hoạt động ngân hàng đ-
ợc thể hiện ở các mặt sau:
Nhân viên ngân hàng là ngời trực tiếp thực hiện các chiến lợc kinh doanh bao gồm cả
chiến lợc cạnh tranh của các NHTM.
Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên ngân hàng chính là một
" hiện hữu" của dịch vụ. Vì vậy với kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn, nhân viên
5
ngân hàng có thể làm tăng thêm giá trị cho dịch vụ cũng nh làm giảm đi, thậm chí
làm hỏng giá trị của dịch vụ.
Bằng việc gây thiện cảm với khách hàng trong quá trình giao dịch nhân viên ngân
hàng đã trực tiếp tham gia vào quá trình Marketing và xúc tiến bán dịch vụ.
Là lực lợng chủ yếu chuyển tải những thông tin tín hiệu từ thị trờng, từ khách hàng,
từ đối thủ cạnh tranh đến các nhà hoạch định chính sách ngân hàng.
Tóm lại, chất lợng nhân viên ngân hàng càng cao, năng lực cạnh tranh của ngân hàng
càng lớn.
2.2 Nhu cầu của khách hàng:
Đây là yếu tố có tác động rất lớn tới sự phát triển của doanh nghiệp, nó quyết định
sự sống còn của doanh nghiệp. Thông qua nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp có thể
tận dụng đợc lợi thế theo quy mô, cải thiện các hoạt động kinh doanh và dịch vụ của
mình. Hơn nữa, nhu cầu của khách hàng còn có thể gợi mở cho doanh nghiệp phát triển
các loại hình và dịch vụ mới. Các loại hình này một khi đợc tiêu dùng rộng rãi trên thị
trờng thì doanh nghiệp sẽ giành đợc lợi thế cạnh tranh trớc tiên.
Trong lĩnh vực ngân hàng, nhu cầu của khách hàng là yếu tố quan trọng nhất trong
nh mức độ cạnh tranh trong nớc. Sự phất triển các hoạt động doanh nghiệp sẽ thành công
nếu có đợc sự quản lý và tổ chức trong một môi trờng phù hợp và kích thích đợc các lợi
thế cạnh tranh của nó. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ là yếu tố thúc đẩy sự cải
tiến và thay đổi nhằm hạ chi phí, nâng cao chất lợng sản phẩm dịch vụ.
Đối với NHTM, lập chiến lợc và quản trị chiến lợc kinh doanh của mình là yếu tố góp
phần đem lại thành công cho ngân hàng trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên
gay gắt. Lập và quản trị chiến lợc sẽ giúp ban lãnh đạo ngân hàng xác định đợc những
mục tiêu cần đạt tới và cách thức để thực hiện mục tiêu đó. Điều này giúp ngân hàng
luôn ở thế chủ động, không bị rơi vào tình thế lúng túng, bất ngờ khi môi trờng kinh
doanh thay đổi, đồng thời tận dụng các nguồn lực của ngân hàng một cách có hiệu quả
nhất. Về cấu trúc tổ chức, đây là vấn đề quan tâm của các nhà quản trị ngân hàng vì chỉ
khi xây dựng đợc một cấu trúc tổ chức hợp lý,có khả năng vận hành nhịp nhàng,ngân
7
hàng mới có khả năng đáp ứng tối đa mọi nguồn lực,đồng thời đạt đợc mục tiêu chiến l-
ợc của mình. Ngời thiết kế cấu trúc giỏi phải là ngời nắm rõ điểm mạnh, yếu của từng
nguồn lực trong ngân hàng cũng nh nắm rõ mục tiêu cạnh tranh, từ đó thiết kế một cấu
trúc tổ chức phù hợp nhất.
Một cấu trúc tổ chức không hợp lý sẽ dẫn đến việc sử dụng lãng phí các nguồn lực do sự
phân công, phân nhiệm giữa các phòng ban chồng chéo, quá trình cung ứng dịch vụ
không thông suốt do chức năng giữa các bộ phận không rõ ràng, thời gian cung ứng dịch
vụ bị kéo dài do phải qua quá nhiều khâu trung gian không cần thiết, tính gắn kết của hệ
thống kém do thiếu sự phối hợp giữa từng bộ phận Tất cả các yếu tố kể trên sẽ tác
động xấu làm yếu đi năng lực cũng nh khả năng của NHTM.
Về đối thủ cạnh tranh, các NHTM phải đánh giá khách quan và đầy đủ về tiềm lực cũng
nh khả năng của đối thủ, đánh giá u, nhợc điểm của từng chiến lợc kinh doanh, trong
cấu trúc tổ chức hay trong mối quan hệ với khách hàng của đối thủ.Trên cơ sở đó, ngân
hàng có thể đa ra những đối sách quan trọng để chống lại sự thành công, sức ép từ phía
đối thủ cạnh tranh và giành lợi thế trên thị trờng.
Bốn yếu tố kể trên tơng tác qua lại với nhau hình thành nên sức mạnh cạnh tranh tổng
thể của doanh nghiệp,trong đó yếu tố 2.1 và 2.4 đợc coi là những yếu tố nội tại của
ngân hàng chiếm hơn 30% tổng lợi nhuận của ngân hàng đó.
Bảng 1-Tỉ lệ thu dịch vụ ngân hàng của một số ngân hàng trên Thế giới
STT Tên ngân hàng % / Tổng thu nhập
1 RZB Group 22,06
2 ANZ Bank( Australia ) 30,00
3 American Express 39,87
4 Kookmin Bank ( Korea ) 52,10
5 Bank of China 72,80
(Ngun: Báo cáo thờng niên- Năm 2001)
9
3.2.Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng:
Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng bao gồm các kỹ năng, cách thức của toàn bộ các
quá trình cung ứng dịch vụ trong ngân hàng. Các nhân tố cấu thành công nghệ cung ứng
dịch vụ gồm: con ngời, máy móc thiết bị, cấu trúc tổ chức, quy trình nghiệp vụ
Nh đã đề cập ở phần trên, dịch vụ ngân hàng là một trong những yếu tố cạnh tranh của
các NHTM. Tuy nhiên dịch vụ ngân hàng thuộc phạm trù kinh tế- khoa học- công nghệ-
kỹ thuật có hàm lợng chất xám cao, gắn kết con ngời với phơng tiện máy móc hiện đại.
Có thể nói dịch vụ ngân hàng là các phơng tiện, công cụ vô hình dùng để chuyển tải các
loại hình hoạt động kinh doanh ngân hàng bằng các phơng tiện công cụ hữu hình là máy
móc thiết bị và công nghệ. Dịch vụ ngân hàng càng phong phú, đa dạng về hình thức, đa
phơng đa chiều về không gian giao dịch và đối tác giao dịch thì yêu cầu về tính tiên tiến,
hiện đại của máy móc thiết bị, công nghệ càng cao. Những phơng tiện, công cụ hữu hình
này là nền tảng, là cơ sở hạ tầng, là cơ sở hạ tầng cho việc phát triển và mở rộng các loại
dịch vụ ngân hàng.
Nh vậy, muốn phát triển dịch vụ ngân hàng phải dựa trên hiện đại hoá công nghệ
ngân hàng. Một ngân hàng có khả năng đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng, nhng không có
khả năng hện đại hoá công nghệ cung ứng các dịch vụ này thì sẽ không thể thành công.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt nh hiện nay, công nghệ ngân hàng sẽ là
một vũ khí sắc bén tạo nên lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng.
3.3.Hoạt động Marketing ngân hàng:
hàng với kết quả phân tích thị trờng và nguồn lực hiện có, từ đó lựa chọn các chiến lợc
kinh doanh phù hợp với năng lực của ngân hàng và đáp ứng nhu cầu của thị trờng. Bởi
vậy vai trò của marketing ngân hàng là cầu nối giữa ngân hàng và thị trờng.
Marketing là công cụ cải thiện các nguồn lực, là cơ sở kiến tạo năng lực cạnh tranh
của ngân hàng. Các nguồn lực của ngân hàng bao gồm: năng lực điều hành của Ban
quản trị ngân hàng, quy mô vốn và tình hình tài chính, công nghệ cung ứng dịch vụ, chất
lợng nguồn nhân lực, công tác quản trị và kiểm soát với chức năng thoả mãn nhu cầu
của khách hàng và thích ứng với thị trờng, hoạt động marketing hỗ trợ và làm cho các
nguồn lực ngân hàng thực sự trở nên có giá trị, đợc thị trờng và khách hàng tiếp nhận.
11
Thông qua việc nghiên cứu vai trò của hoạt động marketing ngân hàng, có thể khẳng
định chắc chắn đây là công việc rất cần thiết trong hoạt động của ngân hàng, là yếu tố
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Chính vì vậy, các ngân hàng cần chú ý
phát triển công tác marketing ngân hàng để đứng vững và đi lên trong cơ chế thị trờng và
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3.4.Lãi suất và phí dịch vụ:
Đối với mỗi doanh nghiệp tham gia kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng, giá của
sản phẩm và dịch vụ cung ứng là một trong những công cụ cạnh tranh chủ yếu. Khi sản
phẩm của doanh nghiệp có u thế về giá so với đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ thuận
lợi hơn trong việc thu hút khách hàng, từ đó chiếm đợc thị phần lớn hơn.
Ngân hàng là loại hình dịch vụ đặc biệt tham gia kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ.
Sản phẩm chủ yếu của ngân hàng là dịch vụ huy động và cho vay vốn, trong đó lãi suất
đợc hiểu là giá của các sản phẩm này. Để thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng,
các ngân hàng cố gắng đa ra mức lãi suất hấp dẫn hơn các đối thủ cạnh tranh. Ngợc lại
để khuyến khích khách hàng vay vốn, ngân hàng sẽ tìm cách hạ thấp lãi suất cho vay.
Tuy nhiên khi quyết định mức lãi suất huy động và lãi suất cho vay đều gặp phải những
khó khăn cố hữu trong kinh doanh ngân hàng. Một mặt ngân hàng muốn đa mức lãi suất
huy động vốn đủ cao và lãi suất cho vay đủ thấp để thu hút khách hàng mới cũng nh duy
trì quan hệ với các khách hàng truyền thống; mặt khác ngân hàng phải giới hạn mức lãi
suất để đảm bảo cho ngân hàng có khả năng bù đắp chi phí và có đợc lợi nhuận. Do đó
hàng của từng ngân hàng. Khi một ngân hàng có mức độ chuyên môn hoá cao đối một
hoặc một số loại dịch vụ, ngân hàng sẽ có khả năng giảm chi phí dịch vụ này, từ đó có
thể đa ra biểu phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh mà vẫn thu đợc lợi nhuận cao. Khi ngân
hàng đa dạng hoá dịch vụ, cung cấp nhiều loại dịch vụ thoả mãn nhu cầu của khách
hàng, chắc chắn sức thu hút của ngân hàng về biểu phí, về tiện ích dịch vụ sẽ cao hơn.
Khả năng đa dạng hoá dịch vụ cũng giúp ngân hàng có thể định mức phí thấp cho các
dịch vụ mới nhằm mục đích giới thiệu, thu hút khách hàng đến với ngân hàng mà không
phải lo lắng về chi phí đã bỏ ra và lợi nhuận thu đợc, phí thu đợc từ các dịch vụ truyền
13
thống của ngân hàng sẽ trang trải chi phí này. Xét trên phơng diện tổng thể trong dài
hạn, cả lợi nhuận hữu hình và lợi nhuận vô hình (thị phần, mức độ hài lòng của khách
hàng, uy tín của ngân hàng ) của ngân hàng đều sẽ tăng. Hiện nay, để thích ứng với thị
trờng và thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp ngân hàng ngày càng
mở thêm nhiều hình thức dịch vụ mới. Do đó, phí dịch vụ sẽ trở thành một công cụ sắc
bén của các ngân hàng.
Trên đây chỉ là bốn trong rất nhiều yếu tố cạnh tranh của các NHTM. Với xu hớng
cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc sử dụng các yếu tố này vào quá trình cạnh tranh sẽ
rất phổ biến cả về bề rộng lẫn chiều sâu.Các ngân hàng ngoài việc phát triển toàn diện cả
bốn yếu tố trên cũng nên tùy thuộc vào tiềm lực, khả năng của ngân hàng mình mà chú
trọng phát triển những yếu tố đem lại hiệu quả cạnh tranh cao nhất.
Đến đây, em xin đợc kết thúc phần I của bài viết nghiên cứu những vấn đề chung về
cạnh tranh của NHTM. Phần II chúng ta sẽ đi vào xem xét và đánh giá năng lực cạnh
tranh của NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập trên cơ sở những lý luận đã nêu ở
phần I.
14
II- Năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
1.Bối cảnh chung:
1.1.Bối cảnh thế giới:
Trong các xu hớng mang tính toàn cầu nổi lên trong mấy chục năm gần đây, xu hớng
hoá quốc tế. Các nớc có khả năng khác nhau về cung cấp nguyên vật liệu, các yếu tố sản
xuất khác nh kỹ thuật, lao động dẫn đến sự khác biệt về chi phí sản xuất và giá cả sản
phẩm, thông qua thơng mại quốc tế, các nớc sẽ cung cấp cho nền kinh tế thế giới những
loại hàng hoá mà họ tạo ra tơng đối rẻ hơn và của nền kinh tế thế giới những hàng hoá
mà họ không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất với chi phí cao hơn.
_ Ba là tự do hoá thơng mại góp phần hạn chế những sự bóp méo về kinh tế do sự can
thiệp quá sâu của chính phủ gây ra ở các thị trờng. Để có thể can thiệp vào các hoạt
động thơng mại, nhà nớc thờng sử dụng biện pháp thuế quan và các hàng rào phi thuế
quan, qua đó tiến hành bảo hộ nền sản xuất nội địa. Việc bảo hộ là cần thiết xét trong
nhiều trờng hợp, nhất là đối với những nớc đang và kém phát triển. Tuy nhiên, nếu coi
trọng quá mức các biện pháp can thiệp của nhà nớc sẽ dẫn đến các hoạt động sản xuất
kinh doanh bị bóp méo, phân bố các nguồn lực kém hiệu quả, gây ra sự lãng phí chung
cho toàn xã hội.
_ Bốn là tự do hoá thơng mại sẽ tạo điều kiện cho các nớc phát triển các lĩnh vực mà họ
có lợi thế cạnh tranh do mở đợc thị trờng và sử dụng đợc các nguồn lực tự có một cách
hiệu quả hơn do có nhu cầu bên ngoài.
_ Cuối cùng là tự do hoá thơng mại tạo điều kịên cho các nớc tiếp cận đợc các đầu vào
quan trọng nh máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại, đem lại cho các nớc những thông
tin về kỹ thuật, tiếp thị và quản lý. Điều này có ý nghĩa quan trọng đối với các nớc kém
phát triển hoặc các nớc thực hiện kinh tế theo mô hình hớng nội.
Từ việc phân tích vai trò, ý nghĩa của tự do hoá thơng mại, có thể thấy rằng đây là
một xu thế tất yếu, xu thế thời đại. Nhận thức rõ vấn đề này, Việt Nam đang từng bớc
tiến hanh tự do hoá thơng mại.
16
Để động viên mọi nguồn lực cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc, Đảng và nhân dân ta
đã có chủ trơng: đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới . Hệ
thống ngân hàng Việt Nam đã trải quá trình 50 năm xây dựng và trởng thành, ngày càng
đóng vai trò quan trọng đối với công việc CNH- HĐH đất nớc. Chính vì vậy, trong khi
nền kinh tế đang trong tiến trình hội nhập. Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đứng tr-
ớc yêu cầu hội nhập vào cộng đồng tài chính khu vực và quốc tế. Điều này đặt ngành
nớc ngoài do họ có trình độ quản lý và công nghệ cao hơn, mặt khác quy mô vốn cũng
lớn hơn. Ngoài ra trong thời gian đầu, để làm quen với thị trờng, thu hút khách hàng và
chiếm lĩnh thị phần, các ngân hàng nớc ngoài có thể chấp nhận thua lỗ trong ngắn hạn.
Vì thế các ngân hàng Việt Nam sẽ ở vào tình thế rất khó khăn để cạnh tranh.
_ Việc mở cửa, tiến tới tự do hoá trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam cùng với
sự phát triển hoạt động của các tổ chức tín dụng nớc ngoài tại Việt Nam đặt ra những
thách thức mới vế mặt quản lý, điều hành, giám sát của ngân hàng nhà nớc.
Tóm lại, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải chịu những tác động cả tích cực và tiêu
cực của xu thế toàn cầu hóa, tự do thơng mại quốc tế. Những tác động này sẽ phát huy
ngày càng mạnh mẽ hơn khi chúng ta ngày càng mở rộng các mối quan hệ đối ngoại và
hội nhập sâu hơn vào thị trờng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, những tác động này là tất
yếu và cần thiết, nếu chúng ta có những chính sách tốt, làm chủ đợc tình thế sẽ có thể tối
đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro.
1.2.Bối cảnh trong nớc:
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (6-1986), Việt Nam đã bớc vào thời kỳ đổi mới, chuyển
thừ một nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc theo định hớng
XHCN. Trên cơ sở đó hoạt động kinh tế đối ngoại đợc mở rộng và không ngừng phát
triển với phơng châm đa dạng hoá, hợp tác bình đẳng cùng có lợi chúng ta đã gia nhập
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á ASEAN, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN AFTA,
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng APEC và đang tiến tới trở thành
thành viên của tổ chức thơng mại thế giới WTO. Ngoài ra chúng ta cũng ký kết nhiều
hiệp định thơng mại song phơng và đa phơng với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó
18
đáng chú ý là Hiệp định Thơng mại Việt Nam Hoa Kỳ ký ngày 13-7-2000 (đợc thợng
viên Hoa Kỳ thông qua ngày 3-10-2001, chính thức có hiệu lực từ ngày 10-12-2001).
Tất cả những diều này đều chứng minh cho việc Việt Nam đang thực sự mở cửa, hội
nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài xu thế chung của nền kinh tế. Tuy nhiên,
trong quá trình hội nhập này, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với không ít
Từ 10-12-2009: Bãi bỏ hạn chế về quyền của một chi nhánh Hoa Kỳ nhận tiền gửi
bằng VNĐ từ các thế nhân Việt Nam mà Hoa Kỳ không có quan hệ tín dụng.
6- Môi giới tiền tệ
Từ 10-12-2004 Việt Nam dành đối xử quốc gia đầy đủ đối với quyền tiếp cận
ngân hàng NN Việt Nam trong các hoạt động chứng khoán, SWAP, FORWARD, tái cấp
vốn, tái chiết khấu.
Từ 10-12-2009: Các định chế đầu t tài chính có vốn đầu t Hoa Kỳ đợc phép phát
hành thẻ tín dụng, đợc hởng chính sách quốc gia.
Có thể thấy việc thực hiện các cam kết theo lộ trình hợp đồng thơng mại Việt Nam-
Hoa Kỳ đồng nghĩa với việc sau một thời gian không lâu nữa, hàng rào ngăn cách giữa
các trung gian tài chính Việt Nam và Hoa Kỳ đợc xóa bỏ, các tổ chức tài chính Hoa Kỳ
ở Việt Nam đợc đối xử bình đẳng nh các tổ chức tài chính trong nớc trong việc cung cấp
dịch vụ ngân hàng trên thị trờng Việt Nam. Điều này cũng đồng nghĩa với việc chúng ta
phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ phía các tổ chức tài chính nói chung và các
ngân hàng Hoa Kỳ nói riêng vốn có tiềm lực về vốn và công nghệ hết sức dồi dào, trong
khi yếu tố sân nhà không còn là lợi thế. Do vậy các ngân hàng thơng mại Việt Nam
cần có những chiến lợc và biện pháp cụ thể để có thể đứng vững và phát triển trong môi
trờng Hiệp định.
Bên cạnh Hiệp định thơng mại Việt Nam Hoa Kỳ đã đợc ký kết, cam kết khác của
Việt Nam nh với AFTA, WTO về việc xoá bỏ các rào cản thơng mại quốc tế, cam kết
dành cho phía đối tác u đãi tối huệ quốc, u đãi đối xử quốc gia sẽ tạo điều kiện cho các
nhà kinh doanh ngân hàng dễ dàng xâm nhập vào Việt Nam. Việc loại bỏ dần các hạn
chế đối với các ngân hàng nớc ngoài có nghĩa là các ngân hàng nớc ngoài sẽ từng bớc
20
tham gia vào mọi lĩnh vực hoạt động ngân hàng Việt Nam. Quy mô vốn lớn, công nghệ
hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến của các ngân hàng nớc ngoài sẽ là những u thế cơ
bản tạo ra sức ép cạnh tranh trong ngành ngân hàng. Do khả năng tài chính, trình độ
quản lý và trình độ công nghệ của các ngân hàng Việt Nam còn thấp, các dịch vụ ngân
hàng cha phong phú, tiện lợi hấp dẫn nên trong giai đoạn đầu, thách thức đối với các
ngân hàng thơng mại Việt Nam là đáng kể, đặc biệt là đối với các ngân hàng có phạm vi
Bên cạnh những cơ hội, không thể không nhắc đến những thách thức đặt ra. Đối với
ngành ngân hàng, những thách thức này càng trở nên to lớn và khó giải quyết bởi hệ
thống ngân hàng Việt Nam còn rất non trẻ và yếu kém về nhiều mặt so với các ngân
hàng thơng mại trên thế giới: thực lực tài chính quá mỏng, công nghệ lạc hậu, năng lực
điều hành, trình độ quản lý hạn chế Do đó việc tìm ra giải pháp tháo gỡ khó khăn cho
ngành ngân hàng là rất cần thiết. Một trong những giải pháp quan trọng giúp các ngân
hàng thơng mại Việt Nam có thể đứng vững và phát triển trớc sức ép mạnh mẽ từ các
ngân hàng nớc ngoài là phải nâng cao đợc năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Có nâng
cao đợc năng lực cạnh tranh, các ngân hàng mới có đủ thế và lực một cách toàn diện trên
tất cả các mặt, mới đủ sức để đơng đầu với sự cạnh tranh gay gắt từ các ngân hàng nớc
ngoài. Nâng cao năng lực cạnh tranh sẽ giúp ngân hàng tận dụng đợc tối đa những cơ
hội do hội nhập mang lại, đồng thời hạn chế các tác động xấu, giảm thiểu rủi ro cho
ngân hàng. Vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thơng mại Việt Nam
là một đòi hỏi tất yếu trong tiến trình hội nhập quốc tế.
2.Năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thơng mại Việt Nam:
2.1.Vài nét về tình hình hoạt động của các ngân hàng thơng mại Việt Nam:
Đánh giá chung về hoạt động của các ngân hàng thơng mại Việt Nam, Bộ chính trị đã
có kết luận: từ khi chuyển sang kinh doanh, các ngân hàng th ơng mại đã thực hiện
huy động đợc một khối lợng đáng kể vốn trong nớc và nớc ngoài; thúc đẩy đầu t cho sản
xuất của các thành phần kinh tế, coi trọng đầu t tín dụng u đãi để phục vụ xoá đói giảm
nghèo và thực hiện một số chính sách xã hội. Để nớc ta có đợc nhịp độ tăng trởng kinh
tế 7,5%/năm trong thời kì 2001-2005 nh đã định, đòi hỏi phải có vốn đầu t đi kèm không
22
nhỏ. Theo ớc tính của các nhà hoạch định chính sách (công bố tại hội nghị toàn ngành
kế hoạch và đầu t tháng 7/2001), tổng vốn đầu t toàn xã hội cần cho thời kỳ 2001-2005
tơng đơng khoảng từ 57-60 tỉ USD, tức là khoảng 800-840 ngàn tỉ VND (theo tỉ giá năm
2000). Trong số đó, phần vốn trong nớc chiếm khoảng 60% tơng đơng 34-36 tỉ USD
(480-504 ngàn tỉ VND), 40% còn lại là huy động từ nguồn vốn nớc ngoài thông qua
FDI, ODA, và các nguồn huy động khác. Với nguồn vốn dự kiến này, cơ cấu đầu t sẽ đ-
mại đều có sự tăng lên cả về quy mô và chất lợng. Theo báo cáo của ngân hàng NN,
tổng khối lợng vốn huy động của các tổ chức tín dụng trong nớc cũng nh các chi nhánh
ngân hàng nớc ngoài, ngân hàng liên doanh liên tục tăng. Năm 1995, các ngân hàng th-
ơng mại quốc doanh huy động đợc 31,7 ngàn tỉ VND (kể cả ngoại tệ quy đổi) thì năm
1999 đã huy động đợc 115,508 ngàn tỉ VND tăng 3,64 lần. Đối với chi nhánh ngân hàng
nớc ngoài và ngân hàng liên doanh năm 1995 huy động 2,085 ngàn tỉ VND (quy đổi),
năm 1999 là 14,413 ngàn tỉ VND (quy đổi) tăng gần 7 lần. Trong giai đoạn 2000-2002,
quy mô vốn huy động tiếp tục tăng ở tất cả các loại hình ngân hàng quốc doanh, cổ
phần, chi nhánh nớc ngoài và liên doanh (số liệu bảng 2)
Bảng 2- Nguồn vốn huy động của ngân hàng thơng mại
Đơn vị: tỉ đồng-%
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
Ngân hàng QD 143.640 175.560 218.950
Ngân hàng CP 34.020 47.355 52.200
Ngân hàng nớc ngoài và liên doanh 11.340 12.705 18.80
Tổng cộng 189.000 231.000 290.000
Tỉ trọng huy động vốn/GDP 42,55/% 47,68% 54,09%
Nguồn: Ngân hàng NN Việt Nam
Huy động vốn bằng ngoại tệ và VND tập trung nhiều vào các NHTMQD
do lợi thế nhờ quy mô. Đến hết năm 1999, huy động vốn của các NHTMQD chiếm
78,1% tổng vốn huy động t nền kinh tế của hệ thống ngân hàng Việt Nam, trong đó
ngoại tệ chiếm 24,9% và VND chiếm 53,2% tổng vốn huy động. Thị phần huy động vốn
đợc mở rộng trong năm 2000. Do lãi suất USD trên thị trờng quốc tế tăng, các NHTM đã
tăng cờng huy động vốn ngoại tệ, kết quả tốc độ tăng trởng huy động vốn ngoại tệ cao
hơn nhiều so với VND. Huy động vốn ngoại tệ của ngân hàng Công thơng năm 2000
24
tăng 53,9% so với cuối năm 1999, trong khi VND chỉ tăng 24,4%. Tăng trởng huy động
vốn ngoại tệ của ngân hàng Ngoại thơng trong cùng thời gian là 58,8%, VND tăng 33%.
Hơn nữa do mạng lới hoạt động rộng, mối quan hệ với khách hàng lâu dài, các ngân
hàng này có nguồn tiền gửi không kỳ hạn rất lớn của các doanh nghiệp. Nguồn vốn này
Nghiệp vụ cho vay
Bảng 4- Tăng trởng d nợ của hệ thống NHTM
25