TIỂU LUẬN: Triết học phật giáo - Pdf 11

TIỂU LUẬN:

Triết học phật giáo

I. Thế giới quan Phật giáo.
Thế giới quan Phật giáo chịu ảnh hưởng của hai luận điểm, thể hiện qua 4 luận
thuyết cơ bản: thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết nhân duyên
khởi.
1. Thuyết vô thường.
Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi. Luật vô thường chi phối

cái khác, cái tâm vọng động do duyên với tiền trần mà có, theo cách trần mà luôn
luôn thay đổi, chuyển biến mà không Satna nào ngừng.
Không những tâm, thân ta chuyển biến mà các hình thái xã hội theo thời gian cũng
chuyển biến: Xã hội công xã nguyên thuỷ > Xã hội chiếm hữu nô lệ > Xã hội
phong kiến > Xã hội tư bản > Xã hội XHCN. Đó là quy luật xã hội và cũng không
phù hợp với thuyết vô thường của Đạo Phật.
Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là cơ sở
của lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những con người tu dưỡng
theo giáo lý phật.
Trong thế gian có những người không biết lý vô thường của Phật, có những nhận
thức sai lầm về sự vật là thường còn, là không thay đổi, không chuyển biến. Nhận
thức sai lầm như thế phật giáo gọi là ảo giác hay huyễn giác. Vì nhận thức thân ta là
thường còn nên nảy ra ảo giác muốn kéo dài sự sống để hưởng thụ, để thoả mãn mọi
dục vọng. Khi luật vô thường tác động đến bản thân thì sinh ra phiền não đau khổ.
Ngược lại, nếu thấu lý vô thường một cách nông cạn, cho chết là hết, đời người
ngắn ngủi, phải mau mau tận hưởng những thú vui vật chất, phải sống gấp, sống vội.
Cuộc sống như thế là sống trụy lạc, sa đọa trong vũng bùn của ngũ dục, sống phiền
não đau khổ trước sự chuyển biến của sự vật, trước sự sinh- trụ, dị diệt, trước sự
thành, trụ hoại không nó diễn ra hàng ngày.
2. Thuyết vô ngã.
Từ thuyết vô thường. Phật nói sang vô ngã. Vô ngã là không có cái ta. Thực ra làm
gì cũng có cái ta trường tồn, vĩnh cữu vì cái ta nó biến đổi không ngừng, biến chuyển
từng phút, từng giờ, từng Satna.
Một câu hỏi được đặt ra vậy cái ta ở giây phút nào là cái ta chân thực, cái ta bất
biến ? Cái ta mà Phật nói trong thuyết vô ngã gồm có hai phần:
Cái ta sinh tức thân.
Cái ta tâm lý tức tâm.

Hai thuyết vô thường, vô ngã là hai thuyết cơ bản trong giáo lý Phật. Chấp ngã
chấp có cái ta thường còn là nguồn gốc của vô minh mà vô minh là đầu mối của luân
hồi sinh tử sinh ra đau khổ cho con người. Căn cứ trên hai thuyết vô thường và vô
ngã Phật đã xây dựng cho đệ tử một phương thức sống, một triết lý sống lấy vị tha
làm lý tưởng cao cả cho cuộc sống của mình, hay nói một cách khác một cuộc sống
một người vì mọi người, mọi người vì một người.
3. Thuyết Lý nhân duyên sinh.
Với lý nhân duyên sinh Phật muốn nói tới một định lý. Theo định lý ấy sự vật vạn
vật phát triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sự vật, vạn pháp
sẽ kiến diệt khi nhân duyên tan rã.
Nhân là năng lực phát sinh, duyên là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh. Như cây lúa
thì hạt lúa là nhân, nước, ánh sáng mặt trời, công cày bừa gieo trồng là duyên. Nhân
duyên đó hội họp sinh ra cây lúa. Tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà hành
động. Nói nương nhau có nghĩa là sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng lẫn
nhau mà thành. Đó là nhân duyên. Nói về thứ nhân duyên trong kinh Phật có câu:
Nhược sử hữu, tắc bỉ hữu.
Nhược sử sinh, tắc bỉ sinh.
Nhược thử vô, tắc bỉ vô.
Nhược thử diệt, tắc bỉ diệt.
Có nghĩa là:
Cái này có thì cái kia có.
Cái này sinh thì cái kia sinh.
Cái này không thì cái kia không.
Cái này diệt, thì cái kia diệt.
Tất cả các pháp đều sinh, diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết với nhau, không
một pháp nào có thể tồn tại độc lập tuyệt đối.
Sự vật chỉ “ có “ một cách giả tạo, một cách vô thường.

nếu gặp đủ duyên tốt, trái lại có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu. Nhân gặp đủ
duyên thì sẽ biến thành quả, quả sinh ra nếu hội đủ duyên lại có thể biến thành nhân
rồi để sinh ra quả khác.
Sự vật là một chuỗi nhân quả, là một tràng nhân quả nối tiếp nhau, ảnh hưởng lẫn
nhau không bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng.
Trong nhân lại có mầm mống của quả sau này nhưng quả không nhất định phải
đúng như nhân vì duyên có thể mang lại sự biến đổi cho quả - Đó là thuyết “Bất định
pháp” trong luật nhân quả.
Sự vật là bất định, người tu hành căn cứ vào thuyết này mà tu dưỡng và tiến tới
trên con đường giải thoát về nhân. Suy rộng ra theo giáo lý Phật thì mỗi ý nghĩ của
tâm ta, mỗi hành động của thân ta, mỗi lời nói của chúng ta cũng là những hạt nhân
của chúng ta gieo hàng ngày. Những hạt nhân khi gặp đủ duyên sẽ nảy nở thành quả.
Theo danh từ Phật học, những hạt nhân này gọi là nghiệp. Gieo nhân tức là gây
nghiệp: ý nghiệp, thân nghiệp, khẩu nghiệp. Kết quả đền đáp những hành động nói
trên phật gọi là nghiệp báo. Thời gian giữa gieo nhân và hái quả có thể dài ngắn khác
nhau. Vì vậy có nhân quả đồng thời: Tức là nhân quả nối liền nhau, vừa tạo nhân,
quả liền phát sinh không phải đợi một thời gian sau mới thành thục. Lại có nhân quả
dị thời: Tức là nhân tạo ra đời trước, đời sau mới kết thành quả.
Người nào gieo nhân, người ấy hái quả, không một hành động nào, thiện hay ác,
dù nhỏ đến đâu, dù ta khôn khéo bưng bít, giấu giếm đến mức nào cũng không thể
thoát khỏi cán cân nhân quả. Người học Phật, tu Phật chân chính thấm nhuần thuyết
nhân quả phải là người có đạo lý, không thể nào khác được.
Với những luận thuyết cơ bản như trên đã hình thành nên thề giới quan phật giáo.
Phật quan niệm các hiện tượng trong vũ trụ luôn luôn biến chuyển không ngừng theo
quy luật nhân duyên. Một hiện tượng phát sinh không phải là do một nhân mà do
nhiều nhân và duyên. Nhân không phải tự mà có mà do nhiều nhân duyên đã có từ
trước. Như vậy một hiện tượng có liên quan đến tất cả các hiện tượng trong vũ trụ.

Vạn vật là vô thuỷ vô chung, không có sự vật đầu tiên và không có sự vật cuối
cùng. Mọi vật đều liên quan mật thiết đến nhau. Toàn thể dù lớn đến đâu nếu không
có quan hệ với hạt bụi thì cũng không thành lập được. Để diễn đạt ý trên, một thiền
sư đã dùng hai câu thơ:
Càn khôn tận thị mao đầu thượng.
Nhật nguyệt bao hàm giới trí trung.
Có nghĩa là:
Trời đất rút lại đầu lông nhỏ xíu.
Nhật nguyệt nằm trong hạt cải mòng.
Như vậy đạo Phật không phân biệt vật chất và tinh thần vì đó chỉ là hai trạng thái
của tâm, của năng lượng khi ở thể tiềm tàng.
Sau khi đã tìm hiểu về sự vật, hiện tượng chúng ta sẽ tìm hiểu cái tâm trong đạo
Phật để thấy được quan niệm của đạo Phật về tâm và vật.
Thông thường người ta cho rằng đạo Phật là duy tâm vì trong kinh phật có câu
”Nhất thiết duy tâm tạo “ . Nhưng chữ “ duy tâm “ ở đây không phải là duy tâm trong
triết học Tây Phương nên ta không thể nhận định như trên. Chữ tâm trong đạo Phật
có nghĩa là một năng lượng, nó làm bản thể cho tất cả mọi hiện tượng tâm lý, cho
mọi hiện hành. Bản thể là cái chất, là cội gốc của vạn vật. Khi ta phân tích, chia chẻ
một vật đến một phần tử nhỏ nhiệm nhất, đến phần cuối cùng thì phần tử ấy là bản
thể mà ở đây cũng có vật có chất nên đâu đâu cũng thấy có bản thể, vì vậy tâm cũng
lại là to lớn vô biên.
Những tình cảm, ý thức phát sinh phải nương vào hiện tượng sinh lý, vật lý. Nói
nương nhau để phát sinh chứ không phải các hiện tượng sinh lý, vật lý sinh ra các
hiện tượng tâm lý.
Hiểu như vậy thì thấy rõ không phải tâm sinh vật hay vật sinh tâm. Những hiện
tượng sinh lý vật lý và những hiện tượng tâm lý ấy chỉ tương sinh tương thành.
2. Quy trình, con đường và phương pháp nhận thức.

ngày của con người sống theo đạo, thích hợp với đạo là luôn hướng về thiện.
Định: là đình chỉ mọi tư tưởng xấu, ý nghĩ xấu và còn là tập trung tư tưởng suy
nghĩ để làm mọi việc yên lành.
Tuệ: là trí tụê sáng suốt, đã thấu được lý vô thường, vô ngã, do đó chỉ nghĩ đến
làm việc thiện, mưu lợi cho chúng sinh.
Tam huệ: là văn, tu, tư.
Văn: là nghe pháp phật, hiểu rõ ý nghĩa, quan niệm được bản tính thanh tịnh, sáng
suốt của mình, do đó mà có một lòng tin vững chắc nơi Phật pháp.
Tư : là suy nghĩ về các pháp Phật đã nghe được, học được đi đến giác ngộ bản lai
tư tính của mình.
Tu: là nương theo trí tuệ, bắt đầu trực nhận được bản tính chân như, mà tụ tập gột
rửa những thói quen mà lầm từ nhiều kiếp để lại đi đến nhập với một pháp giới tính.
Các phương pháp trên đã phá tan các kiến chấp sai lầm chấp ngã, chấp pháp để đi
đến trung đạo và nhận rõ trung đạo là chẳng có, chẳng không. Với nhận thức như thế,
người tu hành sẽ được sống trong sự giải thoát, sinh tử luân hồi sẽ không còn nữa.
III. Nhân sinh quan Phật giáo.
Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vật duyên
khởi đi đến nhận thức là vô thủy, vô chung, từ những thuyết vô thường, vô ngã bây
giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của Đạo Phật về vấn đề nhân sinh quan.
ở đây chúng ta sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi:
– Con người là gì ? Từ đâu mà sinh ra? Chết rồi đi đâu ?
Vị trí của con người trong Đạo Phật.
– Quan niệm của Phật về các vấn đề:bình đẳng, tự do, dân chủ
–Có phải cuộc sống chỉ toàn là đau khổ ? và vấn đề giải thoát trong Đạo Phật là gì
?
Trước khi trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích Tứ diệu đế vì
đây là giáo lý kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ các vấn đề trên.

Khổ thụ và lạc thụ đều là Dukkha cả, do đó chúng ta phải diệt là diệt cái Dukkha
ấy chứ không phải là tránh khổ, tìm vui như thế gian thường hiểu, thường lầm.
Theo cách phân tích khác Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:
1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi
phối nên khổ.
2, Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ đến.
Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy
thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi. Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho
người ta phiền não.
3, Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân
thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ.
4, Tử khổ : Là cái khổ khi người ta chết. Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái thân
nào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì
phiền não vô cùng.
5, Cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích, mong
cầu hết cái này đến cái khác. Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu được rồi thì
phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc.
6, ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly.
7, Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.
8, Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức
ấm. Ngũ ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp.
b. Tập đế:
Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ. Những nguyên
nhân đó không phải tìm đâu xa mà ở ngay trong mỗi chúng ta. Nguyên nhân thì có
nhiều nhưng có thể tóm lại như sau:
1.Tham lam.
2.Giận dữ.
3.Si mê.
4.Kiêu mạn.
5.Nghi ngờ.

Như vậy, Phật đặt số mệnh của con người trong chính tay họ. Tự con người đã gây
nên nỗi khổ cho mình. Do đó, Phật đưa ra lý thuyết thập nhị nhân duyên để thấy được
nguồn gốc của sự vật trong thế gian. 12 nhân duyên là sợi dây liên tục nối tiếp con
người trong vòng sinh tử luân hồi đó là:
1. Vô minh 5. Lục nhập 9. Thù
2. Hành 6. Xác 10. Hữu
3. Thức 7.Thụ 11.Sinh
4. Danh sắc. 8.ái 12. Lão tử.
Tập đế là một chân lý thể hiện tính biểu chứng sâu sắc trong mối quan hệ nhân quả
và đã tìm tới các nguyên nhân rất đa dạng, phong phú. Các nguyên nhân ấy quan hệ
với nhau, cái nào cũng có thể làm nhân làm duyên cho cái khác, như làn sóng trên
mặt biển, lớp trước là lớp nhân là duyên cho lớp sau và cứ thế tiếp diễn. Nhưng cái
hạn chế của tập đế là chưa đề cập đến nguyên nhân từ xã hội. Đặc biệt là chưa nhắc
tới quan hệ giai cấp, bóc lột trong xã hội. Luận điểm này thể hiện rõ từ trào hướng
nội hướng nội trong nhận thức luận Phật giáo.
c. Diệt đế:
Diệt đế là tích quả Niết bàn do thực hành tịnh nghiệp mà đạo đế mang lại.
Diệt đế là trừ diệt sự khổ để đi đến chỗ an lạc là chỗ kết nghiệp đã hết không còn
luân hồi sinh tử nữa.
Có tịnh nghiệp tất sinh tịnh quả. ấy là khi diệt đế vọng niệm không còn khởi lên,
tâm hồn luôn an trụ trong cảnh vắng lặng là do cảnh giới Niết Bàn.
Niết Bàn có bốn đặc điểm: Thường - Lạc - Ngã - Tịnh.
Thường là thường còn, không biến đổi.
Lạc là an lạc, giải thoát hết phiền não, thâm tâm tự tại.
Ngã là chân ngã, chân thực, thường còn.
Tịnh là thanh tịnh, trong sạch không còn ô nhiễm.
Niết Bàn là sự chấm dứt mọi phiền não được thực hiện không phải ở một nơi nào

5. Chính niệm: tâm trí luôn luôn nghĩ đến đạo lý vô ngã, diệt trừ những kiến
chấp mê lầm, đoạt trừ những tư tưởng, hành động bất chính.
6. Chính định : Giữ tâm vắng lặng không một vọng niệm khởi lên để trí tuệ xuất
hiện, chứng quả tu đà hoàn.
7. Chính kiến : kết quả của việc sống, tư duy con người phải có ý biến lấy tiêu
biểu là các vị Phật.
8. Chính tư duy: Sau khi có niệm khởi, con người sẽ tư duy, suy nghĩ một cách
chân chính, làm chủ được dòng tư duy.
Để đi qua tám con đường trên thì không ngoài ba nguyên tắc: giới, định, tuệ hay
còn gọi là tam học. Các nguyên tắc này có sự liên hệ mật thiết bổ xung cho nhau.
1.Giới học: là cả một thiên luân lý thực hành của Đạo Phật, mục đích để kiềm chế
rồi đi đến diệt lục. Giới gồm những phương tiện để thay đổi lối suy nghĩ, lối sinh
hoạt hàng ngày của con người, hướng con người sống theo đạo, thích hợp với đạo,
tức là luôn hướng về thiện .
Phật chỉ định ra nhiều giới đạo cho người tu hành tại gia, tu xuất gia, cho nam
giới, nữ giới, cho người mới vào đạo và người tu lâu ngày. Người tu hành phải giữ
giới nghiêm túc thì mới định được. Nếu không giữ được tất con người luôn bị vọng
dộng, bị cảnh chuyển, không vào cảnh định được.
2. Định học là đình chỉ mọi tư tưởng xấu ý nghĩa xấu nguyên nhân phát sinh
những hành động xấu đi đến gây nghiệp báo xấu. Định còn là tập trung tư tưởng, suy
nghĩ làm những việc lành, từ đó nảy sinh một trạng thái an lạc, tạo điều kiện cho tuệ
phát ra.
3. Tuệ học : là trí tuệ sáng suốt của người tu hành đã diệt được dục vọng, đã diệt
được tam độc là tham, sân, si, đã thấu được lý vô thường, vô ngã do đó chỉ nghĩ đến
làm điều thiện, mưu lợi cho chúng sinh.
Với pháp tứ diệu đế Phật muốn cho chúng sinh thấy 2 cảnh giới khác nhau là Niết
Bàn và Thân Lụy: một con đường giác ngộ, an lạc và một con đường mê lầm tội lỗi.

Và những quan niệm đó được Phật thực hiện ngay trong giáo hội của mình. Phật
thu nạp vào giáo hội của Người tất cả mọi đẳng cấp, không phân biệt sang hèn, giàu
nghèo. Những người ở tầng lớp dưới sau khi tu đắc đạo đã được các đệ tử khác tôn
trọng, cho đến các vua quan khi đến thăm hỏi cũng phải tỏ lòng kính mến.
Không dừng lại ở sự bình đẳng giữa con người với con người mà Phật còn đi xa
hơn, nêu lên sự bình đẳng giữa các chúng sinh đều có Phật tính như nhau và đang
cùng nhau: người trước, vật sau, tiến bước trên con đường giải thoát.
Tự do theo quan niệm của Phật là con người sống trong an lạc, giải thoát, không
có áp bức, nô lệ, cũng không bị chi phối bởi ngũ dục. Con người bị ràng buộc bởi
ngoại cảnh và một phần bởi nội tâm. Những sự áp bức, những day dứt gây ra bởi dục
vọng còn khắc nghiệt bằng vạn ngoại cảnh. Nhà lao, cường quyền, tham nhũng, tàn
ác còn chưa khắc nghiệt bằng cái ta ích kỷ. Từ đó, Phật chú trọng đến giải phóng con
người ra khỏi xiềng xích của dục vọng bằng phương pháp tu hành diệt dục. Để sống
tự do phật tử phải đấu tranh với bản thân mình để diệt trừ dục vọng và đấu tranh để
chống mọi sự áp bức bất công.
Người ta gọi đạo phật là đạo từ bi, người tu hành là người giàu lòng từ bi.
Từ là hiền hoà, cho vui.
Bi là thương xót, cứu khổ.
Từ bi là đen lại an lạc, hạnh phúc cho người khác, cứu khổ, cứu nạn cho chúng
sinh, quên đi mọi ích lợi của bản thân mình. Nhưng từ bi không phải là thủ tiêu mọi
sự đấu tranh, giữ thái độ tiêu cực, thụ động trước mọi sự bất công, áp bức, tham
nhũng. Có sức mạnh hung bạo thì phải có sức mạnh của từ bi để chống lại. Sức mạnh
đó thể hiện bằng sự giáo hoá và bằng cả bạo lực, bạo lực từ bi.
Hai chữ từ bi càng đẹp biết bao nhiêu đối với những con người thực tâm tu luyện
thì càng xấu xa bao nhiêu đối với những kẻ lợi dụng đạo để mưu cầu lợi ích cho
mình. Vấn đề giải thoát là vấn đề cơ bản trong đạo Phật vì mục đích cuối cùng của
đạo Phật là giải thoát con người khỏi cuộc sống đau khổ trong vô minh.

hoạt động tín ngưỡng. Giáo lý là một hệ thống các quan điểm về thế giới và con
người, về cách thức tu luyện và hoạt động tín ngưỡng, là những hành vi, những nghi
lễ cần phải thực hiện để đạt tới ước nguyện. Cả hai đều có ý nghĩa đối với việc hình
thành nhân cách của các tín đồ.
Hơn lúc nào hết, trong mấy chục năm qua người Phật từ Việt Nam hiện nay rất
chăm lo đến việc thực hiện các nghi lễ của đạo mình. Họ chăm chú lên chùa trong
những ngày sóc, vọng; họ trân trọng và thành kính trong lúc thực hành các nghi lễ;
họ siêng năng trong việc thiền định, giữ giới, làm thiện. Mặt khác, nhà chùa luôn sẵn
sàng thực hiện các yêu cầu của họ như giải oan, cầu siêu. Tất cả những điều đó vừa
củng cố niềm tin vào giáo lý, vừa quy định tư duy và hành động của họ, tạo cơ sở để
hình thành những nhân cách riêng biệt.
Con người Phật giáo nhìn sự vật trong mối quan hệ nhân quả, xem cái gì cũng là
kết quả của một cái trước và là nguyên nhân của cái sau. Mỗi khi gặp một sự việc hệ
trọng có liên quan đến bản thân hay người nhà, họ đều nghĩ đến nguyên nhân để tìm
cách khắc phục. Học còn nhìn thế giới, xã hội con người ở trong dòng vận động
không ngừng, ở đó không có cái gì là tồn tại mãi, cái gì cũng đang chuyển biến từ cái
này sang cái khác. Khi người thân trong gia đình lão già, yếu đau, chết chóc, họ đều
xem đó là điều không thể tránh khỏi và lấy đấy làm điều an ủi. Lý thuyết nhân duyên
sinh, vô thường, vô ngã của nhà Phật đã chi phối ý nghĩ và hành động của họ.
Nhân cách Phật giáo đã góp phần làm nên nhân cách của con người Việt Nam
ngày nay. Nhân cách đó có tác dụng hai mặt. Mặt tích cực là chấp nhận sự biến đổi
của thế giới và con người, sống có nền nếp, trong sạch, giản dị, quan tâm đến nỗi
khổ của người khác, thương người, vị tha, cứu giúp người hoạn nạn, hành động thì
lấy tự giác làm đầu Mặt tiêu cực là nhìn đời một cách bi quan, có pha trộn chất hư
vô chủ nghĩa, nặng về tin tưởng ở quyền năng và phép màu nhiệm của một vị siêu
nhiên mà nhẹ về tin tưởng năng lực hoạt động của con người, nếp sống thì khổ hạnh
và không tránh khỏi nương theo những nghi lễ thần bí. Đặc biệt là có hiện tượng mê

Nghệ thuật kiến trúc của đời Lý lại được đời Trần kế tục truyền thống và phát triển
mang tính chất phóng khoáng, khoẻ và hiện thực hơn. Tháp Phổ Minh, Bình Sơn là
những công trình kiến trúc có giá trị ở đời Trần, Tháp Bình Sơn cao 11 tầng, có bố
cục chặt chẽ cân xứng.
Sang đời nhà Nguyễn nghệ thuật kiến trúc có chiều hướng ngày càng sa sút, tuy
nhiên cũng có những sáng tạo nhất định như Văn Miếu ( Hà Nội) và một số đình,
chùa ở các làng. Đỉnh cao của kiến trúc nhà Nguyễn là chùa Tây Phương( Thạch
Thất, Hà Tây) xây dựng thành ba lớp là lối kiến trúc phổ biến của các chùa trong
nam. Chùa Tây Phương cũng là nơi tập trung nhiều pho tượng có giá trị, trong đó nổi
tiếng nhất là chùa Tuyết Sơn và mười tám vị La Hán. Các bức tượng lấy đề tài trong
sự tích đạo Phật nhưng vẫn thế hiện những con người Việt Nam Hiện thực và gợi
cảm.
Ngày nay, những nghệ thuật, kiến trúc đó vẫn còn tồn tại và được trùng tu, sửa
sang để làm nơi du lịch của khách thập phương và nơi lễ bái của nhân dân trong
vùng. Những công trình đó tuy mang đậm dấu ấn Phật giáo nhưng vẫn là sáng tạo
nghệ thuật dân gian phản ánh đời sống tinh thần của con người Việt Nam xưa.
III. Đạo phật với chiến tranh và hoà bình ở Việt Nam.
– Đạo Phật chủ trương từ, bi, hỷ, xả. Xã hội loài người thực hiện được bốn chữ từ,
bi, hỷ, xả trong cuộc sống hàng ngày là một xã hội an lạc, hạnh phúc.
– Đạo Phật chủ trương một cuộc sống vị tha, một cuộc sống hoà hợp, loại trừ mọi
oán thù. Lịch sử Phật giáo chứng minh, trong suốt 2500 năm truyền bá trong khắp cõi
á Đông. Đạo Phật không làm rơ một giọt máu nào.
– Trong giáo lý Phật, ở phần giới luật, giới thứ nhất là giới sát: với giới luật này,
chúng ta càng thấy rõ đạo Phật chủ trương ôn hoà, hoà bình và hoà hợp giữa các dân
tộc, không muốn cho chúng sinh nói chung, loài người nói riêng tàn sát lẫn nhau.
Nhưng ở đây chúng ta phải hiểu giới sát với đúng tinh thần trong giáo Phật.
Giới sát có nghĩa là giới bất tàn sát.

nhận thức được đâu là chiến tranh xâm lược, đâu là chiến tranh vệ quốc và đã kiên
quyết đứng về phía nhân dân. Đó chính là một việc thiện, một cuộc phóng sinh vĩ đại.
IV. Đạo Phật với vấn đề chính trị.
Kể từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo có ảnh hưởng không nhỏ vào đời sống
chính trị xã hội. Ngày nay, người ta nhấn mạnh vai trò chính trị của các nhà sư thời
Lý, Trần, nhấn mạnh ý nghĩa chính trị xã hội trong một số hoạt động của phật tử hiện
đại.
Dưới triều Lý, Trần, các nhà sư trở thành một tầng lớp phong kiến tăng lữ có thế
lực trong xã hội. Nhiều nhà sư tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị và giữ
những cương vị quan trọng trong triều đình. Như sư Vạn - Hạnh là người đã vận
động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua lập ra triều Lý. Sư Đa - Bảo và Viên - Thông
được tham dự, bàn bạc và quyết định các việc trong triều như cố vấn của nhà vua.
Ngày nay, các nhà sư giữ những chức vụ cao trong Giáo hội cũng tham gia vào
hoạt động chính trị. Nhưng bên cạnh những công tác phục vụ cho công cuộc xây
dựng đất nước thì cũng có một số phần tử đã lợi dụng chức vụ của mình để gây rối.
Hay trường hợp của Lê Đình Nhàn ( tức Thích Huyền Quang ) thường xuyên gây
phiền nhiễu với các nhà sư khác cùng tu trong chùa. Thêm vào đó, nhiều vụ tự tử của
các nhà sư với những nguyên nhân ngoài đạo đã bị cách phe phái phản động đưa tin
xấu, coi đó là những hành vi tử vì đạo. Và khi những người đại diện pháp luật can
thiệp thì chúng cho đó là hành vi bắt bố sư sãi, đàn áp Phật giáo.
Để trả lời những thông tin sai lầm đó, chính phủ Việt Nam đã khẳng định luôn
luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân nhưng những kẻ lợi dụng tôn
giáo để hoạt động chính trị cũng sẽ bị xử phạt như bất kỳ một công dân Việt Nam
nào khác. Bởi lẽ bất kỳ một sư sãi của tổ chức nào thì trước hết cũng là công dân của
nhà nước Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo, những người theo
đạo là một bộ phận khăngkhít của khối đại đoàn kết dân tộc đã có những đóng góp
xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, đối với Phật giáo,
chính phủ Việt Nam là không có lý do gì để phân biệt đối xử Phật tử Việt Nam là
những người yêu nước, luôn gắn bó với dân tộc qua mọi bước thăng trầm của lịch sử,
luôn đứng về phía Tổ quốc đấu tranh chống ngoại xâm. Đạo Phật đối với Việt Nam

Người học Phật, tu Phật hàng ngày phải sống với đạo, thực nghiệm đạo, không
một phút nào xa lìa đạo. Trong mọi hoạt động của thân, khẩu, ý đều phải gắn liền với
Đạo, thể hiện Đạo. Với cách sống như thế, người tu hành luôn là người dũng cảm có
đủ nghị lực chiến thắng ngũ dục, chiến thắng những bất công áp bức.
Và một đặc điểm lớn nhất của đạo Phật là suốt đời, Phật không bao giờ tự nhận là
người duy nhất đem lại sự giải thoát cho loài người. Phật nói: Con người ai ai cũng
có Phật tính. Trước người đã có hằng hà sa số Phật.
Sự giải thoát không chỉ nhằm đấu tranh chống những áp bức về xã hội về kinh tế
như lịch sử Phật giáo đã chứng minh mà sự giải thoát nhằm tiêu diệt tận gốc mọi đau
khổ là tham lam và dục vọng. Việc giải phóng này là con người phải tự lực đảm
nhiệm, không ai có thể làm thay được và mỗi người đều coi sự giải thoát là cứu cánh
cuối cùng của cuộc đời.
Như vậy, đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao quý.
Hạnh phúc của con người là do con người xây đắp nên. Con người thấm nhuần giáo
lý Phật, con người vị tha, từ, bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội hoà bình, an lạc, công
bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, còn tập thể.
Trái lại. con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo, độc ác thì
cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã hội của những con
người ấy sẽ là xã hội địa ngục, xã hội áp bức bóc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status