Kỹ thuật nuôi Ba Ba
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA BA BA
Hiểu biết đặc điểm sinh học của ba ba là vấn đề cần thiết để giải
quyết về kỹ thuật nuôi ba ba. Dưới đây là những đặc điểm chủ
yếu mà người nuôi ba ba cần biết
1. Cách phân biệt nhanh các loài ba ba
Ba ba là động vật thuộc lớp bò sát, bộ rùa, họ ba ba
Tryonychidae. Trong họ ba ba có nhiều loài. Các loài thường
gặp trên thị trường ba ba ở nước ta có ba ba hoa, ba ba gai, lẹp
suối và cua đinh.
Ba ba hoa còn gọi là ba ba trơn, phân bố tự nhiên chủ yếu ở các vùng nước ngọt
thuộc đồng bằng sông Hồng.
Ba ba gai phân bố tự nhiên chủ yếu ở sông, suối, đầm hồ, miền núi phía Bắc.
Lẹp suối, còn gọi là ba ba suối, thấy ở các suối nhỏ miền núi phía Bắc, số lượng ít
hơn ba ba gai, cỡ nhỏ hơn hai loài ba ba trên.
Cua đinh, phân bố tự nhiên ở vùng Tây Nguyên, Đông và Tây Nam bộ, dân các
tỉnh phía Bắc gọi là ba ba Nam bộ, ba ba miền Nam để phân biệt với các loài ba ba
ở phía Bắc.
Về tên khoa học của các loài ba ba trên, một số tài liệu phân loại đã ghi: Ba ba hoa
là Trionyx sinensis, ba ba gai là Tryonyx steinachderi, ba ba Nam bộ là Trionyx
cartilagineus. Chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu về việc xác định tên khoa học cho
ba ba và cách phân loại chi tiết 4 loài ba ba trên. Dưới đây chỉ giới thiệu cách phân
biệt nhanh nhất, giúp cho những người nuôi ba ba và người mua ba ba khỏi nhầm
lẫn.
Cách phân biệt nhanh nhất là dựa vào màu da bụng và hoa vân trên bụng.
Da bụng ba ba hoa lúc nhỏ màu đỏ, khi lớn màu đỏ nhạt dần, khi đạt cỡ 2 kg trở
lên gần như màu trắng. Trên nền da bụng điểm khoảng trên dưới 10 chấm đen to
và đậm, vị trí từng chấm tương đối cố định, các chấm đen này loang to nhưng nhạt
dần khi ba ba lớn đần, khi đạt cỡ trên 2 kg phải quan sát kỹ mới thấy rõ.
Da bụng ba ba gai màu xám trắng, trên điểm rất nhiều chấm đen nhỏ, làm da bụng
khác, đồng thời có thể huấn luyện cho ba ba biết ăn thức ăn chế biến ( thức ăn công
nghiệp) ngay từ giai đoạn còn nhỏ.
4. Sinh trưởng:
Ba ba hoa lúc mới nở có quy cỡ từ 3-6g/ con Ba ba gai và ba ba Nam bộ cỡ lớn
hơn. Tốc độ lớn của ba ba phụ thuộc vào loài, kỹ thuật nuôi và điều kiện môi
trường nuôi. Từ cỡ giống 100-200g/con, sau khi nuôi 6-8 tháng, ba ba hoa có thể
đạt cỡ 0,5-0,8kg/con đối với miền Bắc từ 0,8 – 1kg/ con đối với miền Nam. Ba ba
gai nuôi có tốc độ lớn nhanh gấp đôi hoặc trên gấp đôi ba ba hoa.
5. Sinh sản:
Ba ba hoa cỡ 0,5kg mới bắt đầu đẻ trứng lần đầu, tuổi tương ứng là 2 năm. Ba ba
gai cỡ 2 kg trở lên mới bắt đầu đẻ trứng. Trứng ba ba thụ tinh trong.
Ba ba sống dưới nước, nhưng đẻ trứng trên cạn. Đến mùa đẻ, thường là vào mùa
mưa, ba ba ban đêm bò lên bờ sông, bờ ao, hồ tìm chỗ kín đáo, có đất cát ẩm và tơi
xốp bới tổ đẻ trứng. đẻ xong chúng dùng 2 chân trước cào đất lắp kín trứng, dùng
bụng xoa nhẵn mặt đất ổ trứng rồi xuống nước sinh sống, không biết ấp trứng.
trứng nằm trong ổ, trải qua mưa nắng và các điều kiện không thuận lợi về dịch hại,
sau 50-60 ngày nở thành ba ba con, điều kiện ấp tự nhiên này tỷ lệ nở rất thấp.
Trong điều kiện nuôi, con người có thể tạo chỗ cho ba ba đẻ thuận lợi hơn và có
nhiều phương pháp ấp trứng đảm bảo tỷ lệ nở cao trên dưới 90%.
Trứng ba ba phần lớn hình tròn như hòn bi, màu trắng.
Ba ba càng lớn đẻ trứng càng to và càng nhiều.
Ba ba hoa cỡ khoảng 500g đẻ 1 lứa từ 4-6 trứng, đường kính trứng từ 17-19mm,
trọng lượng 3-4g/quả. Ba ba hoa cỡ 1-1,5kg mỗi lứa đẻ từ 8-15 trứng, đường kính
trứng 20-23mm, trọng lượng 4-7g ba ba cỡ 2-3kg có thể đẻ 20-30 trứng một lứa.
Trứng ba ba gai lớn hơn trứng ba ba hoa. Ba ba Nam bộ cỡ 4-4,5kg/con, đẻ trứng
nặng từ 20-25g/quả.
Ba ba có thể đẻ từ 2-5 lứa trong 1 năm, ba ba cái càng lớn, chế độ nuôi vỗ cho ăn
càng tốt đẻ càng nhiều lứa, mỗi lứa cách nhau từ 25-30 ngày.
Tại các tỉnh phía Bắc, một số gia đình có sổ ghi chép theo dõi, bình quân cả đàn ba
ba nuôi trong ao 1 năm đẻ 3, 5 lứa, số trứng ba ba đẻ thu được từ 40-55 quả trên
đình, cơ sở nuôi ba ba có hàng chục ao các loại, xây dựng thành trại nuôi ba ba
hiện không nhiều.
Muốn nuôi ba ba có kết quả tốt, điều quan trọng đầu tiên là phải xây dựng được ao
nuôi phù hợp với điều kiện sống của ba ba và quản lý được đàn ba ba nuôi.
Xây dựng ao nuôi ba ba cần phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật chủ yếu sau:
1. Điều kiện về nguồn nước và chất nước:
a) Có nguồn nước cấp bảo đảm đủ nước nuôi quanh năm, có thể chủ động tháo
nước và thay nước khi cần. Ao có nguồn nước cấp dồi dào, có điều kiện thay nước
luôn có thể áp dụng kỹ thuật nuôi thả mật độ dày, cho ăn thoã mãn để đạt tốc độ
lớn và năng suất cao. Điều kiện cấp nước không chủ động, thay nước khó khăn chỉ
nuôi được mật độ thưa, năng suất thấp hoặc vừa phải.
Cần nhất là trong mùa nắng nóng, trong trường hợp nắng kéo dài, ao nuôi ba ba
vẫn giữ được mức nước nuôi ở độ sâu thích hợp. Thuận tiện nhất là sử dụng nguồn
nước tự chảy, nguồn nước từ sông, suối, kênh, mương, đầm hồ lớn. Nuôi quy mô
nhỏ, nhu cầu lượng nước cấp không nhiều, có thể sử dụng nước giếng khoan, giếng
xây. Ngoài ra một số nơi có điều kiện có thể sử dụng mạch ngầm hoặc nguồn nước
ấm để nuôi trong mùa đông (đối với vùng núi và miền Bắc).
b) Nguồn nước cấp cần sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải hoặc thuốc trừ sâu,
pH từ 6,5 - 8, hàm lượng oxy cao 4mg/l trở lên. Nơi không có điều kiện phân tích
nước, có thể lấy nước sinh hoạt tắm giặt bình thường để làm tiêu chuẩn. Đối với
vùng gần biển, nơi có ảnh hưởng của thuỷ triều và nước lợ, độ mặn của nguồn
nước cấp cho ao nuôi ba ba không quá 3-4%
o.
2. Các yêu cầu kỹ thuật về xây dựng ao nuôi:
a) Nên xây dựng ao nuôi ở nơi yên tĩnh, kín đáo, không bị cớm rợp, dễ thoát nước,
không bị úng ngập, có nguồn nước cấp độc lập để bảo đảm cấp nước sạch.
b) Diện tích ao rộng hẹp vừa phải. Ao rộng nuôi dễ lớn nhanh, nhưng khó quản lý,
đầu tư lớn mới có năng suất sản lượng cao. Ao hẹp dễ quản lý, nhưng nuôi chậm
lớn hơn ao rộng. Diện tích thích hợp với từng loại ao các nơi ta lựa chọn như sau:
- Bể ương ba ba giống cỡ 2-3 tháng tuổi từ 0,7-1m, chứa nước sâu từ 0,4-0,6m.
- Bể ương ba ba giống lớn (4-6 tháng tuổi): từ 0,8-1,2m, chứa nước sâu 0,6-0,8m.
Ao ương sâu từ 1-1,5m, chứa nước sâu 0,8-1m.
- Ao quá rộng và quá sâu không thuận lợi cho công tác quản lý trong quá trình
nuôi.
d) Mỗi ao có cống cấp nước và thoát nước riêng. Cống thoát nước có điều kiện nên
đặt sát đáy ao để dễ tháo cạn và hút bỏ chất cặn bẩn trong ao. Cấp nước vào ao nên
cho chảy ngầm, không xối mạnh trên mặt nước làm ba ba sợ hãi không có lợi cho
sinh trưởng.
e) Có chỗ cho ba ba nghĩ ngơi dưới nước và trên bờ.
- Ba ba ăn no xong thường tìm chỗ nghĩ ngơi thích hợp, rất hay vùi mình xuống
bùn, chỉ để hở trên bùn 2 lỗ mũi để thở. Khi yên tĩnh, nhất là vào các buổi nắng
ấm, ba ba còn hay bò lên bờ hoặc trèo lên vật nổi trên mặt ao để phơi nắng (có nơi
gọi là phơi lưng, tắm nắng ) cho đến khi mặt da khô hết nước dính mới xuống
nước trở lại. Ba ba phơi nắng như vậy có tác dụng rất tốt, có thể tự chữa khỏi các
bệnh nấm nước, bệnh lỡ loét khi vết thương còn nhẹ. Trên thực tế thì những ao
nuôi không có điều kiện cho ba ba phơi nắng, ba ba rất hay bị bệnh.
- Cách tạo chỗ cho ba ba rúc nằm dưới đáy ao:
+ Vét hết bùn bẩn trong ao, để đáy trơ, sau đó đổ lớp cát non (cát mịn sạch) hoặc
cát pha bùn sạch lên trên, diện tích rải cát bùn từ 20-100% diện tích đáy ao, bể, tuỳ
mật độ nuôi dày hay thưa chiều dày lớp cát bùn từ 4-15cm tuỳ theo cỡ ba ba lớn
nhỏ, bể ương ba ba mới nở chỉ cần lớp cát dày 3-4cm, ao nuôi ba ba bố mẹ hoặc ba
ba thịt đã lớn lớp cát cần dày 10-15cm, đủ cho ba ba vùi kín mình 3-5cm. Không
nên dùng cát thô (cát già), cát bẩn có lẫn nhiều mảnh cứng sắc cạnh rải đáy cho ba
ba nằm vì ba ba tạo lực xoáy rất mạnh, dễ bị cọ sát mất nhớt, rách da chảy máu và
từ chỗ chảy máu dễ bị nhiễm trùng sinh bệnh. Đáy đổ cát mịn dễ xử lý hơn đáy
bùn mỗi khi cần tẩy dọn ao, nhưng một số người cho rằng để đáy bùn sạch nuôi ba
ba bóng đẹp hơn. Cũng không nên dùng lớp bùn cát quá dày, vừa tốn cát, vừa khó
xử ký khi bắt ba ba mỗi khi cần tẩy dọn ao và thay cát đáy.
+ Có nhiều cách tạo chỗ cho ba ba bò lên phơi nắng: Đơn giản nhất là thả một số
ba ở rìa ao để ba ba tập trung đẻ nhanh, không mất trứng, giảm tỷ lệ trứng hư hỏng.
Nhà đẻ xây ở một phía bờ ao, có cửa thông với ao rộng 0,5-0,6m có lối dốc thoai
thoải cho ba ba bò lên. Diện tích nhà đẻ từ 2-6m
2
, mỗi m
2
cho 15-20 con vào đẻ.
Nền nhà đẻ cao hơn mực nước ao 0,4-0,5m để không bị ngập nước. Dùng gạch xây
xung quanh, trong đổ cát sạch , ẩm (nên dùng cát mịn, để cát ướt nhão hoặc khô
rời, ba ba không đẻ), lớp cát dày 20-25cm để ba ba bới tổ đẻ trứng. Nhà đẻ cần lợp
mái che mưa nắng, tạo yên tĩnh cho ba ba vào đẻ. Đáy nền nhà đẻ cần có lỗ thoát
nước, không để cát bị đọng nước làm hỏng trứng.
- Các ao không làm nhà cho ba ba đẻ, ba ba phải tự tìm chỗ thích hợp xung quanh
bờ ao để đẻ trứng, trứng dễ bị thất lạc và hư hỏng nhiều.
KỸ THUẬT SẢN XUẤT BA BA GIỐNG
Từng gia đình có thể tự sản xuất ba ba giống để nuôi hoặc để kinh doanh. Những
năm vừa qua đã có khoảng 10-15% số hộ gia đình nuôi ba ba chuyên sản xuất ba
ba giống để bán, có người bán loại từ mới nở đến 1 tháng tuổi là chính, có người
mua loại mới nở về ương thành con giống cỡ 15-20g hoặc từ 50-150g để bán kiếm
lời, có người mua giống nhỏ về ương thành giống lớn hoặc mua giống về nuôi
thành ba ba thịt. Từ năm 1996 trở về trước, giống ba ba khá đắt nhưng vẫn không
đủ cung cấp cho người nuôi. Sang năm 1997, giá ba ba giống giảm hơn các năm
trước, một phần do ảnh hưởng của giá ba ba thịt giảm, một phần do nhiều người
sản xuất, lượng ba ba giống trên thị trường nhiều hơn các năm trước, đồng thời
cũng bị ảnh hưởng ít nhiều của ba ba giống nhập nội thấp
Những năm tới muốn phát triển sản xuất ba ba giống có lãi nhiều cần đặc biệt lưu ý
áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng năng suất, hạ giá thành sản xuất ba ba giống.
Sản xuất ba ba giống gồm 3 khâu kỹ thuật chủ yếu: nuôi vỗ ba ba bố mẹ sinh sản,
thu trứng và ấp trứng, ương nuôi ba ba giống.
nhất là 1/2,5-3 (một con đực ghép với 2,5 đến 3 con cái). Tuy nhiên, có một số
người nuôi ghép tỷ lệ 1/4 đến 1/5 vẫn đạt kết quả tỷ lệ trứng thụ tinh cao. Thả
nhiều ba ba đực có hại vì chúng hay cắn nhau sinh bệnh, hay quấy nhiễu ba ba cái
làm ba ba cái sinh sản không bình thường, lại vừa tốn thức ăn.
f) Lựa chọn mật độ nuôi thích hợp. Những năm qua đã có người nuôi mật độ cao
tới 2-3kg/m
2
, nhưng trong điều kiện nuôi bình thường, mật độ nuôi phổ biến và
thích hợp chỉ nên từ 0,5-1kg/m
2
hoặc 0,5-1 con/m
2
. Nuôi mật độ dày hơn, điều
kiện cho ăn và thay nước không đầy đủ, ba ba đẻ kém , dễ sinh bệnh.
g) Chăm sóc và quản lý tốt.
2. Thu trứng và ấp trứng ba ba:
Trứng ba ba ấp nở tự nhiên tỷ lệ nở rất thấp, thời gian ấp nở lâu.
Muốn ấp nở nhanh, tỷ lệ nở cao cần phải có kỹ thuật.
Hiện nay, những người sản xuất giỏi có thể đạt tỷ lệ nở trên dưới 90%, có người
đạt 100% so với số trứng thụ tinh đem ấp và rút ngắn được thời gian ấp nở từ 5-10
ngày so với bình thường.
Muốn ấp nở tốt, trước hết phải biết kỹ thuật thu trứng. Nên theo dõi ba ba đẻ, thu
trứng vào các buổi sáng, lúc ba ba đẻ rộ thu hàng ngày, lúc ba ba đẻ thưa 3-5 ngày
thu 1 lần, không nên để ba ba đẻ sau 15-20 ngày mới thu trứng đem ấp. Các quả
trứng nhỏ, hình dạng không bình thường và trứng không thụ tinh cần loại ngay, chỉ
giữ trứng thụ tinh để ấp. Trứng thụ tinh phần lớn tròn, vỏ trứng có màu sắc bình
thường, phần trên màu trắng là túi chứa hơi để phôi thở, phần dưới màu phớt hồng
là phần phôi và noãn hoàn (lòng đỏ trứng). Trứng hỏng (không thụ tinh) màu sắc
không bình thường, hay có vết đốm loang lỗ , không phân biệt rõ 2 phần như trứng
thụ tinh. Cần ghi chép các số liệu từng ao nuôi về ngày đẻ, ngày thu trứng ấp, số
C, ở nhiệt độ này thời gian ấp chỉ 45-50 ngày nhiệt độ ấp cao hơn 1-2 độ thời
gian ấp có thể rút ngắn 4-5 ngày nhưng để không an toàn. Dưới 20
o
C và trên 35
o
C
phôi trứng bị chết, ấp không nở được. Khi thấy trứng sắp nở (mổ mỏ, có chỗ nứt
vỏ) cần đặt khay nước sạch hoặc bát nước vào giữa khay, chậu ấp trứng, ba ba con
nở ra biết tự bò vào nước cũng có thể kê khay chậu ấp trứng trên 1 chậu to hoặc bể
con, trong chậu hoặc bể chứa nước, ba ba con nở ra tự nhảy vào nước. Nếu không
để sẵn nước, ban đêm chậm biết, ba ba con bị khô da sẽ chết.
Quá trình quản lý ấp trứng, có thể bới cát kiểm tra trứng, nhưng không được đảo
trứng, đồng thời cần có các biện pháp bảo vệ không cho kiến, chuột, rắn, mèo, gà
lọt vào ăn hại trứng và ba ba con.
Nhặt ba ba mới nở vào chậu nước sạch, chọn những con khoẻ mạnh, đã “ rụng rốn”
để đưa vào bể ương.
3. Ương nuôi Ba ba giống:
Để đảm bảo ương từ ba ba mới nở thành ba ba giống có tỷ lệ sống cao, nên chia
thành 3 giai đoạn ương. Dưới đây chủ yếu giới thiệu kỹ thuật ương ba ba hoa.
Giai đoạn 1: Ương từ lúc mới nở cỡ 4-6g thành cỡ 15-25g. Thời gian ương nhanh
từ 25-30 ngày. Chăm sóc kém thời gian có thể kéo dài gấp đôi. Ba ba nở đầu vụ và
giữa vụ, đúng mùa sinh trưởng ương lớn nhanh hơn ba ba nở cuối vụ. Ba ba mới
nở do quy cỡ còn nhỏ, sức yếu, cơ quan tiêu hoá chưa hoàn chỉnh nên cần được
chăm sóc tỉ mỉ trong các bể nhỏ có diện tích từ 1m
2
đến 10m
2
. Mức nước trong bể
ương từ 10-15cm mấy ngày đầu tăng dần đến 40cm vào cuối tháng. Không nên để
nước quá sâu vì ba ba con luôn phải ngoi lên mặt nước thở, tốn năng lượng, ảnh
,
cao nhất 15 con /m
2
. Cho ăn no đủ bằng cá mè luộc, gỡ cho ăn, cũng có thể cá băm
nhỏ cho ăn vào sáng, chiều. Quản lý chăm sóc tốt, tỷ lệ sống có thể đạt 90-100%.
Cần định kỳ 1 tháng kiểm tra 1 lần để phân cỡ, tách con to con nhỏ nuôi riêng ao.
Quá trình nuôi cần đảm bảo ao bể ương có nhiệt độ thích hợp từ 25-33
o
C.
* * * KỸ THUẬT NUÔI BA BA THỊT
Ba ba thịt còn gọi là ba ba thương phẩm, quy cỡ xuất bán từ 0,4kg trở lên, chủ yếu
từ 0,5-0,8kg/con. Hiện thị trường trong nước nhu cầu còn ít, sản phẩm nuôi được
chủ yếu để xuất khẩu. Mùa tiêu thụ rải rác quanh năm, nhưng tập trung chủ yếu
vào các tháng cuối năm.
Muốn nuôi ba ba thịt lớn nhanh, tỷ lệ sống cao, lãi nhiều, cần thực hiện tốt các biện
pháp kỹ thuật sau:
a) Trước khi thả giống cần chuẩn bị ao bể nuôi đảm bảo chất nước và chất đáy
sạch.
b) Cần thả giống sớm để tranh thủ nuôi được hết các tháng có nhiệt độ sinh trưởng
thích hợp nhất. Các tỉnh phía Bắc thả từ tháng 3, tháng 4, các tỉnh phía Nam thả từ
tháng 1, tháng 2 nuôi đến cuối năm thu hoạch.
c) Cỡ giống thả từ 100-200g/con. Trong một ao thả cùng cỡ chọn ba ba giống khoẻ
mạnh, không mang mầm bệnh. Người mua ba ba để nuôi nên tìm hiểu kỹ, mua từ
các cơ sở dịch vụ giống đáng tin cậy.
d) Mật độ nuôi từ 1-5 con/m
2
, tối đa 1kg/m
• Côn trùng: chủ yếu là trùn quế, giun đất, nhộng tằm. Trùn quế có thể nuôi số
lượng nhiều để chủ động, giun đất có thể nuôi để cho ăn, có thể bắt giun tự
nhiên.
• Động vật khác: thường là tận dụng thịt của các động vật rẻ tiền không thuộc
diện dùng làm thực phẩm cho người, và thịt phế liệu của các xí nghiệp chế biến
thực phẩm như cá, tôm, mực, gia súc, gia cầm
3. Thức ăn khô : Một số nơi có điều kiện có thể sử dụng cá khô nhạt, tôm khô
nhạt loại rẻ tiền để cho ăn kèm thức ăn tươi hàng ngày hoặc dự trữ cho ăn khi
thiếu thức ăn tươi.
4. Thức ăn công nghiệp: Nước ta chưa sản xuất thức ăn công nghiệp chuyên
dùng cho Ba Ba. Trên thế giới, một số nước đã sử dụng khá phổ biến, hiệu quả
kinh tế cao. Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn rất toàn diện, đặc biệt hàm
lượng đạm rất cao, thức ăn nuôi Ba Ba giống có hàm lượng đạm 50-55%, thức ăn
nuôi Ba Ba thịt có hàm lượng đạm trên dưới 45%.
5. Cách cho ăn thức ăn tươi sống:
- Cho ăn theo địa điểm qui định để Ba Ba quen ăn, dễ theo dõi thức ăn hàng ngày,
dễ làm vệ sinh khu vực cho ăn.
- Động vật cỡ nhỏ Ba Ba ăn vừa miệng, có thể nuốt được cả con thì cho ăn cả con,
động vật cỡ lớn cần băm thái thành nhiều miếng cho Ba Ba ăn đều.
- Các phần cứng Ba Ba không ăn được như đầu cá, vây cá, vỏ động vật nhuyễn thể,
xương động vật nên sử dụng chăn nuôi động vật trên bờ, không bỏ xuống ao làm
tăng khả năng ô nhiễm nước ao.
- Rửa sạch thức ăn trước khi cho ăn.
- Ba Ba mới nở ngày cho ăn 3-4 lần, Ba Ba giống 2-3 lần, Ba Ba thịt và Ba Ba bố
mẹ 1-2 lần/ ngày, lượng cho ăn buổi tối nhiều hơn buổi sáng.
- Lượng thức ăn cho ăn trong một ngày đêm: Ba Ba mới nở 15-16%, Ba Ba giống
10-12%, Ba Ba thịt và Ba Ba bố mẹ 3-6% so với trọng lượng Ba Ba nuôi trong ao.
- Nên cho ăn nhiều loại thức ăn động vật để bổ sung dinh dưỡng cho nhau. Không
nên chỉ cho ăn một thứ duy nhất vì chất dinh dưỡng sẽ không đầy đủ.
- Ba Ba mới nở cho ăn bằng động vật phù du (thuỷ trần), giun nước (trùng chỉ),
e) Mùa hè nhiệt độ cao cần chống nóng cho ba ba, không để nhiệt độ nước ao, bể
nuôi vượt quá 33
o
C. Các biện pháp thông thường: làm giàn che mát, thả rong, bèo
trong ao, giữ nước sâu, thay nước mới Mùa lạnh cần chống rét cho ba ba (các tỉnh
phía Bắc), cố gắng giữ cho nhiệt độ nước ao nuôi luôn trên 15
o
C. Các biện pháp
thông thường: giữ nước ao sâu trên 1,5m, đáy ao có lớp bùn pha cát dày 20-25cm
cho ba ba rút nằm, mặt ao thả bèo kín hoặc che chắn đỡ bị gió lạnh làm ảnh hưởng
tới sức khoẻ, nơi có nguồn nước nóng nên tận dụng đưa qua ao nuôi, nâng nhiệt độ
nước ao nuôi lên 20-30
o
C.
f) Thực hiện tốt các biện pháp phòng bệnh cho ba ba.
2. Phòng bệnh cho ba ba:
Nuôi ba ba nếu để chết nhiều sẽ bị lỗ. Kinh nghiệm cho thấy phải làm công tác
phòng bệnh là chính. Nhiều gia đình không hiểu biết hoặc coi nhẹ công việc phòng
bệnh, đã bị thiệt hại khá lớn. Qua các gia đình nuôi kết quả liên tục nhiều năm đều
tốt, một trong những yếu tố quyết định là thực hiện tốt việc phòng bệnh.
Ba ba là một động vật rất khoẻ, sống trong hồ tự nhiên rất ít khi bị bệnh. Ba ba
nuôi ở các ao rộng, mật độ thưa cho ăn và chăm sóc quản lý tốt cũng rất ít khi bị
bệnh. Ba ba nuôi trong các ao, bể nhỏ, mật độ nuôi dày, điều kiện thay nước kém,
cho ăn và chăm sóc quản lý không cẩn thận rất hay sinh bệnh.
Cần thực hiện tốt những biện pháp phòng bệnh sau đây:
1. Cẩn thận khi chọn mua ba ba giống về nuôi, tránh mua phải loại ba ba đang có
bệnh. Không để ba ba cắn nhau, cào móng vào lưng nhau, bài tiết nước tiểu lên
nhau, đè lên nhau ngạt thở trong lúc bắt và vận chuyển từ nơi mua về nơi nuôi.
2. Ao nuôi cần tẩy dọn sạch sẽ trước khi thả ba ba. Ao, bể mới xây cần ngâm nước
thau rửa nhiều lần cho sạch, thử độ pH còn 7-8 hoặc thả thử ba ba vào thấy an toàn
khu vực cho ba ba ăn, mỗi túi 5-10g, thuốc ngấm dần ra ao, khi hết thay túi khác.
Cũng có thể rắc thuốc trực tiếp xuống ao với lượng 5-10g/100m
3
nước, 15-30 ngày
thực hiện một lần. Quan trọng nhất là thực hiện vào lúc giao thời giữa mùa đông và
mùa xuân, giữa mùa thu và mùa đông, có nhiệt độ nước thấp 15-22
o
C kéo dài.
6. Khi thấy ba ba bị bệnh hoặc nghi bị bệnh cần bắt nhốt riêng theo dõi, chữa trị,
đồng thời có biện pháp tăng cường xử lý vệ sinh môi trường ao để ngăn những con
khoẻ không bị lây bệnh.
CÁCH CHỮA CÁC BỆNH THƯỜNG GẶP CHO BA BA
Ba ba nuôi có nhiều loại bệnh. Công tác nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm chữa
bệnh cho ba ba ở nước ta triển khai còn ít.
Bước đầu chúng tôi xin giới thiệu những kết quả đã nghiên cứu và tổng kết được
về cách chữa một số bệnh thường gặp và gây hại nhất đối với ba ba là bệnh nấm
thuỷ mi, bệnh kí sinh đơn bào và bệnh viêm loét do nhiễm khuẩn.
1. Chữa bệnh nấm thủy mi và kí sinh đơn bào:
Bệnh nấm thuỷ mi: lúc đầu trên da, cổ, chân của ba ba xuất hiện những vùng
trắng xám, trên đó có các sợi nấm mềm. Sau vài ngày sợi nấm phát triển thành búi
trắng như bông, có thể nhìn thấy bằng mắt thường, để dưới nước nhìn rõ hơn ở trên
cạn. Khi ba ba bị viêm loét, trên vết loét có thể do nấm kí sinh phát triển làm cho
bệnh nặng thêm, dễ chết hơn. Khả năng lây lan của bệnh này rất nhanh.
Bệnh kí sinh đơn bào: do loại kí sinh trùng có dạng hình chuông hoặc hình phểu
lật ngược kí sinh trên da, trên cổ và kẽ chân ba ba. Khi bệnh phát triển nhiều, mắt
thường có thể nhìn thấy được như sợi bông, nhưng dễ nhầm với nấm thuỷ mi nếu
không kiểm tra qua kính hiển vi. Ba ba con bị bệnh này nhiều hơn ba ba lớn.
Cách chữa chung cho 2 loại bệnh này là:
- Bắt ba ba bệnh thả vào chậu, tắm bằng thuốc xanh malachit nồng độ 2-4ppm (2-
4g/m
Ngoài ra, khi thấy ba ba có nhiều vết sưng đỏ có thể tiêm thuốc kháng sinh
Chloramphenicol với liều lượng 100 – 150 mg/kg hoặc tiêm Streptomycin với liều
50-100mg cho 01 kg ba ba. Cần tiêm liền 2-3 lần trong 01 tuần. Một số người đã
chữa khỏi bệnh cho ba ba bằng cách này.