1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Mâu thuẫn biện chứng trong
quá trình xây dựng nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần.” 2
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
-Văn kiện đại hội Đảng VI
-Văn kiện đại hội Đảng IX
-Văn kiện đại hội Đảng X
-Tap chí cộng sản điện tử
luận triết.
4
B.NỘI DUNG CHÍNH
I.CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI
1.CƠ SỞ LÍ LUẬN
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
*Mặt đối lập
Mỗi sự vật hiện tượng luôn chứa đựng những mặt tráI ngựơc
nhau.Những mặt tráI ngược nhau đó phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối
lập.
Vậy,mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm ,những thuộc tính,
những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau
Ví dụ:trong nguyên tử có điện tích dương và điện tích âm,trong sinh vật
có đồng hoá và dị hoá,trong kinh tế có quy luật cung và cầu,trong vật lí có
quá trình ngưng tụ và bay hơi….
Các mặt đối lập tồn tại độc lập, khách quan và phổ biến trong tất cả các
sự vật ,hiện tượng. Nhưng chỉ có những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trong
cùng một sự vật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngược
chiều nhau, bài trừ, phủ định và chuyển hoá lẫn nhau (Sự chuyển hoá này tạo
thành nguồn gốc động lực, đồng thời quy định bản chất, khuynh hướng phát
triển của sự vật) thì có hai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối lập mâu
thuẫn. Trong một sự vật hiện tượng không phảI chỉ tồn tại hai mặt đối lập mà
6
xuất được coi là thoả đáng phái có tác dụng định hướng, chỉ dẫn cho việc xây
dựng quan hệ sản xuất, sao cho những quan hệ sản xuất có khả năng phù hợp
cao nhất với lực lượng sản xuất.
Theo nghĩa hẹp sự thống nhất được hiểu là sự đồng nhất ,sự phù hợp,sự
tác động ngang nhau,hay nói cách khác là giữa các mặt đối lập có các điểm
giống nhau.Thống nhất trong trường hợp này được hiểu như là một trạng tháI
mà những yếu tố chung của hai mặt đối lập giữ vai trò chi phối.Đó là một
trạng tháI cân bằng của mâu thuẫn.Tuy nhiên , khái niệm thống nhất này
chỉ mang tính tương đối,tạm thời.
*Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ
phủ định lẫn nhau
Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt trong thế
giới khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau,tuỳ thuộc vào tính
chất ,vào mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể
diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng. Đấu tranh trongmỗi lĩnh vực ,mỗi thời kì
lịch sử,mỗi trình độ,và bản thân từng mâu thuẫn cũng khác nhau.
Qúa trình đấu tranh của các mặt đối lập được chia làm nhiều giai đoạn:lúc đầu
mới xuất hiện mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản ,nhưng thưo xu hướng
trái ngựoc nhau. Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác nhau nào cũng được gọi
là mâu thuẫn. Chỉ có những khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệ
hữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trong
của sự phát triển thì hai mặt đối lập ây mới hình thành bước đầu cuả một mâu
thuẫn Sự khác nhau đó ngày càng phát triển và đi đến đối lập. Khi hai mặt
đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện ,mâu thuẫn nảy sinh và yêu cầu phải
giải quyết mâu thuẫn .
Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến đấu
tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới ở trình độ cao hơn.
+ Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để thành hai
mặt đối lập mới hoàn toàn.
Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nến kinh tế kế hoạch hoá tập trung,
quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
*Mâu thuẫn là nguồn gốc,động lực của sự vận động và phát triển
Có nhiều hình thức đấu tranh nhưng tính chất chung,cơ bản của mọi cuộc đấu
tranh là đi đến cái mới ,xoá bỏ cái cũ,cái không phù hợp. . Cứ như thế, đấu
tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp lên
cao.Vậy,đấu tranh là động lực của sự phát triển.Lênin khẳng định “sự phát
triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đôi lập”.
Vậy, Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến.
Trong một mâu thuẫn có sự thống nhất của các mặt không tách rời sự đấu
tranh của chúng, bất cứ một sự thống nhất nào của các mặt đối lập mang tính
chất tạm thời tương đối còn sự đấu tranh là tuyệt đối. Đấu tranh giữa các mặt
đối lập là nguồn gốc của sự phát triển.
2,CƠ SỞ THỰC TẾ
Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế hàng hoá nhiêù thành phần 9
Theo quan điểm của đại hội VI của Đảng đến nay, theo đường lối đổi mới,
đất nước ta đã từng bước chuyển sang nên kinh tế thị trường với định hướng
xã hội chủ nghĩa.
trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nó đạt tới đỉnh cao đến mức chi phối toàn bộ
cuộc sống của con người trong xã hội đó, làm cho người ta nghĩa rằng nó
chính là chủ nghĩa tư bản. Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu. Vấn đề ở đây là
liệu kinh tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không, và liệu việc xây
dựng chủ nghĩa xã hội có đi đến phủ định kinh tế thị trường để rồi tạo nên một
nền kinh tế hoàn toàn khác về chất là kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế vận
động theo các quy luậtd dặc thù của chủ nghĩa xã hội hay không? Câu trả lời
là không. Quan điểm này cũng chính là quan điểm của Đại hội VIII (1996)
khi Đại hội chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà
nước theo định hướng, xã hội chủ nghĩa”.
Bước III: Coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh
tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ. Đại hội IX của Đảng (2001)
ghi rõ: Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính
sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế
thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó
chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mục đích của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản
11
xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn
liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản
lý và phân phối.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước
cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Theo Nghị
quyết của Đại hội IX, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
lợi ích thiết thực như :giảI phóng sức lao động ,khai thác và phat huy nguồn
lực của đất nước qua việc khai thác và sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng
hợp ,tạo việc làm,kích thích động lực cạnh tranh và phát triển kinh tế thị
trường ,thúc đẩy đổi mới kĩ thuật và công nghệ,tạo tiền đề khắc phục tình
trạng độc quyền,phát triển lực lượng sản xuất ,giảm sự căng thẳng về cung
cầu hàng hoá ,nâng cao đời sống của nhân dân
-Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế , nhà nước XHCN phảI tiến
hành hợp tác đầu tư với nước ngoài .Do đó ,tất yếu phảI cùng với nhà nước tư
bản,các công ty trong và ngoài nước tiến hành hợp tác kinh doanh ,tạo lập lực
lượng kinh tế dân tộc ,làm ra đời và phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài và kinh tế tư bản nhà nước
Khẳng định sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần ở VIệT NAM ,đảng ta
nêu quan điểm :”chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược
lâu dài ,có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đI lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện
13
tinh thn dõn ch v kinh t bo m cho mingi c t do lm n theo
phỏp lut .Nh nc cn cú chớnh sach phự hp vi tng thnh phn kinh t
nhm thỳc y lc lng sn xut phat trin v nõng cao hiu qu kinh t xó
hi
2,Đặc điểm nền kinh tế nhiều thành phần ở VIệT NAM
*Nn kinh t th trng nh hng xó hi ch ngha nc ta hin nay cú 5
thnh phn
-kinh t nh nc
-kinh t tp th
-kinh t t nhõn: bao gm kinh t cỏ th , tiu ch ,t bn t nhõn
-kinh t t bn nh nc
-kinh t cú vn u t nc ngoi
3.NHỮNG THÀNH CÔNG SAU HƠN 20 NĂM XÂY DỰNG NỀN
KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN
3.1- Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 5 năm (2001 - 2005) tăng bình quân
7,5%/năm. Năm 2005, GDP theo giá hiện hành ước đạt 838 nghìn tỉ đồng,
bình quân đầu người trên 10,0 triệu đồng (tương đương khoảng 640 USD).
Nông nghiệp tiếp tục phát triển khá. Năng suất, sản lượng và hàm lượng
công nghệ trong sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản tăng đáng kể;
an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm; một số sản phẩm xuất khẩu
chiếm được vị trí cao trên thị trường thế giới, bình quân lương thực đầu
15
người tǎng.Trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng đã có bước tiến.Kết cấu hạ
tầng tiếp tục được đầu tư nhiều hơn. Bộ mặt nông thôn, đời sống nông dân,
kể cả ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số, có bước được cải thiện. Chương
trình xây dựng cụm tuyến dân cư và nhà ở vượt lũ ở đồng bằng sông Cửu
Long đạt được kết quả bước đầu.
Công nghiệp và xây dựng liên tục tăng trưởng cao. Công nghiệp có bước
chuyển biến tích cực về cơ cấu sản xuất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh
tranh. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước đạt 574 nghìn tỷ đồng,
tăng 17,1% so với năm 2006; trong đó, khu vực ngoài quốc doanh tăng
20,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2% và khu .vực doanh
nghiệp nhà nước tăng 10,3% Một số sản phẩm công nghiệp đã cạnh tranh
được trên thị trường trong và ngoài nước. Ngành xây dựng có năng lực xây
dựng tăng khá nhanh và có bước tiến đáng kể theo hướng hiện đại; việc xây
dựng đô thị, xây dựng nhà ở đạt nhiều kết quả.
Dịch vụ có bước phát triển cả về quy mô, ngành nghề, thị trường và có tiến
bộ về hiệu quả với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Giá trị sản xuất
của các ngành dịch vụ tăng.
Dịch vụ vận tải tăng nhanh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu. Bưu chính -
đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là giải quyết việc
làm và cải thiện đời sống nhân dân; trong đó, kinh tế hợp tác và hợp tác xã
phát triển khá đa dạng Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng
tương đối caolà cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ,
17
giao thương quốc tế. Kinh tế tư nhân phát triển không hạn chế về quy mô và
địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm
3.3- Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh
Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh. Vốn đầu tư của dân tăng nhanh.Đầu
tư đã tập trung hơn cho những mục tiêu quan trọng. Quy mô vốn đầu tư ở
các vùng đều tăng; vùng nghèo, xã nghèo được Nhà nước quan tâm đầu tư
nhiều hơn.
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đã tập trung cho việc xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế, xã hội, phát triển nguồn nhân lực, xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ
các vùng khó khăn. Vốn đầu tư của doanh nghiệp tăng nhanh, không chỉ
phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ mà còn tham gia
đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị. Vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục được duy
trì và tăng thêm, tạo nhiều công trình kết cấu hạ tầng và sản phẩm xuất khẩu.
Không chỉ có nguồn vốn ngân sách nhà nước tăng lên mà nguồn vốn huy
động từ xã hội cho đầu tư phát triển cũng rất khả quan .Năm 2007 khoảng
462,2 nghìn tỷ đồng, bằng 40,5% GDP, tăng 15,9% so với năm 2006; trong
đó nguồn vốn từ khu vực dân cư và tư nhân chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội, tăng 19,5% so với năm 2006.
Đầu tư đã làm tăng đáng kể năng lực sản xuất, kinh doanh, tạo nhiều sản
phẩm có sức cạnh tranh, hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình kết
cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, trong đó có nhiều công trình lớn, tăng cường tiềm
lực và cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế.
3.4- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng
Xuất khẩu, nhập khẩu tăng nhanh. Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 ước đạt
48.387 tỷ USD, vượt 3,4% kế hoạch và tăng 21,5% so trước. Thị trường xuất
khẩu được mở rộng sang một số nước và khu vực, nhất là Hoa Kỳ.
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới
WTO vào ngày 11/01/2007
4.CÁC HẠN CHẾ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ
HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN .
4.1)Chất lượng phát triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh
tế còn kém .
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng,
vào những ngành và những sản phẩm truyền thống, công nghệ thấp, tiêu hao
vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động. Năng suất lao động
tăng chậm và còn thấp so với nhiều nước trong khu vực. Khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế còn kém; chi phí kinh doanh cao, chất lượng và hiệu quả còn
thấp Chưa thực hiện thật tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và
công bằng xã hội. Môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.Nguồn lực của đất nước chưa được sử
dụng có hiệu quả cao, tài nguyên, đất đai và các nguồn vốn của Nhà nước còn
bị lãng phí, thất thoát nghiêm trọng. Các nguồn lực trong dân còn nhiều tiềm
năng chưa được phát huy.
4.2)Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm
Về chuyển dịch cơ cấu ngành: Mặc dù có tốc độ tăng cao trong những năm
gần đây, nhưng tỉ trọng dịch vụ trong GDP còn thấp, các loại dịch vụ cao
cấp, có giá trị tăng thêm lớn chưa phát triển mạnh. Trong nông nghiệp, sản
xuất chưa gắn kết chặt chẽ và có hiệu quả cao với thị trường; việc đưa khoa
20
học, công nghệ vào sản xuất còn chậm; công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp và nông thôn vẫn còn lúng túng. Trong công nghiệp, ít sản phẩm có
hàm lượng công nghệ và tri thức cao; công nghiệp công nghệ cao phát triển
chế mới, đây cũng là mảnh đất cho các hiện tượng tiêu cực nảy sinh và phát
triển. Thành phần kinh tế tập thể giảm đi nhanh chóng cả trong lĩnh vực sản
xuất công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, lĩnh vực lưu
thông.
Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tuy có phát triển nhưng mới chỉ
tập trung vào các ngành không cần vốn lớn, thu lợi nhanh như dịch vụ ăn
uống, khách sạn, thương nghiệp. Các thành phần kinh tế này chưa thực sự
bình đẳng trong cạnh tranh. Do còn có sự can thiệp về hành chính của cơ quan
nhà nước, nhất là các thủ tục hành chính nên họ thường chú trọng đến việc
tranh thủ các cơ quan, viên chức nhà nước để có những lợi thế trong cạnh
tranh và thu nguồn lợi không từ sản xuất, kinh doanh.
Tỉ trọng lao động trong nông nghiệp còn cao. Lao động thiếu việc làm và
không có việc làm còn nhiều. Tỉ lệ lao động qua đào tạo rất thấp.
Cơ cấu đầu tư chưa thật hợp lý, chưa hướng mạnh vào đầu tư chiều sâu, vào
các ngành có giá trị tăng thêm cao và tạo nhiều việc làm. Đầu tư từ ngân
sách nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước còn dàn trải, thất thoát,
hiệu quả thấp. Một số công trình lớn, quan trọng cấp quốc gia không hoàn
thành theo kế hoạch. Năng lực sản xuất của một số ngành và sản phẩm quan
trọng, thiết yếu tăng chậm.
22
Công tác qui hoạch chất lượng thấp, quản lý còn kém và chưa phù hợp với
cơ chế thị trường.
4.3)Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
Tuy đã có cố gắng đầu tư, song kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội vẫn còn lạc
hậu, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu, hạn chế sự phát triển kinh tế
- xã hội.
Hệ thống đường bộ chưa hoàn chỉnh, chất lượng thấp, nhiều nơi còn bị tắc
nghẽn; chưa bảo đảm giao thông thông suốt trong mùa mưa ở các khu vực
thường bị ngập lụt và miền núi. Hệ thống cảng biển, đường sắt, hàng không
động sản, thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm, chưa đáp ứng
kịp yêu cầu. Quản lý nhà nước đối với từng loại thị trường còn nhiều bất cập.
Một số nguyên tắc của thị trường bị vi phạm.
An ninh năng lượng, cán cân thương mại, cán cân vãng lai và thanh toán
quốc tế, dự trữ quốc gia, cân đối ngân sách chưa đủ vững chắc để đối phó
với các tình huống biến động lớn, đột xuất có thể xảy ra.
Thu ngân sách còn phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ thuế nhập khẩu và dầu
thô. Hoạt động của hệ thống ngân hàng còn nhiều yếu kém, chất lượng tín
dụng thấp, nợ xấu còn cao.
Trong tình hình giá cả thế giới có nhiều biến động, công tác quản lý giá cả
thị trường, lưu thông tiền tệ có mặt chưa phù hợp, lúng túng, để xảy ra đầu
cơ gây đột biến giá một số mặt hàng thiết yếu, bất lợi cho hoạt động kinh
doanh và đời sống.
24
4.5)Hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại còn nhiều hạn
chế
Thiếu lộ trình thật chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế; chưa gắn kết
chặt chẽ tiến trình hội nhập với việc hoàn thiện pháp luật, thể chế, chính sách
và cải cách cơ cấu kinh tế; việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, của
doanh nghiệp và của nền kinh tế chưa theo kịp với yêu cầu của hội nhập.Tỉ
lệ hàng xuất khẩu qua chế biến, chế tác sâu còn thấp. Quy mô xuất khẩu còn
nhỏ. Nhập siêu còn lớn. Môi trường đầu tư kém hấp dẫn so với một số nước
xung quanh. Chưa thu hút được nhiều vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của
các tập đoàn kinh tế lớn; chưa chủ động khai thác vốn đầu tư gián tiếp quốc
tế. Việc giải ngân vốn ODA còn chậm. Chiến lược vay và trả nợ nước ngoài
chưa được chuẩn bị thật tốt.
4.6) Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chưa được xoá bỏ triệt để,
Tác phong, lề lối, thói quen cũ trong quản lý của cơ quan nhà nước ảnh
hưởng trực tiếp đến các thành phần kinh tế. Sự đan xen cơ chế quản lý cũ và
III.MÂU THUẫN BIệN CHứNG QUá TRìNH XÂY DựNG NềN KINH Tế
HàNG HOá NHIềU THàNH PHầN ở VIệT NAM
1.TíNH THốNG NHấT
Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ,cơ chế hoạt động của nền kinh tế là
cơ chế thị trường .Do đó ,các thành phần kkinh tế không tồn tại biệt lập .Mỗi
thành phần kinh tế là bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân thống