Báo cáo " Vài nét ảnh hưởng tư tưởng pháp trị của Hàn Phi trong lịch sử Việt Nam " - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
14
T
ạp chí luật học số tháng 3/2003
ThS. Vũ Kim Dung *
heo các sách biên niên sử và một số sách
thông sử đều ghi lịch sử Nhà nớc ta bắt
đầu từ triều đại Hùng Vơng trị vì nớc Văn
Lang. Thời gian tồn tại của nớc Văn Lang vào
khoảng thiên niên kỉ thứ II trớc công nguyên
(TCN). Vào thời kì này, Nhà nớc Văn Lang đ
có luật nhng rất tiếc những tài liệu nói về luật
của nớc ta TCN hầu nh không còn tìm thấy.
Căn cứ vào lời tâu của M Viện với vua Hán
Quang Vũ có nói đến: Luật Việt khác với luật
Hán hơn mời điều. Có lẽ luật ở thời Hùng
Vơng chỉ là luật tục hay tập quán pháp nhng
chắc đó không phải là luật riêng của từng vùng
mà là luật chung của ngời Lạc Việt. Luật thời
đó mang tinh thần bình đẳng dân chủ thời xa,
cộng với những phép tắc tín ngỡng cổ truyền
nhng nó cũng thể hiện tính nghiêm minh của
sinh hoạt cộng đồng. Xung quanh vấn đề này
hình thành một số tập tục thể hiện tính luật
pháp của thời Hùng Vơng nh không cho
ngời nghèo lấy ngời giầu (chuyện công chúa

cùng với sự mở rộng, củng cố và hoàn thiện của
chính quyền đô hộ, pháp luật phong kiến Trung
Hoa ngày càng đợc áp dụng phổ biến hơn. Các
ngành luật nh luật hình sự, dân sự, hôn nhân
gia đình của thời Đờng đợc áp dụng trên lnh
thổ nớc ta. Nói nh vậy không có nghĩa là
trong lĩnh vực pháp luật, dân tộc ta hoàn toàn
theo pháp luật của các triều đại Trung Quốc.
Nhân dân ta vẫn tự điều chỉnh các quan hệ nội
bộ trong làng x bằng các tập quán cổ truyền
của mình.
Sau khi giành đợc độc lập dân tộc, Nhà
nớc phong kiến Việt Nam vừa đợc xây dựng
lên phải đối mặt với nhiều vấn đề mới nảy sinh.
Công cụ để củng cố địa vị của vua là hệ thống
quan lại, là binh lính, là t tởng thiên mệnh.
T

* Giảng viên Bộ môn Mác - Lênin
Trờng đại học luật Hà Nội
nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003
15

Nhng nh thế vẫn cha đủ, cần phải có các
điều luật để ngăn ngừa những sự việc xảy ra và
nếu xảy ra thì có điều kiện để trừng trị. Mặt

sau lại có sự học tập để bổ sung cho cái mình
còn thiếu sót. T tởng chính danh do ngời
sáng lập ra đạo Nho là Khổng Tử nêu ra ở thế
kỉ thứ VI TCN, lại đợc Hàn Phi là ngời tập
đại thành của pháp gia đề cao ở thế kỉ thứ III
TCN. Ngợc lại, nhiều nội dung và tính chất
các điều luật của các triều đại phong kiến
Trung Quốc lấy Nho gia làm t tởng cở bản
đều có nguồn gốc từ t tởng pháp trị của pháp
gia. Nhng hiện tuợng này không có nhà Nho
nào thừa nhận. Điều đó có thể là vì vụ án Tần
Thuỷ Hoàng đốt sách Nho chôn sống các nhà
Nho ở kinh đô Hàm Dơng gây nên sự thâm
thù pháp gia của các thế hệ nhà Nho sau này.
Phần khác là do các triều đại phong kiến Trung
Quốc, dù thực chất bên trong nh thế nào
nhng bên ngoài họ vẫn tự nhận là theo đờng
lối chính trị đức trị, đờng lối nhân nghĩa của
nhà nho nếu công khai thừa nhận vai trò cần
thiết của t tởng Pháp gia thì đó là điều khó
xử. Dù là Nho gia hay là Pháp gia cũng là các
học phái có mục đích xây dựng chế độ phong
kiến trung ơng tập quyền, giữa chúng có nhiều
điểm giống nhau nên đ học tập lẫn nhau. ở
đây chỉ có điều Nho gia học tập Pháp gia nhng
không dám công khai thừa nhận.
Trong lịch sử các học thuyết của Trung
Quốc chuyển sang Việt Nam, chỉ thấy sử chép
là Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, không thấy
chép t tởng của Pháp gia. Không những thế,

là Bộ Lê triều hình luật mà sử sách thờng chép
là Bộ luật Hồng Đức. Bộ luật này áp dụng phổ
biến trong thời Lê sơ và trong các triều đại sau
này cho đến tận thế kỉ XVIII. Bộ luật Hồng
Đức là bộ luật tổng hợp, bao gồm nhiều ngành
luật nh hình sự, dân sự, hôn nhân, hành chính
và quân sự. Gồm 722 điều chia làm 6 quyển.
Tất cả đều đợc trình bày dới dạng những quy
phạm pháp luật hình sự và đều áp dụng chế tài
hình sự. Luật này bảo vệ tuyệt đối quyền lực
chính trị và kinh tế của Nhà nớc phong kiến.
Biểu hiện tập trung nhất là các điều khoản quy
định các nhóm tội phạm cụ thể nh tội vi phạm
luật cấm vệ, tội thập ác, tội đạo tặc. Luật bảo vệ
lợi ích của giai cấp phong kiến và các đặc
quyền của tầng lớp quý tộc quan liêu. Mặc dù
vậy, do kế thừa đợc một số yếu tố tích cực của
luật tục nh coi trọng quyền của ngời phụ nữ
nên luật Hồng Đức phát huy đợc tính dân tộc,
xứng đáng là bộ luật tiêu biểu cho pháp luật
phong kiến Việt Nam.
Bộ luật thứ hai là luật Gia Long đợc ra đời
năm 1815 dới thời Gia Long nên đợc gọi là
Bộ luật Gia Long. Đây là sản phẩm cao nhất
của hoạt động lập pháp dới triều Nguyễn,
đợc áp dụng dới tất cả các đời vua Nguyễn và
là tài liệu cơ bản nhất cho chúng ta biết về tình
hình pháp luật thời Nguyễn. Nhà nớc phong
kiến triều Nguyễn là nhà nớc quân chủ chuyên
chế, đứng đầu triều đình là vua, quyền lực của

khảo biện ông chủ trơng trị nớc phải kết hợp
lí (t tởng nhà nho) với Thế (t tởng của
Thận Đáo và Hàn Phi ) và cho rằng: chỉ có
một cách để ớc thúc nhân tâm và chế ngự thế
biến đó là pháp chế mà thôi. Chính vì vậy mà
một số nhà nghiên cứu Việt Nam hiện nay cho
Lê Quý Đôn là ngời chịu ảnh hởng của t
tởng Pháp gia. Nhng đối với đơng thời, ý
kiến của Lê Quý Đôn chỉ là ý kiến cá biệt. Hơn
nữa lúc bấy giờ, triều đình Lê - Trịnh đ suy
tàn, không còn khả năng vực dậy nên t tởng
của Lê Quý Đôn cũng cha có tác dụng thực tế.
Giáo s Cao Xuân Huy cho rằng về chính
trị, Lê Quý Đôn muốn tổng hợp thuyết đức trị
của Nho gia và thuyết pháp trị của Pháp gia mà
nặng về Pháp gia. Giáo s Nguyễn Tài Th
cũng cho rằng đờng lối trị nớc của Lê Quý
Đôn là đức trị kết hợp với pháp trị nhng càng
về sau t tởng pháp trị càng chiếm u thế. Vào
năm 1997, ông Văn Tân trong bài kỉ niệm 250
năm ngày sinh Lê Quý Đôn khẳng định: Lê nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003
17

Quý Đôn là nhà chính trị, có những hoài bo
lớn, muốn cho nớc giàu dân mạnh bằng một
con đờng mới là con đờng pháp trị.

tả tham tri (tơng đơng với thứ trởng thứ nhất
hiện nay). Có nhiều vụ, vua Minh Mệnh áp
dụng tới 3 án tử hình một lúc nh vụ giữa năm
1832 (xử một số quan trong văn phòng của
vua).
Vua Minh Mệnh cũng rất công minh trong
việc áp dụng hình phạt đối với các đối tợng
phạm tội dù ngời đó thuộc thành phần nào, là
quan lại hay dân thờng, thậm chí cả ngời
thân của mình ông đều căn cứ vào các mức độ
phạm tội mà xử. Ông từng nói với các quần
thần: Ta từ khi lên ngôi, chỉ giữ phép công
bằng, không hề thiên vị, dù các hoàng tử, tớc
công hay hầu, những khi nhàn hạ, họ cũng cha
từng dám thỉnh thác việc t bao giờ".
(3)
Ông đ
từng cách chức, giáng chức bốn thợng th, cả
thợng th bộ hình vì họ thiếu trách nhiệm
hoặc móc ngoặc, gây hậu quả xấu. Sự công
minh và nghiêm khắc trong áp dụng hình phạt
của vua Minh Mệnh qua việc phân biệt giữa
tình và lí còn thể hiện ở chỗ ông không chấp
nhận việc dùng chữ hiếu để trị tội thay. Các
nhà Nho do coi trọng chữ hiếu nên chấp nhận
việc chịu tội thay nhng vua Minh Mệnh có
cách nhìn khác về quy định này. Ông không
cho bất kì trờng hợp nào con chịu tội thay cha.
Ông nói: Theo phép thờng của nhà nớc, có
tội thì xử hình, nếu cứ thuận nghe cho con chịu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status