bài giảng kiểm toán và phân tích tài chính doanh nghiệp - Pdf 11

BÀI GIẢNG
KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
(Dành cho SV chuyên ngành Tài chính-ngân hàng)
Số ĐVHT: 04 (3.1)
Phần 1: Lý thuyết kiểm toán
1.1 Khái niệm kiểm toán
- Ở nước ta, thuật ngữ kiểm toán (KT) mới xuất hiện và sử dụng từ hơn một chục
năm cuối thế kỷ 20.
- Nhưng rất có cơ sở để phóng đoán rằng từ Kiểm toán đã xuất hiện rất sớm cùng
với nền văn minh Ai Cập La Mã cổ đại.
(Kiểm toán có gốc từ la tinh “Audit”), nguyên bản “Auditing” gắn với văn minh Ai
Cập, La Mã cổ đại. “Audit” có nguồn gốc từ là “Audrie” nghĩa là “nghe” gợi lên một hình
ảnh cổ điển về kiểm toán là: Các tài khoản về tài sản phần lớn được kiểm tra bằng cách
người soạn thảo đọc to lên cho một bên độc lập nghe và chấp nhận.
* Ngày nay có rất nhiều định nghĩa về kiểm toán.
- Theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (International Federation of
Accountants - IFAC) thì “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình
bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”.
- Tiến sỹ RobertN. Anthor, Giáo sư trường đại học Harvatr cho rằng:
“Kiểm toán là việc xem xét, kiểm tra các việc ghi chép kế toán bởi các kế toán viên
công cộng, được thừa nhận bởi các tổ chức bên ngoài tổ chức kiểm tra”.
Điều này cũng phù hợp với định nghĩa được ghi ytong lời mở đầu giải thích về
chuẩn mực kế toán của Vương quốc Anh: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập, và là sự bày
tỏ ý kiến về những bản khia tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ
nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên
quan”.
Ở Pháp: “Kiểm toán là việc nghiên cứu kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ
chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên tiến hành để khẳng định
rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình thực tế, không che giấu sự gian lận
và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”.
Ở nước ta: Quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân Ban hành theo

- Để xác minh, các KTV phải thu nhập và đánh giá các bằng chứng.
- Người Kiểm toán viên phải sử dụng các phương pháp và kỹ thuật kiểm toán để thu
thập bằng chứng và xét đoán bằng chứng. Xác định mức độ tương quan phù hợp giữa các
thông tin có để định lượng của đơn vị được kiểm toán với các chuẩn mực đã được xây
dựng, thiết lập, sö dông (các thông tin có thể định lượng và có dưới nhiều hình thức khác.
Những thông tin này có thể là thông tin tài chính và không tài chính, chẳng hạn thông tin
trong báo cáo tài chính của một doanh nghiệp, một đơn vị, thông tin về lượng thời gian
một công nhân hao phí để hoàn thành một nhiệm vụ được giao, thông tin về giá cả vật tư,
về giá quyết toán một công trình xây dựng cơ bản…, về bản kê khai thuế của một đơn vị).
2
- Cơ sở thực hiện kiểm toán.
Là những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực. Các chuẩn mực cũng rất đa dạng và
phong phú tuỳ thuộc từng loại kiểm toán và mục đích kiểm toán.
Thông thường các chuẩn mực này được quy định trong các văn bản pháp quy về các
lĩnh vực khác, có thể là một văn bản quy định của một ngành, một số ngành, một địa
phương.
Ví dụ:
- Thông tin quy định giá đền bù đất đai ở một địa phương.
- Quy định tính doanh thu, chi phí trong Nghị định của Chính phủ, các Thông tư của
Bộ Tài chính, chuẩn mực kế toán…
- Định mức trong đầu tư XDCB (do Bộ xây dựng, ban hành) đơn giá rtong XDCB
(UBND tỉnh ban hành).
- Khung giá, giá tính thuế, mức thuế, thuế suất (do Bộ Tài chính ban hành để tính
thuế).
- Báo cáo kết quả:
Giai đoạn cuối cùng của kiểm toán là báo cáo kết quả kiểm toán.
Tuỳ thuộc vào từng loại hình kiểm toán mà báo cáo có thể khác nhau về bản chất, về
nội dung. Nhưng trong mọi trường hợp báo cáo phải thông tin được cho người nghe mức
độ tương phản phù hợp giữa các thông tin đã được kiểm toán và các chuẩn mực chung đã
được xây dựng.

- Kiểm toán về thông tin: Hướng vào việc đánh giá tính trung thực, hợp pháp của các
tài liệu (thông tin), làm cơ sở cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế và tạo niềm
tin cho những người quan tâm đến tài liệu kế toán.
- Kiểm toán tính quy tắc: Hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các chế độ,
thể lệ, luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạt động (trước hết với hoạt động tài
chính).
- Kiểm toán tính hiệu quả: Có đối tượng trực tiếp là các yếu tố các nguồn lực trong
từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán, sản xuất hay dịch vụ…
Kiểm toán này giúp ích trực tiếp cho việc hoạt động chính sách và phương hướng,
giải pháp cho việc hoàn thiện hoặc cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm
toán.
- Kiểm toán hiệu năng: Được quan tâm ở khu vực nhà nước chủ yếu ở các khu vực
công ích và chương trình đầu tư từ NSNN nơi mà lợi ích và hiệu quả của nó không giữ
nguyên vẹn ý nghĩa của nó như trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (ví dụ: Dịch vụ
tươi tiêu phục vụ NN, chương trình giống cây trồng, chương trình nước sạch…)
* Tất cả các quan điểm khác nhau kể trên về Kiểm toán không hoàn toàn đối lập
nhau, mà nó phản ánh quá trình phát triển (cả thực tế, cả lý luận) của kiểm toán.
Từ các quan niệm trên ta rút ra kết luận như sau:
“Kiểm toán là việc các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền có kỹ năng nghiệp vụ
tiến hành thu thập, đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của
4
một đơn vị được kiểm toán nhằm mục đích xác nhận và bày tỏ ý kiến về mức độ phù
hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng”.
1.2 Chức năng kiểm toán
1.2.1 Chức năng xác minh:
Nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính pháp lý của việc thực hiện các
nghiệp vụ hay việc lập các báo cáo tài chính.
Đây là chức năng cơ bản gắn với việc ra đời, tồn tại và phát triển của Kiểm toán.
- Đối với các báo cáo tài chính việc thực hiện các chức năng xác minh này trước hết
được thực hiện ở sự xác nhận của người kiểm tra độc lập ở bên ngoài.

pháp lý, tư vấn qua xác minh.
Việc kết luận về chất lượng thông tin và kết luận về pháp lý hoặc tư vấn đều được
thể hiện trên “báo cáo kiểm toán” hoặc “Thư quản lý ”.
+ Ở khu vực công cộng (gồm các DNNN công ích và sản xuất kinh doanh, các đơn
vị sự nghiệp, các đơn vị và cá nhân thụ hưởng Ngân sách) đều đặt dưới sự kiểm toán của
Kiểm toán Nhà nước thì chức năng bày tỏ ý kiến được thực hiện qua “báo cáo kiểm
toán”.
+ Ở khu vực kinh doanh, các dự án ngoài ngân sách nhà nước thì chức năng bày tỏ ý
kiến còn được thể hiện qua phương thức tư vấn và sản phẩm của nó là “Thư quản lý”.
1.3 Phân loại kiểm toán
1.3.1. Phân loại kiểm toán theo chức năng.
Kiểm toán được phân biệt thành:
Kiểm toán hoạt động
Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán báo cáo tài chính
* Kiểm toán hoạt động:
Là kiểm toán để xem xét và đánh giá tính hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động
của một đơn vị.
- Tính hiệu lực: Là khả năng hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu của đơn vị.
- Tính hiệu quả: Là việc đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất.
Đối tượng của Kiểm toán này rất phong phú và đa dạng từ việc đánh giá toàn bộ
hoạt động của một đơn vị, một phương án kinh doanh, một quy trình công nghệ, một tài
sản, một thiết bị, mọt công trình xây dựng cơ bản đưa vào sử dụng … đến vệc tổ chức
luân chuyển chứng từ trong một đơn vị.
- Kiểm toán này phả sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau: Kế toán, tài chính, kinh tế,
cơ khí, xây dựng, khoa học kỹ thuật…
- Kết thúc kiểm toán là một báo cáo giải trình, có nhận xét, phân tích, đánh giá gửi
cho các đơn vị có liên quan.
6
* Kiểm toán tuân thủ:

các phương tiện đã sử dụng để xác định, để tính toán, để phân loại và báo cáo những
thông tin này. Thẩm định cụ thể các khoản mục cá biệt (Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ,
các số liệu tài khoản…)
7
- Kiểm tra tính hiệu lực, tính kinh tế và hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị.
Như vậy, lĩnh vực chủ yếu của kiểm toán nội bộ là kiểm toán hoạt động để đánh giá
tính kinh tế, tính hiệu lực, tính hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị. Bên cạnh đó,
Kiểm toán nội bộ cũng tiến hành kiểm tra, tuân thủ để xem xét việc chấp hành các quy
chế, chính sách trong một đơn vị .
Kiểm toán nội bộ ra đời ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển như
(1941), pháp (1960) trước hết trong các đơn vị, các tổ chức thị trường chứng khoán, ngân
hàng và các công ty đa quốc gia.
- Hoạt động kinh tế nội bộ phát triển nhanh chóng ở Châu Âu năm 1960.
- Đào tạo và huấn luyện KTV nội ở các nước: ở Châu Âu không có bất kỳ một yêu
cầu nào về tuyển dụng kiểm toán viên nội bộ, Ban giám đốc có toàn quyền đánh giá phẩm
chất của các thí sinh dự tuyển trên cơ sở trình độ chuyên môn và phẩm chất cá nhân của
họ.
- Ở một số nước Châu Á: Hoạt động kiểm toán nội bộ ra đời muộn hơn nhiều so với
Mỹ và Châu Âu nhưng phát trển khá nhanh vào cuối những năm 80 đầu năm 90. Một số
theo mô hình của Mỹ như (Singapo, Thái Lan).
- Ở Việt Nam QĐ832-TC/QĐ/CĐKT ngày 28/10/1997 của BTC ban hành quy chế
kiểm toán nội bộ trong các DNNN.
Về mặt tổ chức, bộ phận Kiểm toán nội bộ thường trực thuộc Giám đốc và báo cáo
trực tiếp giám đốc. Ở những tổng công ty lớn, kiểm toán nộ bộ còn trực thuộc Hội đồng
quản trị để đảm bảo hoạt động được hữu hiệu.
Tuy được tổ chức độc lập với các tổ chức, bộ phận được kiểm tra nhưng kiểm toán
nội bộ là một bộ phận của đơn vị nên không thể độc lập hoàn toàn với đơn vị được. Báo
cáo của Kiểm toán nội bộ được người đứng đầu doanh nghiệp rất tin tưởng nhưng ít có
giá trị pháp lý, chỉ có giá trị trong nội bộ doanh nghiệp. Việc tổ chức đơn vị kiểm toán nội
bộ hay không là do người đứng đầu doanh nghiệp quyết định. Nhà nước khuyến khích các

được kiểm toán cũng như giúp các doanh nghiệp, cơ quan sự nghiệp phát hiện các sai sót
rủi ro và đề xuất các biện pháp giải quyết nhằm nâng cao hiệu qua kinh doanh của doanh
nghiệp, hiệu lực, hiệu quả quản lý của đơn vị.
Kiểm toán viên độc lập phải là người có năng lực chuyên môn và đạo đức hành
nghề được nhà nước thừa nhận bằng việc cấp chứng chỉ kiểm toán viên sau khi kỳ thi đạt
kỳ thi quốc gia kiểm toán viên.
Công ty kiểm toán là doanh nghiệp dược thành lập và hoạt động theo luật “Luật
doanh nghiệp Nhà nước” hoặc Luật doanh nghiệp hoặc Luật đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam.
Các công ty kiểm toán là một doanh nghiệp dịch vụ theo nguyên tắc tự trang trải chi
phí (được thu phí kiểm toán và hạch toán kinh doanh như một doanh nghiệp).
* Đối tượng kiểm toán: Ở Việt Nam tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế, mọi tổ chức và cá nhân có nhu cầu kiểm toán đều có thể là đối tượng của kiểm
9
toán độc lập, trong đó đối tượng bắt buộc phải kiểm toán là các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường
chứng khoán.
* Đặc điểm hoạt động: Theo cơ chế dịch vụ dựa vào cơ chế tài chính, kế toán.
Những kiểm toán viên là những người làm thuê đặc biệt được quyền phê bình ông
chủ.
1.4 Đối tượng kiểm toán
* Đối tượng kiểm toán: là thực trạng tài chính cùng hiệu quả, hiệu năng của
các nghiệp vụ hay dự án cụ thể.
Cả thực trạng tài chính cũng như hiệu năng, hiệu quả phải được thể hiện trong
một đơn vị cụ thể (DN, đơn vị sự nghiệp, cơ quan kinh tế và hành chính) hoặc một
dự án, một công trình cụ thể. Trong quan hệ chủ sở hữu, các đơn vị đó thuộc sở
hữu nhà nước, sở hữu tư nhân hoặc hỗn hợp. Trong phạm vi một quốc gia, các đơn
vị này có thể hình thành từ nguồn đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài hoặc liên
doanh giữa trong và ngoài nước tổng hợp các tiêu thức trên có thể phân chia các
đơn vị thành các khách thể kiểm toán trong quan hệ với chủ thể kiểm toán.

+ Cố ý áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán,
chính sách tài chính.
+ Biển thủ tài sản.
+ Cố ý tính toán sai về số học.
* Sai sót: Là những nhầm lẫn và sai sót không cố ý có ảnh hưởng tới số liệu kế toán,
báo cáo tài chính như:
- Lỗi về tính toán số học hay ghi chép sai.
- Bỏ sót hay ghi trùng nghiệp vụ kinh tế.
- Áp dụng sai các nguyên tắc, phương pháp và chế độ kiểm toán.
- Hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế dẫn đến định khoản vào các
tài khoản sai không cố ý.
* Những nhân tố ảnh hưởng đến mực độ gian lận và sai sót:
- Giám đốc hoặc người đứng đầu đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc ngăn
ngừa, phát hiện và xử lý các gian lận và sai sót trong đơn vị thông qua việc xây dựng và
duy trì thực hiện thường xuyên hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp.
(M06/240)
- Do hạn chế vốn có của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ nên khó có
thể loại trừ hoàn toàn khả năng xảy ra gian lận và sai sót.
- Ngoài các hạn chế trong thiết kế và thực hiện hệ thống kế toán, hệ thống kiểm toán
nội bộ còn có những tình huống hoặc sự kiện làm tăng rủi ro do gian lận và sai sót gồm:
+ Những vấn đề liên quan đến tính chính trực hoặc năng lực của Ban Giám đốc.
11
+ Các sức ép bất thường đối với đơn vị.
+ Các nghiệp vụ và sự kiện không bình thường.
+Những khó khăn liên quan đến thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp.
+ Những nhân tố từ môi trường tin học liên quan đến các tình huống và sự kiện trên.
Ví dụ về những tình huống mà các sự kiện này được nêu ở phụ lục số 01-CMKT số
240.
Những vấn đề liên quan đến tính chính trực hoặc năng lực của Ban giám đốc.
Các ví dụ thuộc lĩnh vực này gồm:

trình quyết định điều hành hoặc quyết định về tài chính).
- Chi trả cho các dịch vụ quá cao so với những dịch vụ được cung cấp. (Ví dụ: phí
luật sư, tư vấn, đại lý, quảng cáo…)
Các vấn đề liên quan đến thu nhập bằng chứng kiếm toán.
- Tài liệu kế toán không đầy đủ hoặc không được cung cấp kịp thời. Ví dụ không
thu thập đủ chứng từ, phát sinh chênh lệch lớn giữa sổ và báo cáo, những nghiệp vụ ghi
chép sai hoặc để ngoài sổ sách kế toán.
- Lưu trữ tài liệu không đầy đủ về các sự kiện và các nghiệp vụ kinh tế. Ví dụ:
chứng từ không được phê duyệt, thiếu những tài liệu hỗ trợ cho những nghiệp vụ lớn và
bất thường.
- Có chênh lệch lớn giữa sổ kế toán của đơn vị với xác nhận của bên thứ ba, mâu
thuẫn giữa những bằng chứng Kiểm toán không giải thích được sự thay đổi của các chỉ số
hoạt động.
- Ban Giám đốc từ chối cung cấp giải trình hoặc giải trình không thoả mãn yêu cầu
của kiểm toán viên.
Nhân tố từ môi trường tin học:
- Không lấy được thông tin từ máy tính.
- Có thay đổi trong chương trình máy tính nhưng không lưu tài liệu, không được phê
duyệt và không được kiểm tra.
- Thông tin tài liệu in từ máy vi tính không phù hợp với báo cáo tài chính.
- Các thông tin inh ra từ máy vi tính mỗi lần một khác nhau.
1.5.2 Trọng yếu và rủi ro với việc lựa chọn nội dung kiểm toán cụ thể
*Trọng yếu:(Theo CMKT số 320): Trọng yếu là một thuật ngữ dùng để thể hiện
tầm quan trọng của một thông tin hoặc của một số liệu kế toán trong báo cáo tài chính.
Thông tin dược coi là trọng yếu có nghĩa là thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác
của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài chính.
Mức trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay tâm cỡ và bản
chất của các sai sót trong các thông tin tài chính được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể,
nếu dựa vào các thông tin sai sót này để xét đoán thì sẽ không chính xác hoặc sẽ rút ra
những kết luận sai lầm.

Phân tích: Vì khi giá trị sai sót có thể bỏ qua tăng lên thì khả năng xảy ra sai sót có
thể giảm xuống. Ngược lại, giảm mức trọng yếu có thể chấp nhận được, rủi ro trong Kiểm
toán có thể tăng lên.
Mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung, phạm vi và
thời gian của các thủ tục Kiểm toán. Chẳng hạn, khi lập xong chương trình kiểm toán chi
tiết, Kiểm toán viên phát hiện ra rằng mức trọng yếu phải thấp hơn, do đó rủi ro kiểm toán
14
sẽ tăng lên. Để bù lại, kiểm toán viên phải tăng cường phạm vi kiểm toán và lựa chọn các
phương pháp kiểm toán hữu hiệu hơn để có thể giảm rủi ro phát hiện xuống mức có thể
chấp nhận được.
CMKT 320 (Điểm 10) ghi rõ: “Khi lập kế hoạch kiểm toán, Kiểm toán viên phải
xem xét đến các nhân tố có thể làm phát sinh những sai sót trọng yếu trong báo cáo tài
chính. Đánh giá của Kiểm toán viên về mức trọng yếu liên quan đến số dư các tài khoản
và các loại giao dịch chủ yếu sẽ giúp kiểm toán viên xác định được những khoản mục cần
được kiểm tra và quyết định nên áp dụng thủ tục chọn mẫu hau thủ tục phân tích”. Việc
đánh giá mức trọng yếu liên quan đến số dư tài khoản và các loại giao dịch chủ yếu sẽ
giúp kiểm toán viên lựa chọn dược những thủ tục kiểm toán thích hợp và việc kết hợp các
thủ tục kiểm toán thích hợp đó với nhau sẽ làm giảm rủi ro kiểm toán tới mức độ có thể
chấp nhận được.
1.5.3 Chứng từ kiểm toán, cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán và hồ sơ
kiểm toán
*Chứng từ kiểm toán:Chứng từ kiểm toán là nguồn tư liệu sẵn có, cung cấp
cho kiểm toán viên. Cụ thể, chứng từ kiểm toán bao gồm:
(1)Các tài liệu kế toán:
-Chứng từ kế toán
-Các bảng kê, bảng tổng hợp chứng từ gốc
-Các sổ tổng hợp và chi tiết kế toán
-Các bảng cân đối-tổng hợp kế toán
(2)Các tài liệu khác:
-Tài liệu hạch toán ban đầu

VD: Đối chiếu giữa số cuối kỳ với số đầu năm hoặc giữa các kỳ trong Bảng
CĐKT để nghiên cứu động thái của các mặt hoạt động tương ứng với chỉ tiêu đó
(đối chiếu ngang) hoặc giữa các bộ phận tổng thể để xem xét cơ cấu, phân bổ từng
quần thể (đối chiếu dọc)
-Đối chiếu logic: là việc nghiên cứu các mối liên hệ giữa các chỉ tiêu có quan
hệ với nhau.
VD: Vốn bằng tiền giảm có thể dẫn đến hàng hóa vật tư tăng hoặc các khoản
phải trả giảm
1.6.1 Phân hệ phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ:
-Kiểm kê: là việc kiểm tra tại chỗ các loại tài sản
-Điều tra: là dùng các cách khác nhau để tiếp cận và đánh giá đối tượng kiểm
toán
VD: Gửi thư xác nhận số dư các khoản phải thu, phải trả của các bên liên quan
16
-Thực nghiệm: là việc tái diễn các hoạt động, hoạt động để xác minh lại kết
quả của một quá trình, một sự việc đã qua
17
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status