Bài thơ Ông đồ Bài thơ “Ông đồ” của Vũ Đình Liên có 5 khổ, mỗi khổ 4 dòng, mỗi dòng 4
chữ, rất đơn giản, miêu tả một cảnh mắt thấy tai nghe ở một góc chợ tết rất ấn tượng
với cảm xúc sâu lắng. Ý nghĩa tường minh của bài thơ xem ra rất rõ ràng nhưng nghĩa
hàm ẩn lại rất mắc mỏ: Thời gian lặng lẽ trôi đi “mỗi năm…, mỗi năm…”, năm nào
đào cũng nở mà thân phận ông đồ, cảnh đời của một lớp người lại đổi thay phủ phàng,
gây cho người đọc mối cảm hoài day dứt khôn nguôi…
1. Kết cấu nội dung: Ý tưởng thơ bài này diễn tiến xuôi thuận theo dòng thời
gian. 5 khổ thơ, có thể phân ra 3 ý rạch ròi (cách phân đoạn ở đây khác với sách giáo
khoa lớp 8 THCS, chương trình cũ).
- Đoạn 1: Hai khổ đầu (1, 2): Ông đồ làm thuê đắc địa “Bao nhiêu người thuê
viết” và được khách hàng “Tấm tắc ngợi khen tài”.
- Đoạn 2: Hai khổ thơ giữa (3, 4): việc làm thuê giờ ế ẩm, ông đồ rơi vào cảnh
thất nghiệp.
Một loạt từ ngữ, hình ảnh đối lập giữa hai đoạn thơ trên, được nối với nhau
bằng liên từ “nhưng” rất bài bản:
Đông người <-> vắng
Bao nhiêu người <-> người thuê… nay đâu ?
Tấm tắc ngợi khen <-> không ai hay
Mực tàu giấy đỏ <-> giấy buồn không thắm,
mực đọng nghiên sầu
Nếu tinh ý, ta đã nhận ra tín hiệu báo trước cái kết cục của thân phận ông đồ.
Ông đã xuất hiện một cách đơn độc, trong thế yếu của một lực lượng suy tàn. Ông đồ
đang đi làm nghề viết thuê. Có nghĩa là ông đã làm sai nghề, sai chức năng, sai vị trí.
Ông làm “thợ đụng” khi thất cơ, lỡ vận.
Bởi lẽ, chính danh, ông đồ phải là Thầy. Thầy dạy học, là hạng “Nhất sĩ” trong
xã hội, ở cái thế quân - sư - phụ, là người dạy đạo thánh hiền, dạy người, dạy đời. Ông
luôn nghiêm nghị trong những học đường trang nghiêm, có quyền dạy bảo các đồ đệ
đến cửa Khổng sân Trình tầm sư học đạo. Ông luôn được xã hội trọng vọng. Thời
trước, muốn có câu đối phải “đi xin chữ”. Muốn “xin chữ” cũng phải khăn đen áo dài,
trầu rượu bái thầy. Thầy cho chữ rồi cũng phải tạ ơn thầy.
Thế mà, lúc này thật éo le. Ông đồ ngồi lê trên hè phố “bày mực tàu giấy đỏ”
giữa phố chợ đông đúc, xô bồ để bán chữ.
Ôi! từ cái vị thế Thầy thành kẻ làm thuê kiếm sống. Hẳn ông vui khi có “Bao
nhiêu người thuê viết” chăng ? Không, mặt ông như bị xát muối. Ngồi đây, lẽ tất
nhiên, ông phải tuân theo luật thị trường, là hạ mình xuống, xem khách hàng là
thượng đế. Xót xa vô cùng.
Cái nghề mới mà ông chọn báo hiệu lớp người ông đã lỗi thời, không còn đắc
dụng nữa. Giá như mô tả ông đồ, nhưng là ông đồ nghèo vào cái buổi thời tàn của nho
học trong một lớp học “năm ba đứa”, “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi” thì dù có
bẽ bàng đi chăng nữa cũng không đến nổi thê thảm như cảnh ông đồ ở trong bài thơ
này.
- Dấu hiệu thời gian: Hoa đào nở.
Đó là một khoảnh khắc của năm tháng. Ông đồ làm nghề phụ, nhưng đâu phải
có việc thường xuyên, quanh năm suốt tháng. Ông chỉ có việc làm trong đôi ba ngày
Việt Nam. Bài thơ cũng xuất hiện trong giai đoạn có cuộc tranh luận về văn học nghệ
thuật. Thân phận ông đồ già phản ánh thực trạng của thời đại.
- Biểu tượng ông đồ: Hình ảnh ông đồ xuất hiện trong suốt bài dưới nhiều mã:
ông đồ – mực tàu, giấy đỏ – hoa tay – nét phượng múa rồng bay – lá vàng – người
muôn năm cũ – hồn.
Theo Vũ Đình Liên thì chính ông đã ngậm ngùi xác nhận rằng ông đồ trong bài
thơ của mình chính là “cái di tích tiều tuỵ đáng thương của một thời tàn”. Với ý nghĩa
đó, chúng ta có thể xem “lá vàng” là một hình ảnh rất đắt của bài thơ. “Lá vàng rơi
trên giấy”. “Lá vàng” dùng ở đây, lúc này, có điều gì khác lạ. Nó đã phá thể cái biểu
tượng phổ quát trong văn chương – là mùa thu. Nhưng lúc này là lúc hoa đào nở, là
ngày tết, là buổi giao hoà giữa Đông – Xuân. Thế mà vẫn còn lá vàng sao ?
Đúng, còn 1 chiếc lá vàng muộn màng, hiếm hoi, dường như vẫn còn nuối tiếc,
vẫn muốn níu kéo hơi sống tàn. Và rồi, nó cũng phải rơi rụng. Và quái ác thay, nó đã
rơi đúng vào tờ giấy nhỏ nhoi, giữa cái bãng lãng của không gian mùa xuân. Hình ảnh
làm tăng vẻ ảm đạm, làm đau nhói con tim ông đồ đang đăm đắm chờ khách.
Chiếc lá ấy chính là hình ảnh ông đồ đơn độc, thời tàn và tờ giấy đỏ kia là cái
xã hội mới lạ đang nhen nhóm.
Ở khổ thơ cuối, hình ảnh ông đồ lại được khái quát hơn nhờ nghệ thuật sử dụng
ngôn từ.
* Về lượng: ông đồ (1 người) -> những người -> hồn
↓ ↓
* Trạng thái: cụ thể -> trừu tượng
↓ ↓
hiện hữu -> hư ảo
, ông đồ lại hiện ra
, Bàn tay xưa viết nối
Những nét chữ thân thương
Một cây đào muôn thuở
Năm, bốn mùa nở hoa
Một ông đồ bất tử
Tay với bút không già