BẢN ĐỒ VÀ
BẢN ĐỒ VÀ
PHÂN TÍCH BẢN
PHÂN TÍCH BẢN
ĐỒ
ĐỒ
Bài 2
Bản đồ là nguồn dữ liệu chính của GIS
Một vài khái niệm cơ bản về bản đồ
Phân tích bản đồ
Các loại bản đồ và phương pháp xây dựng chúng
Bản đồ là gì?
Định nghĩa (theo International
Cartography Association):
Biểu diễn theo tỷ lệ (thông
thường trên mặt phẳng) các
lựa chọn đặc trưng vật chất
hay trừu tượng trên (hay liên
quan đến) bề mặt trái đất.
Bản đồ là gì?
•
Bản đồ trình diễn bề mặt trái
đất
–
Bản đồ bằng đất, Iraq,
khoảng 2500 B.C.
Bản đồ trên lụa, thời nhà
Hán, TQ, thế kỷ thứ 2 B.C.
Bản đồ có từ bao giờ?
Bản đồ trên giấy, Aicập
khoảng năm 150
A.D.
Bản đồ quân sự, Châu Âu,
18
th
century
Các loại bản đồ
•
Trong thực tế thường
gặp hai loại bản đồ
sau:
–
bản đồ chuyên đề -
công cụ giao tiếp
các khái niệm địa lý
như: phân bổ mật
độ dân số, khí hậu,
vận động của luồng
chảy, sử dụng đất
Deaths from Cholera in London, Summer
1866 (19th July to 2nd October)
Dr. John Snow, Soho
có tính mỹ thuật, tao nhã
–
dễ trả lời câu hỏi như
•
từ đây đi đến kia như thế nào? cái gì có ở điểm
này?
–
khó trả lời các câu hỏi như
•
diện tích của hồ này?
Các phép chiếu bản đồ
•
Mặt cong Trái đất thể hiện trên giấy phẳng
sẽ bị méo mó
–
Khi thể hiện vùng nhỏ thì biến dạng ít, ngược
lại với toàn bộ bề mặt Trái đất thì biến dạng
nhiều nhất.
•
Chiếu bản đồ là phương pháp biểu diễn mặt
cong Trái đất trên mặt phẳng
–
Đòi hỏi sử dụng các biến đổi toán học giữa
vị trí Trái đất và vị trí chiếu trên mặt phẳng.
•
Có nhiều phép chiếu được phát minh để phù
hợp với mục đích sử dụng cụ thể.
Phép chiếu hình trụ và hình nón,
Hai cuộc điều tra đất sử dụng tại UK vào 1930 và 1960
•
Kết quả đã được in trên bản đồ
•
Để so sánh thay đổi đất sử dụng đất giữa 1930 và 1960 thì diện
tích mỗi vùng đã được đo đạc bằng tay và đếm các điểm phủ nhau
của bản đồ giấy bóng.
–
Phương pháp trên cho kết quả hạn chế vì chậm và là việc làm căng
thẳng.
•
Kiến trúc tổng thể
–
1969 I. McHarg đã sử dụng xếp chồng bản đồ giấy bóng để thiết kế
đường cao tốc, hành lang phát thanh truyền hình và các công trình
công cộng
–
Mặc dù kỹ thuật này đã được sử dụng nhiều trong các ứng dụng trước
đây, nhưng phương pháp này là công việc rất khó khăn và ít chính
xác.
Sử dụng bản đồ để làm gì?
•
Truyền thống: bản đồ sử dụng để dẫn đường, tài liệu tham chiếu và trang
trí trên tường
•
Ngày nay: bản đồ có các nhiệm vụ sau đây.
–
Hiển thị dữ liệu: Cung cấp cách thức hữu hiệu để hiển thị thông tin
–
–
Tuy nhiên nó không phải
là công cụ phân tích, để
làm được việc này cần
phải dử dụng GIS
So sánh GIS với bản đồ giấy
•
Lưu trữ dữ liệu
–
Dữ liệu không gian lưu trữ trong GIS cho phép xâm nhập nhanh phục
vụ mục tiêu truyền thống và mục tiêu mới.
–
Bản chất của bản đồ tạo ra khó khăn khi sử dụng nó làm nguồn dữ liệu
•
Phần lớn GIS không quan tâm đến sự khác nhau giữa các bộ dữ
liệu phát sinh từ các bản đồ có tỷ lệ khác nhau
•
Cách diễn đạt trong bản đồ trở nên cứng nhắc
–
Tuy nhiên, bản đồ là cách tuyệt vời để tổ hợp thông tin không gian
•
bản đồ có thể được thiết kế để dễ dàng chuyển đổi sang dạng số:
máy quyét có thể phân biệt các màu khác nhau trên bản đồ
–
Đồng thời, bản đồ sản xuất bằng GIS sẽ rẻ, mật độ lưu trữ thông tin
cao.
•
Lập chỉ số cho dữ liệu
–
Lập bản đồ chuyên đề
•
Lập bản đồ chorochromatic (vùng
mầu): bản đồ chorochromatic
(tiếng Hy lạp: choros - vùng,
chroma – màu) biểu diễn các
giá trị (tôn giáo, ngôn ngữ) vùng
thông qua các màu khác nhau.
Sử dụng các màu cùng gam
hay các mẫu đen trắng khác
nhau nhưng có độ sáng tối
tương tự.
–
Để tránh nhầm lẫn số người nói
tiếng Anh và bản ngữ như nhau
vì hai vùng có diện tích gần
bằng nhau ta phải vẽ thêm biểu
đồ cho bản đồ
20 Triệu
Bản ngữ
Tiếng Anh
Không người ở
1 Tr
Vùng ngôn ngữ
(Australia)
Lập bản đồ giá trị vùng
•
Bản đồ giá trị vùng:sử dụng vùng
để biểu diễn giá trị.
d) Choropleth
Tiến trình xây dựng bản đồ vùng giá trị:
Bắt đầu từ giá trị tuyệt đối (thí dụ: tổng số bác sỹ)
xây dựng quan hệ với giá trị tuyệt đối khác (thí dụ: tổng số bệnh viện)
Phân nhóm các tỷ số trên thành lớp. Số lớp giới hạn bởi tổng số độ xám của
màu có thể biểu diễn
Tô màu hay độ xám tương ứng cho các vùng bản đồ
Lập bản đồ vùng giá trị
•
Bản đồ vùng giá trị là loại bản đồ được sử dụng
nhiều nhất, đặc biệt dành cho dữ liệu kinh tế-xã
hội
Bản đồ mật độ điểm
(density map)
Lập bản đồ isoline
•
Bản đồ đồng mức (Hy lạp: iso-bằng
nhau) biểu diễn dữ liệu cho các hiện
tượng phân tán liên tục.
•
Trình tự xây dựng bản đồ
–
đo đạc các điểm giá trị, thí dụ
–
hình học (geometrical) dành
cho các hiện tượng trừu
tượng
•
Bản đồ loại này sử dụng cho
khách du lịch và học sinh phổ
thông
Lập bản đồ biểu tượng cấp bậc
•
Bản đồ biểu tượng cấp bậc
được vẽ cho dữ liệu rời rạc
của điểm hay vùng.
•
Hai cách biểu diễn biểu
tượng cấp bậc:
–
Tổng số biểu tượng khác
nhau biểu diễn giá trị khác
nhau Giá trị khác nhau
Chỉ quan tâm đến bề mặt “nhấp nhô” của khối
không gian
•
Nếu các thuộc tính được đo tại điểm hay dọc
theo đường hay biên vùng tỷ lệ với chiều cao
thì ta có thể hình thành bề mặt thống kê