LUẬN VĂN: nâng cao khả năng cạnh tranh qua việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty Hoá chất trực thuộc Bộ thương mại - Pdf 12

LUẬN VĂN:

nâng cao khả năng cạnh tranh qua việc
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
tại công ty Hoá chất trực thuộc Bộ
thương mại
Lời nói đầu
Hiện nay, nước ta đang chuyển sang nền kinh tế mở vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với nó
là sự bung ra của hàng loạt các loại hình kinh doanh mới: doanh nghiệp tư nhân,
công ty TNHH, công ty cổ phần và kéo theo sự sôi động của một thị trường tràn
ngập hàng hoá. Tất cả làm cho nền kinh tế Việt Nam cạnh tranh gay gắt hơn, khó
khăn của các doanh nghiệp Nhà nước là điều kiện không tránh khỏi, không ít các
doanh nghiệp sa sút và đi đến phá sản. Nhưng cũng có các doanh nghiệp đứng
vững được và ngày càng phát triển. Bởi vậy, một câu hỏi lớn nhất bao trùm đối với
các doanh nghiệp là: Làm thế nào để doanh nghiệp luôn luôn tồn tại và phát triển
trong cơ chế thị trường. Câu trả lời của mỗi doanh nghiệp mặc dù rất khác nhau,
song không một doanh nghiệp nào có thể phủ nhận rằng “để tồn tại và phát triển
trong nền kinh tế thị trường mang đầy tính cạnh tranh không còn con đường nào

qủa các nguồn vốn kinh doanh , đảm bảo kinh doanh có lãi, tránh để khách hàng
chiếm dụng vốn , làm thất thoát vốn , đồng thời đẩy nhanh vòng quay của vốn. Chịu
sự kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng trong nghành hoặc cơ quan quản lý
nhà nước có trách nhiệm và chấp hành nghiêm chỉnh các chế độ của nhà nước, các
quy định của pháp luật. Đóng góp kịp thời, đầy đủ ngân sách cho nhà nước.
2.Thực trạng hoạt động kinh doanh, quản lý của công ty:
2.1.Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty: Công ty hoá chất thực hiện chế độ quản lý theo chế độ của thủ trưởng trên
cơ sở thực hiện quyền làm chủ của tập thể, của toàn cán bộ công nhân viên toàn
công ty. Giám đốc công ty là người đại diện tư cách pháp nhân chịu trách nhiệm
trước pháp luật, cấp trên về quản lý sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động kinh
doanh của toàn công ty. Dưới giám đốc có ba phó giám đốc phụ trách ba mảng hoạt
động của công ty. Một phó giám đốc phụ trách công tác xuất nhập khẩu, phụ trách
trực tiếp phòng kinh doanh xuất nhập khẩu. Một phó giám đốc phụ trách kinh doanh
nội địa, phụ trách các cửa hàng của các trung tâm.Mồt phó giám đốc phụ trách công
tác liên doanh liên kết.
2.1.1Chức năng nhiệm vụ các phòng ban của công ty:
Phòng tổ chức hành chính.
Các tham mưu cho giám đốc về công tác tổ chức bộ máy, xắp xếp cán bộ,
theo dõi trả lương công nhân viên, đào tạo và bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ đội ngũ
cán bộ công nhân viên toàn công ty, điều hành toàn bộ hoạt động chung của công
ty.
Phòng kế hoạch tổng hợp.
Có nhiệm vụ xây dựng của công ty, đăng ký với cấp trên và giao kế hoạch
cho các bộ phận trong công ty. Thống kê theo dõi dự thảo các phương hướng,
nhiệm vụ kinh doanh của công ty. Tập hợp kế hoạch thực hiện chung của toàn công
ty. Về mặt pháp chế theo dõi mặt thực hiện các hợp đồng.
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu.
B
ộ TH
ƯƠNG M
ạI

CÔNG TY HOá CHấT

GIáM Đ
ốc


17 Quặng cromit

Thị trường xuất nhập khẩu của công ty:
Đối với công ty thị trường xuất nhập khẩu đóng vai trò hết sức quan trọng,
nó là cơ sở để có thể xác định được quan hệ cung cầu từ đó công ty có các phương
án hoạch định kinh doanh cho phù hợp với từng mặt hàng. Song việc nghiên cứu thị
trường là vấn đề hết sức phức tạp, nó phong phú và đa dạng nên không tìm hiểu và
phân đoạn thì có thể sẽ bị lệch hướng tốn nhiều cổ phần với công ty thì công việc
chính là xuất nhập khẩu do đó việc nghiên cứu càng có ý nghĩa
Thị trường xuất khẩu: do định hướng cân đối của Bộ thương mại nên hoạt
động xuất khẩu không được trú trọng , nhưng phương hướng của công ty là sẽ tìm
ra những giải pháp để từng bước nâng cao tỉ trọng hàng xuất khẩu. Đặc biệt là
quặng cromit chỉ từ năm 1998 công ty mới được Bộ thương mại chính thức cho
phép xuất khẩu với số lượng lớn, với giá trị xuất khẩu đạt 18,6 tỉ đồng việt nam.
Nhưng đến năm 2003 giá trị xuất khẩu đạt 21 tỷ đồng việt nam. Hoạt động xuất
khẩu của công ty còn nhiều hạn chế nhưng lượng hàng xuất ra đã thu được kết qủa
đáng kể, nó đánh dấu một bước chứng tỏ rằng công ty cần phát huy thêm sức mịnh
của mình để xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc và mở rộng thị trường sang các
nước khác. Thị trường nhập khẩu:Cùng với định hướng cân đối kim nghạch nhập khẩu
của đất nước trong văn kiện Đại hội VIII của Đảng cộng sản Việt Nam, bô. thương
mại đã cho phép CHEMCO đẩy mạnh hoạt động nhập khẩu để cân đối những
nghành chỉ xuất khẩu. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là xút và sô đa. Năm 2003 khối
lượng nhập khẩu của xút là44388 tấn, sô đa là 13455 tấn. Mặc dù 2 mặt hàng này
chiếm tỷ trọng rất lớn nhưng hiệu quả kinh doanh lại không cao bằng các mặt hàng
hoá chất khác. Nhưng công ty vẫn phải coi là hai mặt hàng chính bởi vì nó cung cấp
cho tất cả các nhà máy công nghiệp ở các tỉnh phía bắc, đồng thời cũng là nhiệm vụ
mà bộ thương mại giao cho công ty. Trung Quốc là thị trường truyền thống nhập

Nguồn vốn: CHEMCO là một doang nghiệp nhà nước, từ nhiều năm trước
đây nguồn vốn nhà nước cung cấp cho công ty là rất hạn chế trong khi, nhiệm vụ
kinh doanh ngày lớn. Để có đủ nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh phải
huy động từ nhiều nguồn khác nhau như: Công ty vay ngân hàng, công ty tập trung
khai thác nguồn vốn của nhà nước, huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong công ty.

Năm Vốn cố định Vốn lưu động Lơị nhuận Nộp ngân sách
2001 6.750 11.542 1.315 8.800
2002 6.812 12.850 1.356 9.950
2003 7.050 13.210 1.415 10.085
Quý I năm 2004 7.100 13.850 1.490 10.152

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty:
(Đơn vị tính: triệu đvn)
STT

Chỉ tiêu 2001 2002 2003
1
Tổng doanh thu
246.000 250.000 259.151

2 Doanh thu thuần 244.890 245.346 256.559

3 Giá vốn hàng bán 227.364 225.600 233.857

4 Lãi tức gộp 17.525 19.740 20.462
5 Chi phí bán hàng 16.117 18.732 19.435
6 Lợi tức thuần từ HĐKD 1.048 1.021 1.122
7 Lợi tức từ HĐTC 149 131 145


do trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ hiện nay tuy đã được nâng lên nhưng
chưa đủ để đáp ứng được yêu cầu của công tác kinh doanh xuất nhập khẩu trong
thời kỳ đổi mới.
Việc thu nợ của khách hàng còn gặp nhiều khó khăn.
3. Những kiến nghị về phương hướng phát triển và giải phát tháo gỡ khó
khăn của công ty:
3.1. Kiến nghị về phát triển của công ty trong thời gian tới: Căn cứ vào các chỉ tiêu kế hoạch năm 2004 được bộ thương mại giao, căn cứ
vào đặc điểm thuận lợi, khó khăn của công ty và dự đoán khả năng phát triển của thị
trường, công ty xác định phương hướng nhiệm vụ của mình như sau
Công tác sản xuất kinh doanh: coi trọng và phát triển thị trường trong nước
củng cố và giữ vững các khu vực thị trường mà công ty đã xác lập được chổ đứng
trong những năm qua, tích cực mở rộng thị trường kinh doanh đặc biệt là thị trường
phía nam và thị trường xuất nhập khẩu để góp phần tăng doanh số bán hàng.
Giữ vững thị trường nhập khẩu lớn và ổn định là Trung Quốc, đồng thời tích
cực tìm hiểu mở rộng các thị trường mới: ASEAN, Nhật Bản, EU.
Phối hợp chặt chẽ giữa nhập đường biển với nhập qua đường biên giới Việt-
Trung, để tạo nguồn hàng đầy đủ, đồng bộ và kịp thời.
Trong mua nội, cần tăng cường bám sát cơ sở sản xuất để mua các mặt hàng
phục vụ xuất nhập khẩu như quặng crômit, than gáo dừa đủ về số lượng đảm bảo về
chất lượng và mở thêm các mặt hàng khác để tăng xuất khẩu.

Công tác bán hàng: Công ty cần tiếp tục củng cố và nâng cao chữ tín đối với
bạn hàng. Các đơn vị cần tích cực mở rộng quan hệ để tìm kiếm bạn hàng mới, tìm
hiểu nắm trắcvề triển vọng phát triển và triển vọng và khả năng thanh toán của bạn
hàng để có biện pháp xử lý thích hợp. Nghiên cứu phân công lại bạn hàng và thực
hiện chuyên môn hoá các mặt hàng chủ yếu để tăng sức cạnh tranh. Phấn đấu duy
chì được số khách hàng mua lớn và ổn định từ 65% - 70% doanh sổ bán hàng năm.

3.2.1. Điều chỉnh lại chiến lược kinh doanh
Công ty cần khẩn trương hoàn thiện chiến lược kinh doanh để đáp ứng yêu
cầu của giai đoạn mới.Tập trung vào chiến lược thị trường, chiến lược về bán hàng
và chiến lược về mặt hàng.
Về thị trường xuất khẩu, phân tích lựa chọn và xác định được thị trường mục
tiêu của công ty.Đó là thị trường trọng điểm có nhu cầu lớn, có tiềm năng lớn, có
thể làm ăn lâu dài. Hiện nay công ty đang xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc là
chính, thị trường này có nhiều tiềm năng,do đó cần cũng cố để giữ vững và mở rộng buôn bán với thị trường này. Tuy nhiên công ty cần đầu tư đủ số lượng để xâm
nhập vào thị trường Nhật Bản và sớm tiếp cận với thị trường Bắc Mỹ.
Về thị trường nội điạ :
Hiện nay, công ty đã có vị thế ở khu vực miền Bắc, cần tiếp tục cũng cố giữ
vững, sau công ty cần mạnh dạn đầu tư thâm nhập và mở rộng thị trường bán hàng
ở TP HCM và các tỉnh phía Nam, khu vực này có nhiều khu công nghiệp quan trọng
đang hoạt động có sức mua lớn hơn nhiều so với Miền Bắc.
Trong chiến lược về thị trường nội địa công ty cũng cần chuyển hướng và
nắm bắt nhanh những nhu cầu của thi trường nông nghiệp và phát triển nông thôn
nơi đang và sẽ được ưu tiên đầu tư trong tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước.
Tổ chức thông tin, dự báo và phân tích hoạt động kinh tế.
Trong xu thế thị trường luôn biến động, việc nắm bắt thông tin kịp thời và
chính xác là một nhân tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Vì vậy công
ty cần đầu tư xây dựng hệ thống thu nhập thông tin và bố trí cán bố có trình độ đảm
nhận công việc này.Cần có quan hệ thường xuyên với các trung tâm thông tin
thương mại, công ty, cố vấn, các cơ quan thương mại của Đại Sứ Quán Việt Nam
ở các nước để nhận được các tư liệu về giá cả thị trường,về tình hình các hãng
thương mại quốc tế mà công ty có quan hệ. Cần đầu tư xây dựng hệ thống thông tin
qua mạng Internet. Việc thu thập thông tin phải được xử lý để đưa ra những dự báo

và đẩy mạnh sự hợp tác nhằm khai thác nguồn vốn vay cho mình.
Tóm lại, nguồn vốn vay ngân hàng là nguồn vốn lớn và rất thuận tiện cho
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty, công ty cần không ngừng mở
rộng mối quan hệ và nâng cao uy tín của công ty nhằm tạo điều kiện cho nhu cầu
hoạt động của vốn.
Đối với những nguồn vốn “ chiếm dụng ” từ bạn hàng đây là nguồn vốn khá
hiệu quả không tốn chi phí. Để phát huy được nguồn vốn này đòi hỏi công ty cần
tạo lập mối quan hệ mật thiết đối với bạn hàng mà nhất là bạn hàng truyền thống để
công ty có khả năng thực hiện hợp đồng mua bán với phương thức mua bán thanh
toán trả chậm. Đối với nguồn vốn huy động đóng góp từ cán bộ trong công ty.Đây là nguồn
vốn không lớn nhưng cũng rất quan trọng, nó là nguồn chủ động của công ty nên
công ty cần có kế hoạch để khai thác tốt. Nguồn vốn này đòi hỏi công ty cần có
chính sách ưu đãi và khuyến khích mọi người tham gia tích cực đóng góp vốn vào
công ty.
Đi đôi với biện pháp khai thác tối đa nguồn vốn là hiệu quả sử dụng đối với
các nguồn vốn này. Đây là hai nhiệm vụ quan hệ hữu cơ với nhau.Sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn kinh doanh là điều kiện để cho công ty tiết kiệm nguồn vốn và nâng
cao hiệu quả kinh doanh của mình.
Để thực hiện việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn kinh doanh của công ty,
công ty cần phải làm tốt một số yêu cầu sau:
Xây dựng kế hoạch mua hang phù hợp:Với kế hoạch nhập khẩu hàng hoá
phù hợp với từng thời kì và khối lượng tiêu thụ giúp cho công ty sử dụng nguồn
vốn có điều độ và đặc biệt là kế hoạch huy động nguồn vốn một cách kịp thời cho
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ hành hoá, tăng nhanh vòng quay của vốn. Điều này
hạn chế ứ đọng hàng hoá trong công ty, giảm được những chi phí phát sinh không
cần thiết và nguồn vốn doanh nghiệp luôn được phát huy tác dung.

động kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty đạt hiệu quả:
3.3.1. Nhà nước nên có chính sách cụ thể, ổn định đối với từng mặt hàng
xuất nhập khẩu:
Do đó chính sách của Nhà nước về xuất nhập khẩu, vừa bảo đảm nguyên tắc
nhập khẩu, vừa khuyến khích xuất khẩu, vừa quản lý nhập khẩu đúng mức để bảo
hộ sản xuất trong nước. Thực tế trong những năm gần đây đã phát sinh không ít
trường hợp Nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
đến mức gây cản trở cho họ. Ngược lại, có nhiều trường hợp Nhà nước lại buông
lỏng quản lý gây lộn xộn trong kinh doanh xuất nhập khẩu và nhập khẩu làm thiệt
hại lợi ích của từng đơn vị kinh tế cũng như lợi ích chung của Nhà nước. Chẳng hạn trong thời gian qua, do chính sách của Nhà nước ta về bảo hộ sản
xuất trong nước nên việc cấp hạn ngạch cho các đơn vị cùng vào thời điểm, khi
được cấp hạn ngạch thì lúc này ở thị trường ngoài nước có sự biến động lớn thì chủ
yếu hàng nhập khẩu của các công ty nước ta ở thị trường nước ngoài gần như giống
nhau, khi đó hàng nhập khẩu về cùng lượng lớn cho nên việc tiêu thụ ở thị trường
trong nước rất khó khăn. Vì vậy việc thu thuế của Nhà nước cũng bị ảnh hưởng và
lợi nhuận của công ty cũng bị giám sát.
3.3.2. Trong công tác quản lý về xuất khẩu cần tránh thủ tục rườm rà,
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ký kết hợp đồng:
Cho đến nay mặc dù Nhà nước đã có nhiều cố gắng để dần hoàn thiện cơ chế
quản lý xuất nhập khẩu nhưng vẫn còn nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan,
việc tinh giảm ngay lập tức cơ cơ quan quản lý là hết sức cần thiết, theo thống kê
chưa đầy đủ của các cơ quan quản lý hoạt động xuất nhập khẩu có tới 16 cơ quan từ
trung ương đến địa phương (thuế có 4 cơ quan) tạo thành mạng lưới chằng chịt,
buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của các cơ quan quản lý và nhiệu
các quy định chồng chéo khác, thậm chí các cơ quan quản lý lấn át lẫn nhau. Đồng
thời dần dần hoàn thiệ luật quản lý xuất nhập khẩu, tránh tình trạng công ty phải
chạy hết cơ quan này đến cơ quan khác làm cho công tác kinh doanh xuất nhập

của mỗi doanh nghiệp, mỗi một thay đổi nhỏ của tỷ giá hối đoái đều dẫn tới sự thay
đổi lớn trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Nhà nước cần theo dõi chặt chẽ và phân tích kỹ những thay đổi trong tỷ giá
hối đoái và có kế hoạch tác động vào chúng sao cho chúng thay đổi theo hướng có
lợi nhất cho nền kinh tế và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu luôn luôn được ổn định và ngày một đạt hiệu quả cao hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status